Tiểu thuyết lịch sử gió lửa Nam Dao (luan van - bản chính) - Pdf 39

TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ GIÓ LỬA
CỦA NAM DAO
1. Tên đề tài:
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ GIÓ LỬA CỦA NAM DAO
2. Lý do chọn đề tài
Tiểu thuyết lịch sử là thể loại tiểu thuyết mới xuất hiện và được chú ý
nhiều trong thế kỷ XX. Trong những năm vừa qua đề tài lịch sử luôn thu hút sư
chú ý khám phá của nhiều thế hệ nhà văn cũng như độc giả. Nhìn lại nền văn
học nước nhà có thể thấy, tiểu thuyết lịch sử đã có những đóng góp đáng kể
trong sư phát triển của văn xuôi dân tộc.
Chúng ta đã từng biết đến những bộ tiểu thuyết: Nam triều công nghiệp
diễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm), Thiên Nam liệt truyện (Bản dịch của Nguyễn
Thị Thảo), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du), Hoàng Việt
Long hưng ky (Ngô Giáp Đậu), Việt Nam tiểu sư (Lê Hoan), Trùng Quang
tâm sư (Phan Bội Châu)… Đó là những bộ tiểu thuyết viết bằng chữ Hán được
nhiều người chú ý. Trong những bộ tiểu thuyết ấy, Hoàng Lê nhất thống chí
được đánh giá là đỉnh cao của thể lại này.
Bước sang nửa đầu thế kỷ XX, nền văn học chứng kiến sư nở rộ của tiểu
thuyết lịch sử viết bằng chữ Quốc ngữ với những tác phẩm có giá trị: Tiếng
sấm đêm đông, Hai bà đánh giặc, Lê Đại Hành, Vua Bố Cái, Việt Thanh
chiến sư… (Nguyễn Tử Siêu), Lịch sư Đề Thám, Vua Tây – Chúa Nguyễn
(Ngô Tất Tố), Bà chúa chè, Loạn kiêu binh… (Nguyễn Triệu Luật), Vua
Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ (Ngô Tất Tố), Đêm hội long trì, An
tư… (Nguyễn Huy Tưởng).
Thập kỉ 60, 70 của thế kỉ XX, tiểu thuyết lịch sử đánh dấu sư trở lại với
những cây bút đầy tâm huyết: Chu Thiên với Bóng nước hồ Gươm, Thái Vũ
với Cờ nghĩa Ba Đình… Tác phẩm được chú ý và có nhiều dư âm: Lá cờ thêu
sáu chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung của Nguyễn Huy Tưởng.
1




sử dân tộc. Khi đánh giá về tác phẩm, tuy có nhiều ý kiến nhưng hầu hết các
nhà nghiên cứu đều thể hiện một cái nhìn cởi mở và sư nhiệt tình đón nhận đối
với tiểu thuyết lịch sử này. Tác phẩm không chỉ có những đóng góp vào sư phát
triển của thể loại mà còn góp tiếng nói vào sư phát triển của nền văn xuôi nước
nhà. Vì vậy tìm hiểu Gió lưa, chúng ta không chỉ thấy được thành tưu phát
triển của thể loại tiểu thuyết lịch sử qua một trường hợp thành công mà còn
thấy được những đóng góp có giá trị của tiểu thuyết lịch sử vào sư phát triển
của văn xuôi dân tộc.
3. lịch sử vấn đề.
3.1. Sơ lược những ý kiến đánh giá về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam trước và sau
đổi mới.
Luận án tiến sĩ Tiểu thuyết lịch sư Việt Nam từ những năm đầu thế
kỷ XX đến 1945, dưới sư hướng dẫn của GS. Nguyễn Đình Chú, tác giả Bùi
Văn Lợi đã có những đánh giá khái quát về thành tưu của thể loại tiểu thuyết
lịch sử trong giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1945.
Đoàn Thị Hương trong bài Đọc Tổ quốc kêu gọi suy nghĩ về vấn đề
khám phá và sáng tạo trong tiểu thuyết lịch sư đã đề cập tới những phương
diện mới: sư kết hợp tinh thần nghiên cứu lịch sử nghiêm túc với sư sáng tạo
nghệ thuật tương đối linh hoạt, sư vận dụng sử liệu một cách chủ động, sư sáng
tạo hình tượng ở tiểu thuyết lịch sử.
Trần Vũ trong bài viết Lịch sư trong tiểu thuyết, một tùy tiện y thức
đã đặt ra những câu hỏi khá bức xúc: tại sao tiểu thuyết phải y chang như thật
vậy? Nhà văn, anh tìm thấy gì? Và có gì để trình bày với nhân loại. Những vấn
đề trên được đặt ra không phải mới với thể loại tiểu thuyết nói chung nhưng với
tiểu thuyết lịch sử lại là những vấn đề khiến nhiều người phải tranh cãi.
Trong bài viết Quan niệm về lịch sư trong tiểu thuyết của Nguyễn
Xuân Khánh, ThS. Đỗ Hải Ninh đã có những đánh giá cũng như những lí giải
khá thuyết phục về việc sử dụng lịch sử như một phương tiện để truyền tải tư
3

4


xử và sư thích đáng của một mô hình tâm lý xã hội trong tác phẩm”. Đó là
những gợi mở ban đầu cho chúng ta cái nhìn mới về tiểu thuyết lịch sử Gió lưa.
Cuộc thảo luận giữa Nam Dao và Nguyễn Mộng Giác về tiểu thuyết lịch
sử đăng trên trên tạp chí Văn Học, số 197 năm 2002, đã gợi mở cho chúng ta
những hướng tiếp cận khá cụ thể về tiểu thuyết Gió lưa cũng như những tiểu
thuyết lịch sử khác. Bên cạnh việc đưa ra nhưng quan niệm riêng của nhà văn
về vấn đề lịch sử được sử dụng trong tác phẩm, Nam Dao đã khẳng định: “nay
xin nói thêm về việc xây dưng tiểu thuyết lịch sử: Trong Gió Lưa, cái khung
lịch sử đã được sử dụng như phương tiện cấu tạo tiểu thuyết, và sau đó thì tiểu
thuyết lại là phương tiện để tác giả thể hiện những tư duy, biện minh và dư
phóng cho chủ đề trên lịch sử (Gió Lưa nhằm giải thích một trong những
nguyên nhân của cuộc nội chiến là cái tương quan giữa con người Việt Nam và
quyền lưc), tìm cách đến với độc giả, thuyết phục họ, nếu không được thì
quyến rũ, khích động suy tư, gây ra những nghi vấn để tạo cái nhu cầu xét lại
những điều tưởng đã là “đinh đóng cột” cho độc giả, không chỉ bằng và qua lý
luận, mà vận dụng tất cả, từ cảm xúc đến trưc giác, thậm chí từ những yếu tố
siêu linh đến những cái ta thường gọi là mê tín dị đoan, nghĩa là bằng tổng hợp
những chất người, thứ chỉ tiểu thuyết mới chuyên chở nổi.” Như vậy tác giả đã
chỉ rõ rằng Gió Lưa sử dụng lịch sử như là một phương tiện để cấu tạo nên tiểu
thuyết và tiểu thuyết lại là một phương tiện để chuyên chở những tư tưởng, suy
tư, chiêm nghiệm của tác giả đến với người đọc. Vấn đề mà tác giả đem đến
với độc giả trong Gió Lưa phải chăng là mối quan hệ giữa người Việt Nam và
quyền lưc, bên cạnh đó là nguy cơ chia rẽ dân tộc vẫn đang tiềm ẩn sâu trong
tâm thức con người.
Như vậy chúng ta có thể thấy Gió Lưa là tác phẩm có giá trị không chỉ
về nghệ thuật mà còn chứa đưng những vấn đề có tính thời sư. Nghiên cứu tác
phẩm có thể đem đến cho chúng ta cái nhìn mới về sư phát triển thể loại tiểu

3. Khái quát xu hướng tiểu thuyết lịch sử trong văn học Việt Nam từ đổi
mới.
6


Chương 2: Lựa chọn và khai thác đề tài lịch sư trong tiểu thuyết Gió Lưa.
1. Quan niệm viết tiểu thuyết lịch sử của tác giả Nam Giao khi viết Gió
Lửa.
2. Đặc sắc trong lưa chọn giai đoạn lịch sử.
3. Tái hiện lịch sử và khám phá những vấn đề từ lịch sử.
4. Vấn đề số phận cá nhân trong những xung đột lịch sử.
Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết lịch sư.
1. Nhân vật.
2. Kết cấu.
3. Nghệ thuật trần thuật.

7


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THUYẾT
LỊCH SỬ Ở VIỆT NAM
1. Một số quan niệm về tiểu thuyết lịch sư:
Tiểu thuyết lịch sử là loại tiểu thuyết lấy các sư kiện, biến cố lịch sử làm
đề tài. Nói cách khác, đây là một phân loại nhỏ chia theo đề tài của thể loại tiểu
thuyết. Trong những năm gần đây, tiểu thuyết lịch sử đã được sư chú ý của các
nhà văn cũng như nhà nghiên cứu. Tuy nhiên xung quanh thể loại tiểu thuyết
vẫn còn nhiều vấn đề gây tranh cãi.
Tiểu thuyết lịch sử xuất hiện khá sớm xong chưa có một khái niệm cụ

lịch sử có quyền lưa chọn một giai đoạn lịch sử của một quốc gia dân tộc làm
tiêu điểm để phản ánh. Các nhân vật lịch sử trong giai đoạn ấy có thể được nhà
văn hư cấu, tưởng tượng tuy nhiên vẫn phải dưa trên những sử liệu xác thưc để
tôn trọng tính chân thưc của thể loại.
Cụ thể hơn Trần Nghĩa trong Tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam đã viết:
“Tiểu thuyết lịch sử cũng gọi là “lịch sử diễn nghĩa” gồm tác phẩm viết về đề
tài lịch sử thông qua việc miêu tả nhân vật và sư kiện, tái hiện một cách nghệ
thuật diện mạo xã hội và xu thế phát triển của lịch sử một thời, nhằm mang lại
cho người đọc những khơi gợi bổ ích và mĩ cảm văn học. Về phương diện bút
pháp, một mặt phải dưa vào lịch sử, nhưng mặt khác vẫn cho phép hư cấu trong
chừng mưc thích hợp, nhằm phát huy trí tưởng tượng làm cho sư thưc lịch sử
được thăng hoa thành chân thưc nghệ thuật” […, tr 34]. Quan niệm này không
chỉ cho chúng ta một cách hiểu khái quát mà còn chỉ rõ phương thức phản ảnh
đặc trưng được sử dụng trong tiểu thuyết lịch sử. Đó chính là việc tái hiện một
cách nghệ thuật diện mạo xã hội và xu thế phát triển của lịch sử một thời thông
qua việc miêu tả nhân vật và sư kiện lịch sử. Việc miêu tả và tái hiện đó không
nhất thiết phải chính xác như lịch sử vốn có. Nhà tiểu thuyết có quyền hư cấu
trong một chừng mưc nhất định để đem đến mĩ cảm nghệ thuật cho người tiếp
9


nhận. Đây là một đóng góp có ý nghĩa bổ sung, hoàn thiện cho các quan niệm
trước đây về tiểu thuyết lịch sử.
G.Lukacs nhà tiểu thuyết lịch sử người Hunggary đã khẳng định: “Tiểu
thuyết lịch sử về nguyên tắc không khác gì tiểu thuyết thông thường những
phải thể hiện sư vĩ đại của con người trong lịch sử với những khả năng của tiểu
thuyết nói chung” (Lukacs, Từ văn bản đến tác phẩm văn học (Trương Đăng
Dung dịch), Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, 1998). Nhận định này đòi hỏi tiểu
thuyết phải thể hiện được tầm vóc của con người lịch sử đồng thời phải giữ
được những đặc trưng của tiểu thuyết qua khả năng phản ánh cuộc sống của nó.

sư kiện và nhân vật mà coi trọng sư khám phá đời sống con người trong nhân
vật lịch sử. Đó là những điều riêng tư thầm kín chứ không phải là sư liệt kê
chiến công đã được lưu trong sử sách.
Nhà sử học luôn chú trọng sư đầy đủ, độ chính xác, chân thưc đến tuyệt
đối của từng sư kiện, tường nhân vật lịch sử . Điều đó có nghĩa là nhà sử học để
ý đến đúng sai, chân giả của từng chi tiết để chép một cách chính xác các sư
kiện cũng như phản ánh đúng nhất về cách nhân vật lịch sử từ đó để tư các chi
tiết, nhân vật ấy nói lên ý nghĩa lịch sử. Nhà văn lại thông qua việc tái hiện lại
các nhân vật, sư kiện lịch sử ở nhưng khía cạnh đời thường, chi tiết, những khía
cạnh mà sử học chưa có điều kiện quan tâm đến nhằm đem lại những ý nghĩa
mới, cách nhìn mới đối với từng sư kiện, nhân vật lịch sử qua đó mà rút ra
những quan niệm, suy ngẫm về cuộc đời, về con người. M. Kundera đã chỉ ra
rất chính xác sư khác biệt tinh tế giữa nhà sử học với nhà viết tiểu thuyết lịch
sử. Ông nhận định: “nhà sử học kể lại với anh các sư kiện đã xảy ra”, nhà tiểu
thuyết “nắm bắt một khả năng cuộc sống – khả năng của con người và thế
giới”. Nhà sử học do phải tôn trọng sư thưc lịch sử không thể viết một sư thưc
trong sư phỏng đoán. Sư thưc lịch sử dưới cái nhìn của nhà sử học chỉ có thể
xảy ra như nó vốn có. Nhà tiểu thuyết nhìn hiện thưc lịch sử dưới lăng kính chủ
quan của cá nhân, trong những phỏng đoán, ước định riêng vì vậy hiện thưc
lịch sử hiện lên trong tính khả biến của nó, nghĩa là luôn biến đổi. Nó có thể
11


xảy ra theo nhiều hướng khác nhau trong sư phỏng đoán, tranh cãi, dư phóng
của nhà văn. Chức năng của nhà tiểu thuyết là “tách rời những khung cửa sổ
tràn ngập ánh sáng của chính sử luôn che đậy những vũng tối ẩm thấp ra khỏi
ngôi nhà hoang vắng nhưng rất nhiều mồ mả để tìm hiểu phản ứng tâm ly của
con người khi không còn nắng. Chức năng ghi nhận những kinh nghiệm nhân
loại mà sử gia không quan tâm hay không thấy giá trị. Chức năng làm ngã bổ
những định kiến chắc chắn, chính thống, làm sụp đổ những khái niệm vĩnh

Một vấn đề cũng gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu là vấn đề
nhân vật trong tiểu thuyết lịch sử. Chúng ta biết rằng nhân vật trong tiểu thuyết
lịch sử theo quan niệm truyền thống đó là những người anh hùng, những danh
nhân lịch sử. Họ là những con người có tầm vóc, là những “khuôn vàng, thước
ngọc”. Vấn đề đặt ra là khi đi vào tiểu thuyết lịch sử những con người ấy sẽ
được phản ánh như thế nào. Những người anh hùng ấy sẽ vẫn được phản ánh
như những chân dung lịch sử, những con người được đặt trên bảng vàng giá trị?
Hay họ sẽ bị kéo lại gần với “cái nhìn tiểu thuyết”, cái nhìn đời thường? Nhân
vật tiểu thuyết có quyền tra vấn lại chính mẫu hình lịch sử được nhà văn vận
dụng để xây dưng lên nó hay không? Đặc biệt một câu hỏi khiến nhiều người
chú ý là: liệu nhà tiểu thuyết có quyền hư cấu, sáng tạo nhân vật lịch sử hay
không?
Tiểu thuyết lịch sử khác với các thể loại tiểu thuyết khác ở đối tượng và
cách tiếp cận đời sống. Lấy lịch sử như một “công cụ” để lí giải và tiếp cận
cuộc sống, tiểu thuyết lịch sử đem đến cho con người một cách tiếp cận và lí
giải về con người mới. Dưới ngòi bút của nhà sử học và nhà tiểu thuyết, nhân
vật lịch sử hiện lên không đồng nhất thậm chí mang những giá trị trái ngược.
Điều đó là do góc độ và quan niệm tiếp nhận. Nhà sử học nhìn những nhân vật
lịch sử từ góc độ danh nhân, anh hùng trong các biến cố, sư kiện lịch sử. Những
danh nhân, anh hùng ấy được cả cộng đồng dân tộc tôn thờ, ngưỡng vọng bởi
những công lao to lớn và những đóng góp không nhỏ vào sư hưng thịnh, tồn
vong của dân tộc. Nhà tiểu thuyết lại nhìn các nhân vật lịch sử ấy dưới cái nhìn
13


tiểu thuyết đời thường. Họ đặt các nhân vật ấy trong vô vàn các mối quan hệ
của đời sống từ đó đem đến một cái nhìn gần gũi, thậm chí mang tính “giải
thiêng”.
Tôn trọng lịch sử là yêu cầu cao nhất đối với nhà tiểu thuyết nhưng hư
cấu cũng là yêu cầu tất yếu của sáng tạo nghệ thuật. Chúng ta phải thấy rằng,

Vấn đề hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử đã được nhiều nhà văn cũng như
các nhà nghiên cứu thừa nhận. Hư cấu là một đặc quyền của người viết tiểu
thuyết tuy nhiên tiểu thuyết lịch sử lại yêu cầu phải đảm bảo tính chân thưc của
thể loại. Nhà tiểu thuyết có quyền hư cấu trong tác phẩm tuy nhiên hư cấu đến
đâu và hư cấu như thế nào để vẫn giữ được đặc trưng của thể loại và tính chân
thưc của lịch sử là một vấn đề không đơn giản.
Nhà tiểu thuyết lịch sử người Pháp Alexandre Duymas cho rằng: “tiểu
thuyết lịch sử có quyền hiếp dâm quá khứ miễn là cho ra đời những đứa con
đẹp” [Hoài Nam (17/10/2008), Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam: truyện kể hay tiểu
thuyết. Nguồn Vietnam.net]. Ông coi lịch sử “chỉ là cái đinh” để nhà văn treo
lên những bức họa nghệ thuật, nói cách khác đối với nhà văn lịch sử chỉ là
phương tiện để từ đó nhà văn xây dưng những tác phẩm của mình. Đã coi lịch
sử như một phương tiên nghệ thuật, nhà văn sẵn sàng “mổ xẻ”, biến đổi nó sao
cho phù hợp với ý đồ và tư tưởng nghệ thuật của mình miễn sao thuyết phục
được người đọc tin rằng điều đó có thể đã xảy ra. Đồng quan điểm với
Alexandre Duymas, nhà tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng của Hà Lan Hella
S.Haasse nhấn mạnh: “chủ đích của tôi không bao giờ lấy việc tái hiện quá khứ
làm nhiệm vụ hàng đầu. Trong văn học đề tài lịch sử là một phương tiện chứ
không phải là một cứu cánh”. [Phan Cư Đệ (2002), Tiểu thuyết lịch sử trong
quan niệm của Helle S.haasse, Tạp chí Văn học số 3]. Nhà Văn Nguyễn Xuân
Khánh khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Văn nghệ trẻ (10/2005), đã
nói: “Theo tôi lịch sử chỉ là cái cớ để tôi bám vào… tiểu thuyết lịch sử không
phải là kể lại lịch sử, minh họa lịch sử mà là phản ánh những vấn đề của con
người hiện tại”. Lịch sử là cái đã qua nhà tiểu thuyết không phải là người minh
15


họa lại lịch sử. Nhà văn chỉ sử dụng lịch sử như một phương tiện để từ đó nhà
văn sáng tạo, truyền tải những tư tưởng và triết lí của minh đối với cuộc sống
và con người. Từ những câu chuyện lịch sử, nhà văn biến đổi nó, kể một câu

luôn là nhu cầu của sáng tác” [Trần Vũ, Tiểu thuyết lịch sử một tùy tiện ý
thức]. Am hiểu kiến thức lịch sử chính là nền móng vững chắc để nhà tiểu
thuyết xây dưng lên những tượng đài nghệ thuật mang tính dư phóng của mình.
Người viết tiểu thuyết lịch sử nếu không am hiểu lịch sử dễ đưa đến cho người
đọc những kiến giải sai lệch, dẫn dắt người đọc đến những giả thuyết mơ hồ
không chân thưc. Từ những am hiểu lịch sử, nhà văn đặt ra những giả thuyết,
những kiến giải của cá nhân về lịch sử để đem đến cho người đọc cái nhìn mới
về lịch sử cùng những liên hệ với hiện tại.
2. Điểm qua sự phát triển của tiểu thuyết lịch sư trong văn học Việt Nam.
Nhìn lại chặng đường phát triển của văn học dân tộc, chúng ta thấy rằng
tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đã có những đóng góp không nhỏ vào sư phát triển
của văn xuôi nước nhà. Trải qua một chặng đường thăng trầm với nhiều thành
tưu đáng ghi nhận, tiểu thuyết lịch sử, đi từ tiểu thuyết viết bằng chữ Hán đến
tiểu thuyết viết bằng chữ Quốc ngữ, cho thấy sư phát triển liên tục gắn liền với
sư phát triển của nền văn học dân tộc.
Đóng góp đầu tiên của tiểu thuyết lịch sử vào sư phát triển của văn học
dân tộc phải kể đến những tác phẩm viết bằng chữ Hán: Nam triều công nghiệp
diễn chí, Thiên Nam liệt truyện, Hoàng Lê nhất thống chí, Hoàng Việt long
hưng chí, Việt Lam tiểu sử, Trùng Quang tâm sử. Những tác phẩm trên được
đánh giá là “đỉnh cao và là một đỉnh cao xuất sắc, ghi dấu thành công của thể
loại” [TS. Lại Văn Hùng, Vạn Xuân, Hồ Quí Ly trên nền tiểu thuyết lịch sử].
Mặc dù vẫn chịu ảnh hưởng từ tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc, các tác
phẩm giai đoạn này đã thể hiện bước đi đầu tiên mạnh mẽ, hấp dẫn của tiểu
thuyết lịch sử Việt Nam. Sư trưởng thành và phát triển của tiểu thuyết lịch sử
được thể hiện rõ nét từ nội dung đến hình thức của tác phẩm. Tất cả hiện thưc
ngổn ngang, nhiều vẻ của các sư kiện kết thúc năm Chính Hòa thứ 10 (1689)
17


được tác giả Nguyễn Khoa Chiêm phản ánh hấp dẫn qua những trang viết của


được nền móng khá vững chãi trong dòng văn học dân tộc. Tuy nhiên để nó trở
thành một thể loại đặc trưng với lối viết chuyên biệt phải đợi đến sư xuất hiện
của các tác giả: Chu thiên, Nguyễn Huy Tưởng, Ngô Văn Phú… Tác phẩm Bà
Quận Mỹ của Chu Thiên đưa ra một hướng khai thác đề tài lịch sử mới đó là
vấn đề trai tài, gái sắc trước những va đập quyền lưc và nhân tâm đen tối.
Thành công đáng ghi nhận của Chu Thiên phải kể đến tiểu thuyết lịch sử Bóng
nước Hồ Gươm. Tác phẩm đã chứng tỏ sư hiểu biết sâu sắc về Hà Nội cổ, về
hoàn cảnh lịch sử giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX. Trên khung cảnh cuộc xâm
lược của thưc dân Pháp, nhà văn sáng tạo ra cả một hệ thống nhân vật đa dạng,
nhiều tầng lớp, nhiều loại người, nhiều chủng tộc, nhiều tông giáo xoay quanh
hệ thống nhân vật chính là tầng lớp sĩ phu. Bóng nước Hồ Gươm được đánh giá
là cuốn tiểu thuyết “khá toàn bích trên phương diện phản ánh nghệ thuật” [Lại
Văn Hùng, Vạn Xuân, Hồ Quí Ly trên nền tiểu thuyết lịch sử; Nhìn lại Văn học
Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2002]. Tác phẩm đã có
sư kết hợp hài hòa giữa miêu tả sư kiện và phản ánh nhân vật. Đây là một thành
công đáng ghi nhận trên con đường hoàn thiện tiểu thuyết lịch sử Việt Nam.
Nguyễn Huy Tưởng cũng là cây bút tiểu thuyết gây nhiều chú ý. Ông đã đóng
góp cho tiểu thuyết lịch sử hai tác phẩm đặc sắc: Đêm hội Long Trì và An Tư.
Thành công đáng ghi nhận đối với sư phát triển của tiểu thuyết lịch sử là ở tác
phẩm Đêm hội Long Trì. Tác phẩm đã xây dưng được điển hình văn học qua
việc xây dưng hình tượng Đặng Mậu Lân, một điển hình của lưu manh “cung
đình”. Qua hình tượng Đặng Mậu Lân tác giả bày tỏ thái độ và quan niệm của
nghệ sĩ về cái đẹp, cái đẹp bao giờ cũng đòi hỏi phải có tri kỷ. Đến đây có thể
nói, tiểu thuyết lịch sử đã có chỗ đứng khá vững chắc bên cạnh các thể loại
khác. Các tác phẩm đã vượt thoát khỏi dấu vết của tiểu thuyết cổ, ý thức người
viết tiểu thuyết bộc lộ ngày càng rõ nét trong tác phẩm. Lịch sử trong tác phẩm
không còn là trọng tâm mà chuyển dần thành khung sườn cho hư cấu và sáng
tạo. Các nhân vật hiện lên trong tác phẩm ngày càng sống động, chân thưc và
20

21


chương hồi trước đó mà đã được các nhà văn thay đổi ít nhiều. Chẳng hạn các
tác giả không đặt ra các “hồi” mà gọi là “chương”, cũng không sử dụng các câu
mở đầu đối ngẫu và các mẫu lời dẫn và lời kết mở như tiểu thuyết chương hồi
cổ điển. Tuy vậy chúng ta vẫn nhân ra đặc chưng của tiểu thuyết chương hồi
qua lối kể chuyện và cách dẫn dắt, sắp xếp các sư việc, hiện tượng. Nhà văn
tiêu biểu cho xu hướng này là Ngô Văn Phú, tác giả nổi tiếng của những cuốn
tiểu thuyết lịch sử như: Ngôi vua và những chuyện tình, Người đẹp ngậm oan,
Tuyên phi họ Đặng, Gươm thần vạn kiếp… Trong các tác phẩm của Ngô Văn
Phú, người đọc dễ nhận ra lối kể chuyện mang phong cách tiểu thuyết chương
hồi cổ điển. Các sư việc và hiện tượng lịch sử được tác giả tuần tư tái hiện một
cách khách quan, rất ít sư kiện có sư can thiệp của người viết. Một tác giả khác
tuân thủ khá nghiêm ngặt mô hình tiểu thuyết chương hồi là nhà tiểu thuyết Lê
Đình Danh. Bộ tiểu thuyết Tây Sơn bi hùng truyện của ông mặc dù cũng chỉ đặt
ra các “chương” chứ không gọi là “hồi” nhưng ở đầu mỗi chương, tác giả vẫn
đặt hai câu văn đối ngẫu như tiểu thuyết chương hồi cổ điển. Vẫn sử dụng lối
chuyển đoạn của tiểu thuyết chương hổi, tuy nhiên thay vì dùng các câu quen
thuộc như “lại nói…”, “một hôm…” để chuyển “hồi”, tác giả đã thay đổi bằng
những câu khác cho có sắc thái riêng. Chẳng hạn, tác giả thường sử dụng cụm
từ mào đầu: “nói về…”, “một hôm…” để chuyển tiếp sang sư kiện khác. Tìm
hiểu các tác phẩm theo xu hướng này có thể thấy, hư cấu không phải là trọng
tâm của người viết. Các tác giả theo xu hướng này cố gắng tái hiện tuần tư các
sư kiện lịch sử một cách khách quan. Các sư kiện và nhân vật vì vậy sẽ được
tác giả để cho tư thể hiện tinh thần, ý nghĩa lịch sử qua cách miêu tả, bối cảnh
và diễn biến tuyến tính của các sư kiện lịch sử. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết hiện
lên qua giọng văn kể chuyên ở ngôi thứ ba và những lời đối thoại giữa các nhân
vật. Điều này có điểm mạnh là khiến cho các sư kiện và hành động của nhân
vật hiện lên rõ nét và sống động qua trí tưởng tượng của bạn đọc. Tuy nhiên,

bài học cụ thể được rút ra từ các sư kiện và nhân vật trong tác phẩm. Tuy nhiên
cũng vì đặt mục đích giáo huân lên quá cao mà nhiều khi tác phẩm trở lên duy
23


ý trí. Đặc biệt việc diễn tả suy nghĩ và hành động của nhân vật nhiều khi trở lên
giản đơn, thiếu sống động. Đoạn diễn tả hành động Huyền Trân đồng ý nhận
lời lấy vua Chiêm Thành Chế Mân trước gợi ý của vua cha Nhân Tôn thể hiện
rất rõ hạn chế này. Trước một vấn đề hệ trọng, liên quan đến hạnh phúc cả đời
người con gái mà tác giả Hoàng Quốc Hải để cho nhân vật suy nghĩ một cách
đầy lí trí và quá đơn giản để đi đến chấp thuận chỉ trong hơn nửa trang sách.
Chúng ta không hề nhận thấy những diễn biến tâm lý phức tạp của Huyền Trân
về số phận cá nhân trước một vấn đề trọng đại. Trong suy nghĩ của mình,
Huyền Trân đã tư nguyện nhận làm sứ giả cứu tinh cho vận mệnh đất nước mà
không hề băn khoăn cho số phận cá nhân mình. Như vậy có thể thấy tiểu thuyết
lịch sử giáo huấn về cơ bản vẫn đặt lịch sử làm trọng tâm phản ánh. Tôn trọng
sư thưc lịch sử là tiêu chí mà các tác giả đặt lên hàng đầu. Ưu điểm của các tác
phẩm theo xu hướng này là đã đem đến cho người đọc sư am hiểu sâu sắc lịch
sử dân tộc cùng với những bài học sinh động về đạo đức, nhân tình, thế thái…
Tuy nhiên việc lệ thuộc quá chặt chẽ vào sư thật lịch sử khiến cho nhà văn gặp
hạn chế trong việc phát huy vai trò của nghệ thuật hư cấu. Có lẽ vì vậy mà tác
phẩm vẫn chưa thưc sư thỏa mãn được nhu cầu thưởng thức của độc giả. So với
tiểu thuyết lịch sử chương hồi khách quan, tiểu thuyết lịch sử giáo huấn về cơ
bản vẫn tuân thủ việc triển khai câu truyện theo thời gian tuyến tính. Như vậy
có thể thấy trong việc cải tiến lối viết, tiểu thuyết lịch sử giáo huấn chưa thưc
sư có những cải tiến vượt trội.
Sau đổi mới, văn học có được tiếng nói thật sư cởi mở. Cùng với sư mở
rộng chủ đề và phạm vi phản ảnh, cảm hứng trong các sáng tác thời kỳ này
cũng có nhiều thay đổi. Cảm hứng ngợi ca một chiều không còn giữ vai trò độc
tôn trong sáng tác. Bên cạnh đó là cảm hứng phê phán, xét lại đối với những

điểm đáng chú ý nữa là về nhân vật kể chuyện. Lần đầu tiên chúng ta thấy xuất
hiện người kể chuyện xuất hiện ở ngôi thứ nhất trong tiểu thuyết lịch sử. Tác
giả nhập vào nhân vật nhân vật Hồ Nguyên Trừng và xưng ở ngôi thứ nhất xưng “tôi”. Việc nhập vai này có tác dụng giúp tác giả nói được những điều cần
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status