LỜI MỞ ĐẦU
John Maynard Keynes được công nhận là một nhà kinh tế lỗi lạc vì đã hình
thành và kết hợp những lý thuyết kinh tế trong đời sống linh hoạt về ngoại giao, tài
chánh, ký giả và nghệ thuật của mình. Học thuyết của ông có sức ảnh hưởng rất lớn
đối với việc lãnh đạo, quản lý nền kinh tế và được công chúng biết đến rất nhiều.
Còn Milton Friedman được xem đối thủ nổi tiếng và nặng ký nhất đối với học
thuyết Keynes, là đại diện tiêu biểu nhất của trường phái trọng tiền hiện đại.
Như vậy, để tìm hiểu rõ hơn vì sao lý thuyết trọng tiền được xem là đối thủ
nổi tiếng của học thuyết Keynes, chúng ta sẽ đi vào nghiên cứu nội dung lý thuyết
cũng như những điểm khác biệt với học thuyết Keynes, từ đó rút ra bài học kinh
nghiệm cho nước ta trong điều hành, quản lý nền kinh tế.
Trang 1
ẹe taứi thuyeỏt trỡnh
I/- HOC THUYấT TRONG TIấN HIấN AI MY
1/- Hoan canh ra i va phng phap luõn
Lch s kinh t hc th k 20 cú chỳt gỡ ú ging vi lch s C-c giỏo th
k 16. Mói cho ti khi John Maynard Keynes xut bn tỏc phm Lý thuyt tng
quỏt v lao ng, lói sut v tin t vo nm 1936, kinh t hc - ớt ra l trong cỏc
nc núi ting Anh hon ton b t tng chớnh thng v th trng t do thng
tr. Nhng t tng khỏc bit ụi khi cng xut hin, nhng luụn b ln ỏt. Kinh t
hc c in, theo nh Keynes vit nm 1936, thng tr hon ton nc Anh ging
ht nh Tũa ỏn D giỏo thng tr Tõy Ban Nha. V kinh t hc c in tuyờn b
rng li gii cho hu ht cỏc vn l c mc mi vic di cỏc tỏc ng ca
cung v cu.
Nhng kinh t hc c in ó khụng cú li gii thớch cng nh a ra c
bin phỏp gii quyt cuc i Suy thoỏi. n gia nhng nm 30, nhng thỏch thc
t ra vi kinh t hc chớnh thng khụng cũn kỡm nộn lõu hn c na. Keynes ó
úng vai trũ ca Martin Luther, mang n cho nhng t tng d bit s nghiờm cn
và sau đó giảng dạy tại Đại học Chicago. Năm 1967 ông là chủ tịch hội kinh tế Mỹ.
Các tác phẩm nổi tiếng như: Nghiên cứu về lý thuyết số lượng tiền tệ (1956), Lịch
sử tiền tệ Hoa Kỳ 1867 – 1960 (1963). Ông đạt giải Nobel năm 1976, là một trong
những nhà kinh tế có ảnh hưởng nhất trong nửa sau của thế kỷ 20, vừa từ trần ngày
16 tháng 11 năm 2006.
Cùng với những nhà kinh tế vĩ đại nhất của thế kỷ XX, như John Maynard
Keynes, Joseph Alois Schumpeter, hay Friedrich von Hayek, Milton Friedman đã
để lại một di sản không gì thay thế được trong toà lâu đài nguy nga của kinh tế học
hiện đại.
Những cống hiến của ông về lý thuyết, lịch sử và chính sách tiền tệ, về lý
thuyết tiêu dùng, lạm phát và thất nghiệp, về triết lý tự do kinh tế, không chỉ có ảnh
hưởng lâu dài trong giới hàn lâm, mà còn phủ bóng lên cuộc sống kinh tế hàng ngày
của quảng đại quần chúng, và đặc biệt là vẫn đã và đang định hình nên tư tưởng của
nhiều thế hệ trên khắp thế giới.
Friedman được sinh ra trong một gia đình Do Thái nhập cư từ Đông Âu. Khi
cậu bé Milton được hơn một tuổi, gia đình chuyển đến Rahway, một thị trấn nhỏ ở
Trang 3
ẹe taứi thuyeỏt trỡnh
phớa bc bang New Jesey. L con trai ỳt v duy nht trong bn ch em, cu ln lờn
trong tui th nghốo khú. C nh Milton sng da vo mt ca hng tp hoỏ nh,
trong hon cnh cht vt bp bờnh, m sau ny ụng tng húm hnh ụn li rng
khng hong ti chớnh thng xuyờn din ra.
T nh, Milton ó say mờ vi nhng cun sỏch trong cỏi th vin nh bộ ca
th trn Rahway v hu nh ó c ht sỏch ú. Cu luụn l mt hc sinh xut sc
trong lp v qua nm lp nm lin hc nhy cúc lờn luụn lp by. Sau khi tt
nghip trung hc, cu nhn c hc bng min hc phớ vo trng i hc
Rutgers khụng quỏ xa nh. Tui sinh viờn trụi qua vi th ngh kim sng,
nh chy bn, gia s, hay lm s sỏch k toỏn cho mt ca hng tp hoỏ.
Chớnh trong thi k i hc, cu sinh viờn ó c hai v giỏo s kốm cp,
nhng ngi s cú nh hng lõu di n t tng ca cu trong tng lai. Ngi
Kết quả của dự án là một cuốn sách ông đứng tên tác giả cùng Kuznets.
Cũng chính trên kết quả nghiên cứu này, Friedman đã phát triển luận văn tiến sỹ của
mình. Trong luận văn ông vạch ra rằng vì các ngành có chuyên môn cao như luật
sư, bác sỹ, cần phải có giấy chứng nhận của ngành, nên đã tạo ra một rào cản không
cho mọi người tự do gia nhập ngành, dẫn đến hiện tượng độc quyền nhóm. Do đó,
ông kết luận rằng những người làm trong các ngành này được hưởng một mức thu
nhập cao hơn hẳn các ngành khác nhờ vị thế độc quyền của họ, dẫn đến hậu quả là
người tiêu dùng phải trả mức giá cao hơn trong khi lượng dịch vụ cung ứng lại ít
hơn mức mong đợi.
Vấn đề ông nêu lên quá nhạy cảm vào thời gian đó và đe doạ làm nổ ra
những cuộc tranh cãi gây chia rẽ. Đại học Columbia đã đình luận văn của ông lại 5
năm liền không để ông tốt nghiệp, nghĩa là mãi đến 1946 ông mới nhận được bằng
Tiến sỹ. Đây là một bài học quan trọng đầu đời cho nhà kinh tế trẻ, khiến ông thấm
thía rằng những khám phá khoa học hàn lâm có thể gây phiền phức cho cá nhân
người nghiên cứu như thế nào, nhưng đồng thời nó cũng có thể khuấy lên những
cơn bão táp ra sao.
Sau khi nhận bằng Tiến sỹ, Friedman được bổ nhiệm giảng dạy kinh tế học ở
Đại học Chicago. Từ đây sự nghiệp của ông bắt đầu phát triển rực rỡ với những
đóng góp to lớn cho kinh tế học. Cùng với George J. Stigler (Giải Nobel 1982), ông
góp phần phục hưng trường phái Chicago sau Thế chiến II, biến Khoa Kinh tế thành
Trang 5
ẹe taứi thuyeỏt trỡnh
ni t hp v o to nờn nhng nh kinh t li lc nh Theodore W. Schultz (Gii
Nobel 1979), Ronald H. Coase (Gii Nobel 1991), Gary. S. Becker (Gii Nobel
1992), Merton H. Miller (Gii Nobel 1990), Robert W. Fogel (Gii Nobel 1993),
Robert E.Lucas (Gii Nobel 1995), Hebert A. Simon (Gii Nobel 1978), James M.
Buchanan (Gii Nobel 1986), Harry M. Markowitz (Gii Nobel 1990) v Myron S.
Scholes (Gii Nobel 1997).
S phc hng trng phỏi Chicago khụng ch l vic bnh trng nh hng
ca Khoa Kinh t Chicago trong ngnh kinh t hc núi riờng, m cũn l s bnh
ni dung ch yu cho rng tiờu dựng ca cỏ nhõn hoc h gia ỡnh ph thuc vo
thu nhp di hn k vng ch khụng phi thu nhp hin thi nh quan im ca
Keynes. Do ú, ụng cho rng tng tiờu dựng ca nn kinh t n nh hn nhng
ngi theo Keynes vn ngh. Lý lun ny ca Friedman c bit n nh l gi
thuyt thu nhp lõu di trong cỏc lý thuyt chun hin nay v hm tiờu dựng.
Tuy nhiờn, t trc ti nay, cú l Friedman vn c bit ti nhiu nht nh l nh
lónh o ca phỏi Trng tin (Monetarism) trong kinh t hc. L ngi ngay t u
ó bo v lý thuyt s lng tin t, Friedman chc chn l lý thuyt gia cú cụng ln
nht trong th k XX lm mi v truyn bỏ hc thuyt ny, a nú vo lm nn tng
lý lun cho nhng cuc tranh lun khụng khoan nhng ca ụng v chớnh sỏch tin
t. ễng thng lnh nhng cuc tn cụng lm xúi mũn bc trng thnh tớn iu do
Keynes dng nờn cho rng chớnh sỏch tin t cú th y lui c nn tht nghip
nh to ra lm phỏt.
Gn nh ng thi, vo cui nhng nm 1960, Friedman v Edmund Phelps,
mt nh kinh t i hc Columbia (ngi mi c nhn gii Nobel Kinh t nm
nay), cựng a ra khỏi nim tht nghip t nhiờn, l mc m mi tham vng y
tht nghip xung thp hn mc ny bng chớnh sỏch tin t sm mun u tht bi,
v cỏi giỏ phi tr ch cú th l lm phỏt trin miờn v ngy cng tng tc.
Vi khỏi nim ny, Friedman v Phelps ó chm dt gic mng ca cỏc nh
kinh t trng phỏi Keynes mun a nn kinh t n ton dng nhõn cụng thụng
qua chớnh sỏch ti khoỏ v tin t.
cú bng chng cng c cho lý thuyt s lng tin t, Friedman dnh mt
phn ln cụng sc v thi gian cho cỏc cụng trỡnh nghiờn cu v lch s tin t.
Nhng nghiờn cu ny ca ụng, hon thnh vi s gúp sc ca nh kinh t Anna
Trang 7
ẹe taứi thuyeỏt trỡnh
Schwartz, ó tr thnh nhng cụng trỡnh kinh in cú mt khụng hai v lch s tin
t ca M v Anh.
Cng thụng qua nhng nghiờn cu ny, Friedman li mt ln na a ra kt
lun rt tỏo bo, rng chớnh chớnh sỏch tht cht tin t mt cỏch sai lm vo cui
gia vo quỏ trỡnh vn ng, l vic bói b ch quõn dch bt buc ti M vo
nm 1973.
Khi Trung Quc ang trong giai on u ca quỏ trỡnh ci cỏch kinh t, cỏc
nh lónh o nc ny ó mi Friedman sang thuyt trỡnh v kinh nghim xõy dng
nn kinh t th trng. Trong mt bi vit vo nm ngoỏi, tui 93, Friedman ó
khụng che du nim hnh phỳc c tn mt chng kin khỳc khi hon ca th
trng t do ang tu lờn trờn khp t nc ụng dõn nht th gii ny.
Nhỡn li s nghip bao trựm gn nh ton b na sau th k XX ca Milton
Friedman, cú th nhn thy õy s tip ni khụng ngng ngh ca truyn thng
nhõn vn phng Tõy, truyn thng tin tng vo s t do trong bn cht con
ngi, cỏi m h cú th t u tranh gỡn gi bng lng tri v s sỏng sut ni
bn thõn m khụng cn c ban phỏt.
Trit lý kinh t ca Friedman khụng gỡ khỏc l s vn dng truyn thng ú
trong i sng hin i, bng cỏch t nim tin st ỏ vo th trng, vo sc sng
mónh lit ca nú, cng nh s hi ho m nú cú th to ra.
3/- Nụi dung hoc thuyờt
3.1/- Ly thuyờt ng x cua ngi tiờu dung
Trong tac phõm ly thuyờt vờ chc nng tiờu dung M.Friedman a chi ra la:
nhng gia thuyờt cua J.M.Keynes vờ tiờu dung hinh nh khụng hoan toan c
kinh nghiờm cụng nhõn. Vi võy, phai co nhung gia thuyờt khac ờ trinh bay cai o
* Ly thuyờt vờ thai ụ ng x cua ngi tiờu dung
Theo M.Friedman trong iu kin n nh s cú hai nguyờn nhõn lm cho tiờu
dựng cao hn thu nhp. o la s ụn inh chi tiờu v cac khoan thu nhp c gia
tng.
Khi o, tiờt kiờm se phu thuục vao nhng khoan thu thụng thng va no thờ
hiờn nh la sụ d cua tiờu dung. Nờu xet hai nm liờn tiờp, s tiờu dung trong nm
th hai se tuy thuục vao thu nhõp cua nm th nhõt, thu nhp ca nm th hai va lói
sut. Võy tiờu dung cua mụt nm khụng chi phu thuục vao thu nhõp cua nm o.
Trang 9
Ñeà taøi thuyeát trình
).
Vậy C = C
p
+ C
t
Giữa tiêu dùng thường xuyên và thu nhập thường xuyên co quan hệ với nhau.
C
p
= K (I, w, u). Y
p
Ở đây
k là hệ số tương quan giữa tiêu dùng thường xuyên và thu nhập thường
xuyên
i là lãi suất
w là tương quan giữa tài sản vật chất và thu nhập thường xuyên
u là phân chia thu nhập cho tiêu dùng và tiết kiệm.
Từ đó ông khẳng định là, tiêu dùng thường xuyên phụ thuộc i, w, u là chính,
chứ không phải là phụ thuộc vào thu nhập thường xuyên.
3.2/- Lý thuyết chu kỳ tiền tệ và thu nhập quốc dân
Lý thuyết nổi tiếng của M.Friedman và trường phái trọng tiền hiện đại là chu
kỳ tiền tệ và thu nhập quốc dân. Tiền đề xuất phát của lý thuyết này phù hợp với tư
Trang 10
Ñeà taøi thuyeát trình
tưởng của chủ nghĩa tự do mới ở cộng hòa liên bang Đức. Đó là tư tưởng ủng hộ tự
do kinh doanh, chống lại sự can thiệp của nhà nước.
Nội dung cơ bản của thuyết chu kỳ tiền tệ và thu nhập quốc dân :
* Thứ nhất, mức cung tiền tệ là nhân tố có tính quyết định đến việc tăng sản
lượng quốc gia:
Theo công thức của trường phái trọng tiền MV = PQ, vì V ổn định nên các
Bề ngoài, công thức này không có gì khác với công thức Keynes. Song trong
thực tế thì quan điểm tiền tệ của trường phái Keynes và trường phái trọng tiền hiện
đại có sự khác nhau cơ bản. Sự khác nhau này thể hiện trước hết ở việc xác định vai
trò của lãi suất và sự hình thành mức cầu về tiền.
Trong lý thuyết Keynes, tính chất của cầu về tiền được dựa trên cơ sở xem xét
nó như là nhân tố nội sinh của sản xuất. Thích ứng với nó, việc phân tích động lực
chủ quan của việc giữ tiền dưới hình thức “sở thích chi tiêu” tức là phân tích cầu
tiền được thực hiện trên cơ sở các chức năng của sản xuất.Keynes đặt ra nhiệm vụ
là phải giải thích mối liên hệ lẫn nhau giữa cầu về tiền và lãi suất. Cầu là một trong
những nhân tố quyết định của cơ cấu tái sản xuất của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
Đối lập với nó, M.Friedman và trường phái trọng tiền dựa vào kinh nghiệm
qua các tài liệu thống kê trong thời kỳ dài và đi đến kết luận là việc thay đổi mức
cầu về tiền là kết quả của sự thay đổi mức thu nhập, còn lãi suất không có ý nghĩa
tác động đến lượng cầu về tiền. Do vậy, theo M.Friedman, tiền và cầu tiền là nhân
tố ngoại sinh của nền kinh tế. Mức cầu thích hợp về tiền được xem xét không phải
là nhân tố hoạt động của quá trình sản xuất, mà như là một trong những nhân tố về
cầu kết quả sản xuất, là một bộ phận cầu về của cải. Mức cầu này được hình thành
trên cơ sở lựa chọn những loại tiền tệ là vàng và bạc và các hình thức của cải khác
như cổ phiếu, các hàng hóa sử dụng lâu bền, cũng như những nhân tố của tư bản
sản xuất, … với sự xác định như vậy, mức cầu về giá trị sử dụng bị chi phối bởi
những quy luật của nó. Điều đó có nghĩa là chỉ tiêu tốc độ lưu thông tiền tệ trở
thành một nhân tố quyết định hình thành các khoản tồn quỹ. Những người tiêu dùng
là cá nhân hay các công ty tư bản khi quyết định các khoản tồn quỹ, muốn bảo đảm
cho mình mức thu nhập có thể lớn nhất trên cơ sở lựa chọn giữa những của cải khác
nhau.
Trang 12
Ñeà taøi thuyeát trình
Biểu hiện sự cân bằng về tiền tệ dưới công thức toán học
M
P
tính ổn định cao.
Trong khi đó, mức cung tiền tệ có tính chất không ổn định, vì nó phụ thuộc
vào các quyết định chủ quan của các cơ quan quản lý tiền tệ, của hệ thống dự trữ
liên bang (FED). Nếu FED phát hành ra quá nhiều hay quá ít tiền tệ, sẽ dẫn đến lạm
phát hoặc khủng hoảng kinh tế.
Trang 13
Ñeà taøi thuyeát trình
Xuất phát từ đó, ông giải thích nguyên nhân khủng hoảng kinh tế ở Mỹ năm
1929 – 1933 là do khủng hoảng hệ thống dự trữ liên bang Mỹ đã phát hành một
khối lượng tiền để mua hàng và dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa. Như vậy, mức
cung tiền có ảnh hưởng quyết định đến tình trạng của nền kinh tế. Từ đó, ông đưa ra
đề nghị thực tiễn về chu kỳ tiền tệ và thu nhập quốc dân.
Tư tưởng cơ bản của đề nghị này là chủ động điều tiết mức cung tiền tệ. Song
nhìn chung, tiền tệ phải được điều chỉnh theo một tỷ lệ tăng ổn định từ 3-4% trong
một năm.
Bởi vì khi tăng mức cung tiền tệ ổn định sẽ duy trì được lãi suất cho vay và
mức đầu tư. Từ đó sẽ làm cho thu nhập quốc dân tăng một cách ổn định, ngăn chặn
được những biến động trong nền kinh tế, ổn định giá cả và tốc độ tăng trưởng.
* Thứ hai, trường phái trọng tiền, xuất phát từ chỗ cho rằng, giá cả hàng hóa
phụ thuộc vào khối lượng tiền tệ, nên họ rất quan tâm tới vấn đề ổn định giá cả và
chống lạm phát.
Xuất phát từ công thức MV = PQ, suy ra P =
Vì V là ổn định, Q: sản lượng không phụ thuộc, hoặc phụ thuộc rất ít vào M
cho nên ta ký hiệu: k = , P = M.k => M tăng kéo theo P tăng
k: giữ nguyên hoặc không đổi trong thời gian ngắn và tăng chậm trong thời
gian dài. Vì vậy, nếu thay đổi M sẽ làm thay đổi giá cả (P). Nếu M tăng thì giá cả
tăng và ngược lại.
Từ đó trường phái trọng tiền hiện đại coi lạm phát là căn bện nan giải của xã
hội chứ không phải là thất nghiệp. Theo M.Friedman, thất nghiệp chỉ là một hiện
tượng bình thường diễn ra trên thị trường. Ông đưa ra tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, cho
như vậy sẽ duy trì được tình hình thị trường trong thời kỳ sản xuất và việc làm giảm
sút
Keynes coi chính tài chính là công cụ chủ yếu để giải quyết vấn đề kinh tế.
Ông đánh giá cao hệ thống thuế khóa và công trái nhà nước, nhờ chúng mà bổ sung
thu nhập cho ngân sách. Theo ông, cần phải tăng thuế cho người lao động để điều
tiết bớt một phần tiết kiệm từ thu nhập của họ và giảm thuế đối với các nhà kinh
Trang 15
ẹe taứi thuyeỏt trỡnh
doanh nõng cao hiu qu ca t bn, nh ú khuyn khớch u t ca cỏc nh
kinh doanh
Keynes ch trng khuyn khớch mi hot ng cú th nõng cao tng cu
thm chớ l cỏc hot ng nh sn xut v khớ, phng tin chin tranh, quõn s húa
nn kinh t. Theo ụng, u t cho lnh vc no cng tt, min l gii quyt c
vic lm, cú thờm thu nhp, chng c khng hong v tht nghip
Keynes ch trng khuyn khớch tiờu dựng cỏ nhõn ca nhng ngi giu
cng nh ca nhng ngi nghốo nhm nõng cao cu tiờu dựng.
Thuyt kinh t Keynes ó c ỏp dng trong h thng tin t quc t thụng
qua hip nh c ký ti hi ngh Bretton Woods, New Hampshire nm 1944.
Hip nh Bretton Woods ó thay th h thng kim bng v thi tin chin tranh ó
sp trong sut cuc suy thoỏi ton cu thp k 30. Vi hip nh mi ny, cỏc t
giỏ hi oỏi tin t gia cỏc quc gia s n nh hn hoc ớt n nh hn - thay i
trong nhng trng hp ngoi l. Nhng gỡ m hip nh ny c son tho da
vo thuyt kinh t Keynes l gi nh cho rng chớnh ph cỏc nc cú th t iu
chnh cỏc mi quan h quc t.
Vi ch kim bng v, thỡ thõm ht hay thng d trong cỏn cõn thanh toỏn cú
th c iu chnh bng nhng thay i t ng ca lu lng vng, mc cung
tin, v cỏc mc giỏ. Nhng vi h thng t giỏ hi oỏi c nh ca Bretton
Woods, mc dự vng vn c s dng trong thanh toỏn quc t, nhng vic phỏt
hnh tin trong nc khụng cũn ph thuc vo tr lng vng na m nú ch l
thuc vo chớnh ph dựng phng phỏp o lng no m h cho l thớch hp
chiến. Tác phẩm này, Lịch sử tiền tệ ở Hoa Kỳ 1867-1960, trở thành một trong
những cuốn sách kinh tế học quan trọng nhất của thế kỷ XX, đồng thời, là một
thánh kinh của phái Trọng tiền.
Dựa trên lý thuyết khối lượng, phái Trọng tiền cho rằng để tránh những dao động vĩ
mô, nhà nước cần kiểm soát việc cung tiền một cách có kỷ luật. Frieman trong rất
nhiều bài viết vào những năm 1960 đã đề xuất việc duy trì tăng trưởng cung tiền
một cách đều đặn, theo một tỷ lệ vừa đủ cho nhu cầu của nền kinh tế mà thôi, vào
khoảng 3-5%/năm. Ý thức rõ vai trò nội sinh của cung tiền, nghĩa là tăng trưởng
cung tiền thông qua hệ thống tín dụng của ngân hàng thương mại, Friedman thậm
Trang 17
Đề tài thuyết trình
chí còn đề xuất việc cấm các ngân hàng cho vay (hệ thống dự trữ 100%). Friedman
cũng phản đối các chính sách gây thâm hụt ngân sách.
Bên cạnh những ý tưởng về chính sách vĩ mơ, Fiedman còn kêu gọi sự thu hẹp nhà
nước theo lý tưởng kinh tế Cổ điển và Tân cổ điển, trong đó nhà nước chỉ nên chi
tiêu cho quốc phòng, giáo dục, cứu trợ, cung ứng hàng hóa có hiệu ứng ngoại biên
lớn khiến thị trường khơng hoạt động được.
Ngồi ra, vào năm 1968, gần như đồng thời cùng với Edmund S. Phelps (1967),
Friedman cơng bố lý thuyết về “thất nghiệp tự nhiên.” Lý thuyết này cho rằng
khơng thể dùng chính sách kích thích kiểu Keynes để đẩy nền kinh tế tới tồn dụng
nhân cơng trong một thời gian dài. Thường thì cái giá phải trả cho chính sách kích
thích thích như thế là lạm phát. Và nếu cứ theo đuổi mong muốn giảm thiểu thất
nghiệp, nền kinh tế sẽ rơi vào cảnh lạm phát triền miên. Và nguy hiểm hơn nữa, khi
lạm phát đã thành kinh niên, thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ trở nên ổn định như khi khơng
có chính sách can thiệp, vì tất cả cùng chia sẻ một mức kỳ vọng về lạm phát, và
cùng đòi hỏi tăng giá theo cùng một mức đó. Lúc này, tiền tệ chỉ còn mang tính
hình thức. Nói tóm lại, Phelps và Friedman cho rằng cần thừa nhận và chấp nhận
một tỷ lệ thất nghiệp “tự nhiên” trong nền kinh tế, các chính sách khơng nên cố
cưỡng bức nền kinh tế giảm mức thất nghiệp xuống dưới mức này thơng qua các
chính sách kích thích, vì kết quả sẽ chỉ là lạm phát triền miên mà thơi.
hành động và để cho hệ thống ngân hàng sụp đổ. Không thể so sánh việc Lehman
Brothers phá sản ngày nay với việc hàng loạt ngân hàng phá sản vào những năm
1930. Tuy nhiên, sự sụp đổ của Lehman Brothers đã thổi bùng lên “ngọn lửa”
khủng hoảng tài chính. Tất cả những người quản lý tài chính của các doanh nghiệp
đều hiểu rằng, việc tái cấp vốn cho các khoản tín dụng, hầu như được đảm bảo
trong suốt những năm qua, có thể giờ đây sẽ không còn được đảm bảo nữa.
Mọi chuyện diễn ra như thể việc ngân hàng Lehman Brothers phá sản đã gây
ra một cú sốc có thể so sánh với sự sụp đổ của các ngân hàng Mỹ trong những năm
1930. Vậy có thể so sánh như thế nào?
Để hiểu rõ, cần phải quay lại khoảng thời gian trước đây. Suốt những năm
sau Chiến tranh thế giới thứ hai, những đợt suy thoái đã diễn ra một cách đơn giản
và không thay đổi. Khi kinh tế tăng trưởng cao hơn khả năng thực sự, nó có thể
khiến tiền lương tăng cao. Hiện tượng này gắn liền với “đường cong Phillips” trong
Trang 19
ẹe taứi thuyeỏt trỡnh
kinh t. Khi tht nghip cú xu hng gim xung, yờu cu v tin lng li tng,
gõy ra vũng xoỏy giỏ c - tin lng. gii quyt vn ny, cỏc nh chc trỏch
phi thc hin chớnh sỏch tht cht tin t, thng rt mnh tay, nhm kỡm hóm tng
trng. Phn ln cỏc t suy thoỏi sau chin tranh u din ra theo c ch ny.
Nhng k t u nhng nm 1990, th gii ó thay i. Hin nay chỳng ta
sng trong mt th gii hn ch ti a tin lng. Cụng nhõn b chốn ộp do xu
hng gim cụng nghip húa, do ton cu húa. Vỡ th sc mnh ca nghip on
ngy cng gim v cụng nhõn hu nh ó ỏnh mt sc mnh trờn bn m phỏn
vi gii ch.
III/- VN DUNG HOC THUYấT TRONG TIấN VAO THC TIấN
1/- u iờm cua hoc thuyờt
Friedman ó cú nhng ỏnh giỏ v nng lc nh nc trong qun lý nn kinh
t nh khụng chn chn, chm tr, v nhng chớnh sỏch thng cú tỏc dng rt ớt
nht l trong vic kộo nn kinh t ra khi suy thoỏi v tht nghip cao. T ú, ng
h s t do th trng, th trng vn cú kh nng t iu tit
hoch húa, tp trung, bao cp. Chớnh vỡ th, khi chuyn i, nc ta thiu rt nhiu
kinh nghim trong iu hnh kinh t v mụ thụng qua cỏc chớnh sỏch kớch thớch
ng c ca cỏc ch th kinh t. Theo thi gian, tớnh th trng ca nn kinh t cng
phỏt trin, thỡ vai trũ nhn thc nn kinh t cng tr nờn cp thit. Qua nhng chớnh
sỏch ca nc ta, cú th nhn thy khỏ gn gi vi hc thuyt ca Keynes, ú l
xem trng vai trũ ca nh nc. T ú, cú s can thip ca nh nc khỏ nhiu v
thng xuyờn. Tuy nhiờn, cn phi lu ý rng vic s dng mt cụng c v mụ luụn
ũi hi s huy ng ngun lc ln thụng qua nh nc chng hn chớnh sỏch m
rng chi tiờu ca chớnh ph) hoc s búp mộo mt s tớn hiu quan trng nht ca
th trng nh tng hay gim lói sut. iu ny cú th giỳp t c mt s mc
tiờu ngn hn, nhng li cú th gõy ra nhng nh hng khụng cú trong d tớnh,
hoc khụng tớnh toỏn c. Vớ d mt chớnh sỏch h tr lói sut thỡ ngoi nhng
mt tớch cc ca chớnh sỏch ny nh yu t tõm lý v ỏp ng cho mt b phn
doanh nghip, thỡ vic cung ng mt ngun vn r ó khin cu v vn tng cao, m
mt phn c nh hng vo cỏc th trng cú thanh khon cao v kh nng sinh
li d nhỡn thy nh l cỏc th trng ti sn (chng khoỏn, bt ng sn, vng v
ngoi t). iu ny mt mt gõy tng bong búng trờn cỏc th trng ti sn, mt mt
Trang 21
Ñeà taøi thuyeát trình
gây khan hiếm vốn nói chung trên thị trường. Việc khan hiếm vốn khiến lãi suất
chịu sức ép tăng trở lại. Khi mặt bằng lãi suất tăng lên, thì các doanh nghiệp không
được hỗ trợ lãi suất phải chịu mức lãi cao. Điều này tương đương với việc chính các
doanh nghiệp không được hỗ trợ lãi suất đi hỗ trợ cho các doanh nghiệp thuộc diện
hỗ trợ lãi suất, mặc dù về mặt hình thức việc hỗ trợ do Nhà nước thực hiện.
Vì vậy, cần vận dụng lý thuyết trọng tiền hiện đại một cách hợp lý. Đó là
chúng ta nên tránh lạm dụng những can thiệp lớn, vì những can thiệp này luôn làm
các nguồn lực lớn dịch chuyển ở quy mô lớn, trong khi những tính toán và dự kiến
về ảnh hưởng của chúng trong tương lai lại rất hạn chế.
Để tránh phải tự buộc mình vào quá nhiều mục tiêu trong khi các công cụ
chính sách là hữu hạn, Chính phủ cần ưu tiên đặt kế hoạch hoặc mục tiêu kiểm soát