Kiến thức thái độ và sự hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ của người chồng có vợ làm công nhân tại Huyện Cẩm Giàng Hải Dương năm 2015 - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN QUANG ĐỨC

TÊN ĐỀ TÀI

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ SỰ HỖ TRỢ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ
CỦA NGƯỜI CHỒNG CÓ VỢ LÀM CÔNG NHÂN TẠI HUYỆN CẨM
GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: YTCC: 60.72.03.01
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Hữu Bích

Hà nội 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN QUANG ĐỨC

TÊN ĐỀ TÀI

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ SỰ HỖ TRỢ NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ CỦA
NGƯỜI CHA TẠI HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: YTCC: 60.72.03.01
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Hữu Bích

trong sáu tháng đầu để đạt được sự tăng trưởng, phát triển tối ưu và có được
sức khỏe tốt [38, 40, 51] . Nếu mọi trẻ em được bú mẹ trong vòng một giờ đầu
sau sinh và tiếp tục cho bú mẹ cho đến hai tuổi, thì khoảng 800.000 trẻ sẽ được
cứu sống mỗi năm.
Trong hai thập kỉ qua, tỷ lệ tử vong trẻ em đã giảm đáng kể, nhưng gần 7 triệu
trẻ em dưới 5 tuổi chết mỗi năm, chủ yếu là do các nguyên nhân có thể phòng
ngừa được. Trong số đó, trường hợp tử vong sơ sinh hiện chiếm gần một nửa
số trẻ tử vong dưới 5 tuổi. Bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh sẽ làm giảm tỷ
lệ tử vong sơ sinh sớm [44] .Tính trên toàn thế giới, thì chỉ có 2 trong 5 trẻ sơ
sinh được bú sữa mẹ trong 1 giờ đầu sau sinh và cũng tỷ lệ đó với những trẻ
dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ toàn [49] . Mặc dù từ năm 1989 Tổ chức Y tế
thế giới và Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc đã đưa ra khuyến nghị cho trẻ bú sớm
trong 1 giờ đầu sau sinh và bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho đến
khi trẻ được 24 tháng tuổi [48] . Ở khu vực châu Á/ Thái Bình Dương, khoảng
một nửa số quốc gia cung cấp dữ liệu có tỷ lệ BSMHT lớn hơn 40%, dưới mức
20% ở Thái Lan và Việt Nam [49] . Mặc dù sữa mẹ là công thức dinh dưỡng
hoàn hảo nhất cho trẻ 6 tháng đầu đời của trẻ, hiện ở Việt Nam chỉ có 19.6%
trẻ được bú hoàn toàn trong giai đoạn quan trọng này [6] . Tỉ lệ này thấp hơn
rất nhiều so với tỉ lệ trung bình của thế giới là 35% các bà mẹ cho con bú hoàn


5

toàn trong 6 tháng đầu [6]. Trong khi đó chiến lược quốc gia về dinh dưỡng
2011 – 2020 đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt rằng tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn
toàn trong 6 tháng đầu đạt 27% năm 2015 và đạt 35% vào năm 2020 [14] . Tuy
nhiên, dù là thiên phú và góp phần tiết kiệm chi tiêu cho gia đình, việc nuôi con
bằng sữa mẹ ở Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức [1, 47] . Nhiều
nghiên cứu chỉ rằng có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc cho con bú sớm và
bú hoàn toàn như : thông tin tiếp thị của các sản phẩm sữa bột dành cho trẻ nhỏ


Mục Tiêu
1. Mô tả thực trạng BSMHT của nữ công nhân tại các thời điểm 1 – 4 – 6

tháng ở huyện Cẩm Giàng – Hải Dương năm 2015.
2. Mô tả Kiến thức và thái độ về NCBSM người cha ở các thời điểm trước
sinh – 1 – 4 tháng tại huyện Cẩm Giàng – Hải Dương năm 2015
3. Mô tả thực hành hỗ trợ nuôi con bằng sữa mẹ của người cha tại các thời

điểm 1 – 4 tháng ở huyện Cẩm Giàng – Hải Dương năm 2015.
4. Xác định mối liên quan giữa một số yếu tố của người cha ( Kiến thức và
thái độ về NCBSM, Nghề nghiệp, Trình độ học vấn) và yếu tố của bà
mẹ (Áp lực công việc, Thực hành cho trẻ trước bú, Nơi sinh, Phương
pháp sinh, Trình độ học vấn) đến thực hành NCBSM của các bà mẹ làm
công nhân tại huyện Cẩm Giàng – Hải Dương năm 2015.


7

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.

Khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO):

Sự khởi đầu tốt nhất cho trẻ bắt đầu bằng bú sữa mẹ, đó là một cách đơn giản
nhất, thông minh nhất và chi phí – hiệu quả thấp nhất cho sự phát triển khỏe
mạnh và bền vững của trẻ [44] .
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo nên bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6
tháng đầu cho tất cả trẻ đủ tháng khoẻ mạnh, do sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho

1.3.
Lợi ích của việc bú sữa mẹ:
1.3.1. Lợi ích cho trẻ:

Trẻ không bú sữa mẹ trong 1 tháng đầu có nguy cơ tử vong cao gấp 6 lần so
với những trẻ được bú sữa mẹ và gấp 14 lần trong 6 tháng đầu, do không được
bú sữa mẹ làm gia tăng tử vong do nhiễm trùng [44] .
Sữa mẹ không những có tất cả những dinh dưỡng mà em bé cần đến, mà nó còn
làm giảm nguy cơ em bé có thể bị nhiễm trùng hoặc những bệnh như: Nhiễm
trùng đường tiết niệu Nhiễm trùng hệ tiêu hóa (chẳng hạn như bị tiêu chảy),
Những bệnh về đường hô hấp (chẳng hạn như suyễn) Những loại ung thư ở trẻ
em. Bị béo phì, tiểu đường và bị bệnh tim về sau.[9, 38, 41, 49]
Cho bé bú sữa mẹ cũng làm giảm nguy cơ em bé bị dị ứng và không chịu được
thức ăn, chẳng hạn như bệnh về tạng phủ. Cho bé bú sữa mẹ thúc đẩy sự phát
triển của hàm. Tất cả các lợi ích của sữa mẹ vẫn chưa được khám phá hết, vì


9

vậy nó không thể được mô phỏng trong sữa bột. Trẻ được nuôi bằng sữa mẹ ít
mắc các bệnh nhiễm khuẩn và ít phải nhập viện hơn trẻ nuôi bằng sữa bột [44] .
Phân tích liên quan hai biến cho thấy rằng bú mẹ hoàn toàn bảo vệ trẻ khỏi bị
ốm . Tỷ lệ trẻ không được BSMHT bị ốm là 31% so với tỷ lệ 23,6% ở trẻ được
BSMHT (P
Mỹ cho các chi phí y tế và phòng tránh được 911 trường hợp tử vong ở trẻ
[20].Việc nuôi con bằng sữa mẹ sẽ tốt hơn cho môi trường. Không cần phải sản
xuất đóng hộp, chai bình, núm sữa và xà phòng để vệ sinh chúng [41].
Nếu nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu, các bà mẹ Việt Nam
có thể tiết kiệm một khoản tiền tương đương VNĐ 11,435,670,000,000 từ việc
không chi tiêu cho các sản phẩm thay thế sữa mẹ [1] .
1.3.5. Lợi ích cho doanh nghiệp:

Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn có lợi cho doanh nghiệp về mặt lâu dài vì các
bà mẹ ít phải nghỉ làm để chăm con ốm – điều này cũng có nghĩa là tạo ra một
lực lượng lao động ổn định. Sữa mẹ cũng là một nguồn lực hữu ích đảm bảo an
ninh thực phẩm cho trẻ nhỏ và các gia đình trên toàn thế giới khi có thiên tai
hoặc khủng hoảng kinh tế. Trong những trường hợp nguy cấp, nuôi con bằng
sữa mẹ giúp bảo vệ trẻ khỏi các bệnh gây ra do nguồn nước nhiễm bẩn và có
thể ngăn ngừa tình trạng thân nhiệt thấp [1] .
1.4.
Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu:
1.4.1. Trên thế giới :

Trong hai thập kỉ qua, tỷ lệ tử vong trẻ em đã giảm đáng kể, nhưng gần 7 triệu
trẻ em dưới 5 tuổi chết mỗi năm, chủ yếu là do các nguyên nhân có thể phòng
ngừa được. Trong số đó, trường hợp tử vong sơ sinh hiện chiếm gần một nửa
số trẻ tử vong dưới 5 tuổi. Bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh sẽ làm giảm tỷ
lệ tử vong sơ sinh sớm [44] .


11

Phân tích các dữ liệu về thực hành nuôi trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đã làm nổi bật lên
sự cần thiết cho các chương trình cải thiện việc bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6

Biểu đồ 1.2 - Tỷ lệ trẻ sơ sinh bú sữa mẹ hoàn toàn ( 0 – 5 tháng tuổi) theo
từng khu vực, từ năm 2000 đến 2012 [49] .

Ở các nước Tây và Trung Phi trong những năm 90, tỷ lệ cho con bú hoàn toàn
tăng từ 7% lên 18%. Tuy nhiên, trong 1 thập kỉ gần đây thì sự tiến bộ trong
việc cải thiện tình trạng cho bú rất ít. Cần có những nỗ lực để lấy lại đã tăng
trưởng ở những khu vực này và dựa trên những thành công hiện tại của các
nước kém phát triển. Ở các nước khác nhau, tỷ lệ thực hành BSMHT phát triển
không đồng đều giữa các năm đã được ghi nhận. Điều này cho thấy rằng sự
cần thiết phải duy trì những thành tựu đã đạt được. Khi so sánh tỉ lệ bú sớm 1
giờ sau sinh ở 3 khu vực: Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe, Đông Á và Thái
Bình Dương, Trung Đông và Bắc Phi, thì những người nghèo cho con bú 1 giờ
sau sinh cao hơn 20% so với những người dân giàu có ở trong cũng một khu
vực. Nhìn chung, so với thế giới những trẻ ở khu vực nghèo khó của Nam Á
gặp nhiều điều kiện bất lợi nhất cho việc bú sớm sau sinh, nhưng trẻ em nghèo
ở nhóm các nước khu vực Châu Mỹ Latinh và vùng Caribe có tỷ lệ bú sữa mẹ
sau sinh một giờ cao nhất [43] .
1.4.2. Châu Á:

Bảng 1.3 – Bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu một số nước Châu Á [53]


13

Ở khu vực châu Á/ Thái Bình Dương, khoảng một nửa số quốc gia cung cấp dữ
liệu có tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn lớn hơn 40%, cụ thể 3/4 số trẻ ở CHDCND
Triều Tiên, Sri Lanka, Campuchia và quần đảo Solomon được BSMHT, ở Ấn
Độ là khoảng 1/2, khoảng 1/ 3 ở Philippines, Indonesia và Malaysia. Tỷ lệ
BSMHT thấp, dưới mức 20% ở Thái Lan và Việt Nam. Ở một số nước trong
khu vực như Lào, Mông Cổ, Việt Nam BSMHT được phổ biến hơn ở những

mẹ có con dưới 6 tháng tuổi (51,7% so với 49,5%). Chỉ 1/5 (20%) trẻ sơ sinh
dưới 6 tháng tuổi được cho bú mẹ hoàn toàn, và 54,6% trẻ ở độ tuổi này được
bú mẹ là chủ yếu. Tỷ lệ tiếp tục cho bú tới khi trẻ 1 tuổi khá cao (79,5%) nhưng
tỷ lệ cho trẻ bú mẹ tới 2 tuổi chỉ là 18,2% [4] .
Không cho con bú sớm, không cho con bú hoàn toàn và không tiếp tục cho con
bú lâu dài cũng như thiếu chế độ ăn bổ sung phù hợp đã dẫn tới những hậu quả


15

nghiêm trọng về sức khỏe của trẻ. Điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia năm
2010 về tỉ lệ suy dinh dưỡng cho thấy trẻ em nước ta là 17,5% (chỉ tiêu cân
nặng/tuổi), 20/63 tỉnh, thành có mức SDD trẻ em trên 20% (xếp ở mức cao
theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới). Tỷ lệ trẻ em SDD theo chỉ tiêu chiều
cao/tuổi (SDD thể thấp còi) năm 2010 toàn quốc là 29,3%, trong đó xét theo
phân loại của Tổ chức Y tế thế giới có đến 31 tỉnh tỷ lệ trên 30% (mức cao), 2
tỉnh trên 40% (mức rất cao). Ước tính đến năm 2010, nước ta còn gần 1,3 triệu
trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng nhẹ cân, khoảng 2,1 triệu trẻ em SDD thấp
còi và khoảng 520.000 trẻ em SDD gầy còm [6] .
Có nhiều yếu tố góp phần đến suy dinh dưỡng. Một trong những quan trọng
nhất là tỷ lệ thấp của BSMHT từ lúc sinh ra đến sáu tháng đầu. Các nghiên cứu
đã chỉ ra rằng BSMHT là một trong những biện pháp can thiệp hiệu quả nhất
để chống lại tỷ lệ tử vong trẻ em [46] . Bằng việc cải thiện những thực hành
dinh dưỡng của bà mẹ dành cho trẻ trong 24 tháng đầu đời, chúng ta có thể
giảm tỷ lệ thấp còi và qua đó tăng cường sức khỏe và khả năng phát triển kinh
tế của người dân Việt Nam [18] . Tuy nhiên, khi tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn còn
thấp so với trung bình của thế giới thì việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng của
trẻ em Việt Nam cũng chưa được cải thiện. Số liệu điều tra dinh dưỡng của
năm 2014 của Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho thấy rằng tỷ lệ suy dinh dưỡng
trẻ em dưới 5 tuồi tuổi 14,5% (chỉ tiêu cân nặng/tuổi) và 24,9% ( chỉ tiêu chiều

các loại thức ăn khác khi con được khoảng 4 tháng tuổi. Đối với những người
mẹ có việc làm (chiếm tỉ lệ 20-30%), yêu cầu phải trở lại làm việc sau 4 tháng
nghỉ sinh con là một thách thức đối với việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ.
Thiếu hỗ trợ từ người thân trong gia đình và từ các cán bộ, nhân viên y tế cũng


17

là một nguyên nhân khác khiến cho người mẹ không thể nuôi con bằng sữa mẹ
hoàn toàn [17] .
1.5.
Một số nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng BSMHT:
1.5.1. Sự hỗ trợ của người người cha:

Liên quan đến thực hành NCBSM, các nghiên cứu cũng cho thấy rằng thực
hành NCBSM có mối liên quan đến các yếu tố cá nhân và vai trò của người cha
trong gia đình như nghề nghiệp, trình độ học vấn , sự hài lòng về giới tính của
con [29] , sở thích và thái độ liên quan đến việc chăm sóc dinh dưỡng cho con
[23, 24]. Năm 2006 nghiên cứu về ảnh hưởng của tình trạng kinh tế - xã hội
đến việc cho con bú ở California đánh giá những người bà mẹ có chồng có
trình độ học vấn ít hơn 12 năm thì khả năng cho con bú thấp hơn gấp 2,4 lần so
với những người bà mẹ có chồng có trình độ học vấn ít nhất 16 năm, sau khi đã
điều chỉnh một số biến như cân nặng sơ sinh, phương pháp sinh, uống rượu và
hút thuốc trong thời gian mang thai… [27]
Nghiên cứu cắt ngang của Giugliani và cộng sự (1994) điều tra các mối liên
quan giữa quyết định của các bà mẹ về việc cho con bú với sự hỗ trợ của các
nhân viên y tế và người nhà. Kết quả cho thấy rằng việc ý kiến và sự hỗ trợ
của người cha cho con bú là nhân tố quan trọng nhất trong việc thúc đẩy người
mẹ cho con bú (OR = 32,8) [26]. Đồng ý với quan điểm trên của Giugliani và
cộng sự. Một nghiên cứu khác diễn ra gần đây, cũng là một nghiên cứu cắt

cứu khác nhau giải thích tại sao người cha nên được tham gia vào các dịch vụ
y tế công dành cho gia đình, bao gồm cả dịch vụ thai sản. Tác giả đã ví người
cha là nguồn nhân lực chưa được khai thác trong việc hỗ trợ người mẹ và
nhân viên y tế trong việc cho con bú [42] .
Ở Việt Nam chỉ có một số ít nghiên cứu về hiểu biết về vai trò của người cha
trong việc NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu. Năm 2012, nghiên cứu của
Trần Hữu Bích và cộng sự nhằm kiểm định giả thuyết về sự cải thiện kiến thức
của người cha sau chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe cộng đồng, sử
dụng thiết kế nghiên cứu phỏng thực nghiệm, trước - sau, có đối chứng. Tại
giai đoạn trước can thiệp, 251 cặp vợ chồng có vợ đang mang thai được chọn
vào can thiệp (CHILILAB Chí Linh) và 241 cặp tương ứng được chọn vào
nhóm không can thiệp (Thanh Hà). Đối tượng can thiệp là những người cha có
vợ đang mang thai. Hình thức can thiệp là các hoạt động truyền thông qua loa


19

dài, tư vấn cá nhân và nhóm; các hoạt động vui chơi tại cộng đồng cùng với
các sản phẩm truyền thông như pano, tờ rơi, cốc và áo phông có in hình ảnh và
thông điệp của chương trình được gửi tới người cha. Sau can thiệp, kiến thức
về NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng của người cha ở địa bàn can thiệp được
cải thiện một cách đáng kể so với người cha tại địa bàn không can thiệp. Kiến
thức về khái niệm đúng, tầm quan trọng của NCBSM hoàn toàn và thời gian
NCBSM hoàn toàn là 6 tháng của người cha ở địa bàn can thiệp cao hơn gấp
2.6 lần, 1.86 lần và 1.9 lần so với người cha ở địa bàn không can thiệp.
Chương trình đã thành công trong cải thiện kiến thức của người cha về
NCBSM hoàn toàn. Các hoạt động can thiệp cần tiếp tục duy trì và mở rộng
tại chí Linh và Hải Đương cũng như nghiên cứu việc triển khai can thiệp trên
qui mô lớn hơn nữa để tăng cường kiến thức của người cha nhằm hỗ trợ
NCBSM hoàn toàn. Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam có đối tượng can

về cho con bú là rất thấp (88%), 89% nữ công nhân chưa hiểu biết về lợi ích
của bú sữa mẹ, ngược lại, 74% đều biết thời gian BSMHT. Nghiên cứu cũng
cho thấy yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến thiếu kiến thức cho con bú chính là
trình độ học vấn của bà mẹ hơn các yếu tố khác như tình trạng hôn nhân, thu
nhập gia đình và tuổi [50] .
Trong tổng số 10.834 đối tượng có 10,2% là công nhân, viên chức nhà nước.
30,5% các bà mẹ trở lại làm việc sau khi sinh từ 6 tháng trở lên, trong khi
29,2% quay trở lại làm việc khi con họ được từ 4 đến 4,9 tháng tuổi. Đa số bà
mẹ làm việc bên ngoài nhà làm 5 ngày/tuần. Trung bình, họ làm việc 6,4 giờ
mỗi ngày. Trong số bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi, số giờ làm việc trung bình
tăng lên theo tuổi của trẻ. Dưới 10% bà mẹ làm việc bên ngoài nhà mang trẻ
theo khi đi làm. Bà mẹ có kiến thức khác nhau về NCBSM. Hơn ¾ bà mẹ biết
trẻ nên được bú mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh. Nhìn chung, 74,4% bà mẹ
biết trẻ nên được bú sữa non và 52,5% biết trẻ nên được tiếp tực bú đến 2 năm
tuổi. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những nhầm lẫn về NCBSM. Trong khi, 52,5%
bà mẹ biết rằng trẻ dưới 6 tháng tuổi chỉ bú sữa mẹ là tốt, nhưng chỉ có 23,2%
bà mẹ biết nên bắt đầu cho trẻ uống thêm nước ngoài sữa mẹ khi trẻ từ 6 đến 8
tháng tuổi. Nhầm lẫn này có thể do thực tế nhiều bà mẹ không coi nước là một
loại thức ăn do đó họ không nghĩ rằng cho trẻ uống nước là cản trở NCBSM
hoàn toàn. Tương tự như kiến thức, niềm tin của bà mẹ về nuôi dưỡng trẻ nhỏ
cũng khác nhau. Nhìn chung các bà mẹ tin rằng nên cho trẻ uống nước hoặc


21

sữa bột trước 6 tháng tuổi vì trẻ có nhu cầu, bà mẹ thiếu sữa, trẻ khát hoặc do
thời tiết nóng. Bà mẹ cũng lo lắng trẻ uống sữa được vắt ra và bảo quản trong
tủ lạnh sẽ bị ốm. Bà mẹ không tin rằng các bà mẹ khác sẽ làm như vậy hoặc họ
không tin rằng các bà mẹ khác mong đợi họ làm như vậy. Kết quả này cho thấy,
cần có nhiều các can thiệp để thay đổi nhận thức và quan niệm của cả cộng

Hạn chế của nghiên cứu này là được tiến hành trên mẫu nhỏ và chỉ trên những
bà mẹ tự nguyện tham gia, còn những đối tượng không tham gia, có thể nghiên
cứu đã bỏ qua những đối tượng quan trọng mang các đặc điểm như tự ti hoặc
là mâu thuẫn với gia đình về vấn đề cho con bú, nên có thể nghiên cứu đã
không thu thập được những thông tin quan trọng này. Thêm vào đó, đối tượng
duy nhất của nghiên cứu là phụ nữ, nhưng chúng ta thừa nhận là người cha và
những đối tượng khác có tầm ảnh hưởng quan trọng trong quyết định và hỗ trợ
cho con bú. Do vậy, nghiên cứu cũng khuyến nghị các nghiên cứu khác nên
tiến hành trên nhiều đối tượng khác nhau như người cha đơn thân, các cặp vợ
chồng đồng tính hoặc những người chăm sóc khác. [35]
1.5.4. Sự hỗ trợ của nhân viên y tế:

Cán bộ y tế và các cơ sở y tế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo bước khởi
đầu cho một bà mẹ thành công đối với việc nuôi con bằng sữa mẹ sau này. Cán
bộ y tế tại các cơ sở y tế có dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em cần được
đào tạo để có thể giúp đỡ các bà mẹ cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu ngay
sau khi sinh; hướng dẫn cách cho trẻ bú đúng và cách duy trì nguồn sữa mẹ
[17] .
Năm 2007, 34 cuộc thử nghiệm nhằm đánh giá phân tích tác động hỗ trợ cho
con bú ảnh hưởng như thế nào đến bú sữa mẹ sớm và BSMHT diễn ra ở 14
quốc gia, với sự tham gia của 29.385 phụ nữ cho con bú. Các tác giả kết luận
rằng, tất cả các hình thức hỗ trợ cho con bú đều làm tăng thời gian cho con bú
và giảm ngừng bú trước 6 tháng. Khi phân tích sâu hơn, thì sự hỗ trợ từ các
nhân viên y tế làm kéo dài thời gian cho trẻ bú, còn sự hỗ trợ từ người thân thì
có hiệu quả trong việc kéo dài thời gian BSMHT. 23/34 cuộc thử nghiệm được
triển khai ở 7 nước có thu nhập cao và 7 cuộc thử nghiệm ở các nước có thu
nhập trung bình và thấp, do đó nghiên cứu cũng khuyến nghị cần có thêm các
nghiên cứu khác để làm rõ những rào cản về văn hóa, yếu tố sinh học, tôn giáo,
kinh tế - xã hội và các yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện hướng dẫn thực hành
lâm sàng để hỗ trợ cho trẻ BSMHT ở các quốc gia khác nhau [21] .

bà mẹ đi làm. Tỷ lệ các bà mẹ cho con bú giảm nhanh sau khi trờ lại công việc,
khoảng 39% bà mẹ ngừng cho con bú sau khi trở lại làm việc. Chỉ có 7.6% các
bà mẹ tiếp tục cho con bú đến 1 năm [55] . Ở Đài Loan, nghiên cứu thuần tuần
tập tương lai, phỏng vấn bằng bộ câu hỏi cấu trúc trên 24.200 phụ nữ bà mẹ sau


24

sinh con tại 2 thời điểm 6 tháng và 18 tháng để tìm hiểu mối liên quan giữa
công việc của mẹ và cho con bú sữa mẹ. Nhìn chung 67.9%, 39.4%, 2.4% và
12.7% bà mẹ tiếp tục cho con bú tương ứng với các thời điểm 1, 3, 6 và 12
tháng. Phụ nữa có thời gian nghỉ đẻ ít hơn 6 tháng ngừng cho con bú sớm hơn
so với những bà mẹ nghỉ hơn 6 tháng, và những bà mẹ không đi làm thì lên tới
18 tháng sau sinh [22] . Nghiên cứu ở Mỹ về sự ảnh hưởng của thời gian làm
việc của mẹ ảnh hưởng như thế nào đến việc bú sữa mẹ cũng cho thấy những
phụ nữ được hưởng chế độ thai sản so với những phụ nữ phải trở lại công việc
sau 1 – 6 tuần sau sinh thì những phụ nữ chưa phải đi làm có tỷ lệ cho con bú
sớm cao hơn ( OR=1,46, CI 95%: 1.08 – 1.97), tiếp tục cho con bú vượt qua 6
tháng ( OR = 1.41, CI 95%:0.87 – 2.27) và cho con bú sữa mẹ là chủ yếu hơn
3 tháng ( OR: 2.01, CI 95%: 1.06 – 3.80) cao hơn so với những phụ nữ phải đi
làm từ lúc 1 – 6 tuần sau sinh [54] .
Chế độ nghỉ thai sản là chìa khóa đảm bảo mọi trẻ sinh ra đều được bú mẹ hoàn
toàn từ giây phút chào đời cho tới khi được 6 tháng tuổi.
Năm 2011, theo điều tra của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (TLĐLĐ) về
việc thực thi chính sách nghỉ thai sản và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ tại
nơi làm việc, có đến 78% lao động nữ nhận thức được sữa mẹ là nguồn dinh
dưỡng tốt nhất cho trẻ nhỏ, nhưng chỉ có 36% trẻ được tiếp tục cho bú mẹ đến
19 – 24 tháng do người mẹ phải đi làm trở lại. Năm 2012, Quốc hội Việt Nam
đã quyết định tăng thời gian nghỉ thai sản từ 4 lên 6 tháng từ ngày 01tháng 05
năm 2013. Quyết định này rất quan trọng trong việc tạo điều kiện để phụ nữ

khó chịu sau khi mổ và sự khác biệt về sinh lý và nội tiết giữa quá trình đẻ mổ
và đẻ thường. Ngoài ra, những sản phụ nữ quyết định chọn mổ đẻ theo yêu cầu
thường ít có ý định cho con bú bởi vì có thể họ không thoải mái với diễn biến
tâm sinh lý bình thường của việc đẻ tự nhiên và cho con bú [29, 31] .
1.5.7. Chế độ thai sản cho người cha:

Một nghiên cứu thuần tập tương lai ở Thụy Điển nhằm mục đích mô tả ảnh
hưởng của tình trạng kinh tế và chế độ thai sản của người cha ảnh hưởng như
thế nào đến thời gian cho con bú. Dữ liệu được lấy từ 51.671 trẻ ở 2 thành phố
Orebro and Uppsala. Nghiên cứu chỉ ra rằng những người cha được hưởng chế
độ thai sản thì khả năng trẻ bú sữa mẹ cao hơn ở những thời điểm 2 – 4 – 6
tháng so với những người cha không được hưởng chế độ thai sản (tháng 2 (p



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status