CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài:
ĐIỀU TRA BAN ĐẦU BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CÁC CHẤT
DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE TẠI MỘT SỐ TỈNH
MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM NĂM 2014
Chủ nhiệm đề tài: TS. Phạm Đức Mạnh
Đồng chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Lê Thị Hương
Cơ quan thực hiện đề tài: Viện Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng,
Trường Đại học Y Hà Nội
Cơ quan quản lý đề tài: Cục Phòng, chống HIV/AIDS
Mã số đề tài:
Hà Nội, 12/2014
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng thuốc
Methadone là việc sử dụng thuốc, kết hợp với liệu pháp tư vấn và hành vi để
điều trị toàn diện cho người sử dụng ma túy (SDMT) . Trên thế giới, nhiều
nghiên cứu đã chứng minh điều trị bằng Methadone có hiệu quả trong việc
làm giảm sử dụng heroin , , , ,, dự phòng lây nhiễm HIV , , tăng tuân thủ điều
trị ARV và giảm tỷ lệ tử vong cho những bệnh nhân tham gia điều trị
Methadone .
Tại nước ta, chương trình điều trị bằng Methadone được triển khai thí điểm
tại Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh từ năm 2008. Cho đến nay chương trình đã
được triển khai rộng rãi tại 32 tỉnh, thành phố. Một số nghiên cứu tại Việt
2
thuốc phiện (CDTP) bằng thuốc Methadone trong tương lai tại các tỉnh miền
núi thuộc vùng này, với các mục tiêu cụ thể như sau:
1. Mô tả kiến thức và hành vi phòng chống HIV/AIDS của bệnh nhân mới
điều trị bằng thuốc Methadone tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt nam
năm 2014.
2. Mô tả tình trạng sức khoẻ và chất lượng cuộc sống có liên quan tới sức
khoẻ của bệnh nhân mới bắt đầu tham gia điều trị bằng thuốc Methadone tại
một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam năm 2014.
3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Các khái niệm cơ bản về điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng
thuốc Methadone và HIV/AIDS:
1.1.1. Các khái niệm cơ bản về điều trị nghiện CDTP bằng thuốc Methadone:
Chất ma tuý là các chất gây nghiện được quy định trong các danh mục do
Chính phủ ban hành.
Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid) là tên gọi chung cho nhiều chất như
thuốc phiện, morphine, heroin, methadone, buprenorphine, LAAM… có biểu
hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não.
Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma tuý và bị lệ thuộc vào các
chất này.
Dung nạp là tình trạng đáp ứng của cơ thể với một chất, được biểu hiện bằng
sức chịu đựng của cơ thể ở liều lượng nhất định của chất đó. Khả năng dung
nạp phụ thuộc vào cơ địa và tình trạng của cơ thể. Khi khả năng dung nạp
thay đổi, cần thiết phải thay đổi liều lượng của chất đã sử dụng để đạt được
Theo qui định tại Điều 2 của Pháp lệnh phòng chống nhiễm virus gây ra hội
chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS): HIV (Human
Immunodeficiency Virus) là loại virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch
mắc phải ở người. AIDS (Acquired Immune Deficiency Syndrome) là giai
đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch của
cơ thể, làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh
và dẫn đến chết người [2].
Hiện nay, nhờ sự phát triển, tiến bộ của khoa học, kỹ thuật mà HIV/AIDS đã
được hiểu sâu sắc và rõ ràng hơn. Theo đó, HIV (Human Immunodeficiency
Virus) là virus suy giảm miễn dịch ở người, có khả năng gây hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), một tình trạng làm hệ miễn dịch của con
người bị suy giảm cấp tiến, tạo điều kiện cho những nhiễm trùng cơ hội và
ung thư phát triển mạnh làm đe dọa đến mạng sống của người bị nhiễm .
AIDS là viết tắt của Tiếng Anh (Acquered Immuno Deficiency Syndrome) có
nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, viết tắt theo tiếng Pháp là
SIDA (Syndrome de Immuno Deficience Acquise), dùng để chỉ giai đoạn
cuối của quá trình nhiễm HIV/AIDS. Ở giai đoạn này hệ thống miễn dịch của
cơ thể đã suy yếu nên người nhiễm HIV dễ dàng mắc bệnh như ung thư, viêm
phổi, lao, viêm da, lở loét toàn thân hay suy kiệt, nặng dần dẫn đến cái chết .
1.1.2.2. Các thời kỳ, giai đoạn và triệu chứng biểu hiện của nhiễm HIV
Hiện nay, người nhiễm HIV được chia ra làm 4 thời kỳ mắc bệnh .
- Thời kỳ cửa sổ (phơi nhiễm): Thời kỳ này rất dễ lây lan cho người khác vì
số lượng virus trong máu rất cao, nhưng chưa có kháng thể. Người bệnh
thường bị sốt, viêm họng, nổi hạch, nhức đầu, khó chịu, phát ban. Do không
có triệu chứng đặc hiệu nên thầy thuốc thường hay chuẩn đoán chung là
nhiễm siêu vi. Vì vậy, nếu sau khi quan hệ tình dục không an toàn (hay một
sự cố nào gây nghi ngờ nhiễm HIV), bệnh nhân cần xét nghiệm máu (kỹ thuật
5
túy bị nhiễm HIV rất cao (chiếm 10-50% hoặc cao hơn nữa trong tổng số
người nhiễm HIV). Ngoài ra, truyền máu và các chế phẩm của máu đóng vai
trò quan trọng trong lây truyền HIV nếu các ngân hàng máu không thực hiện
nghiêm túc việc truyền máu an toàn. Cán bộ y tế tiếp xúc trực tiếp với máu
nhiễm HIV và vật sắc nhọn đâm vào da có thể bị nhiễm tới 0,5%.
- Mẹ bị nhiễm HIV truyền cho con lúc mang thai hoặc sinh nở: Phụ nữ nhiễm
virus HIV nếu sinh con sẽ có khả nǎng khoảng 30% là con nhiễm HIV theo
mẹ, có nghĩa là cứ 100 bà mẹ nhiễm HIV sinh con thì có khoảng 30 trẻ bị
6
nhiễm. Virus HIV có thể lây sang trẻ qua nhau thai khi trẻ còn nằm trong
bụng mẹ, qua máu và chất dịch của mẹ khi sinh, và một số nhỏ lây qua sữa
mẹ khi mẹ cho bé bú. Trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV thường không sống được quá
ba nǎm.
1.2. Một số đặc điểm dịch tễ học và tình hình nhiễm HIV tại Việt Nam
Theo thống kê của Bộ Y tế vào tháng 4/2010, tổng số trường hợp nhiễm HIV
còn sống là 164.788, số người mắc AIDS còn sống khoảng 37.498.tổng số
trường hợp đã chết do AIDS: 45.564. Trong số đó, có 85% là nam, 57% do
tiêm chích ma túy. Báo cáo cho thấy, đa số người nhiễm HIV/AIDS mới được
phát hiện ở lứa tuổi còn trẻ (nhóm tuổi từ 20-39 chiếm tới 90%). Khoảng 5%
PNBD có xét nghiệm HIV dương tính. Tuy nhiên, Tổ chức Y tế thế giới ước
lượng rằng ở Việt Nam có tới hơn 80% trường hợp nhiễm HIV không được
báo cáo và 77% là lây truyền qua đường tình dục .
Theo báo cáo “Tổng kết công tác phòng, chống HIV/AIDS năm 2013 và định
hướng kế hoạch năm 2014”, tính đến hết 30/11/2013, tức là sau khoảng hơn 3
năm so với thống kê của Bộ Y tế vào 4/2010, các con số liên quan đến HIV
đã có sự tăng lên khá lớn. Số lũy tích các trường hợp báo cáo hiện nhiễm HIV
là 216.254 trường hợp, số bệnh nhân AIDS là 66.533 và đã có 68.977 trường
hợp tử vong do AIDS. Riêng trong 11 tháng đầu năm 2013, cả nước xét
Biểu đồ 1.3: phân bố tỷ lệ nhiễm HIV theo nhóm tuổi và năm .
8
Nếu xem xét phân bố người lây nhiễm HIV theo đường truyền thì tỷ lệ người
nhiễm HIV được phát hiện lây truyền qua đường tình dục ngày càng gia tăng
trong khi lây truyền qua đường máu có xu hướng giảm. Trong năm 2013, số
người lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ cao nhất 45% tiếp đến số lây
truyền qua đường máu chiếm 42,4%, tỷ lệ nhiễm HIV lây truyền từ mẹ sang
con 2,4%, vẫn có 10,1% tỷ lệ người nhiễm HIV không rõ đường lây truyền.
Theo kết quả có được từ Hệ thống giám sát trọng điểm (GSTĐ) HIV (được
triển khai từ năm 1994 tại 10 tỉnh/thành phố. Hệ thống này đã được mở rộng,
tới năm 2013 có 41 tỉnh/thành phố tham gia, chương trình GSTĐ được thực
hiện trên nhóm phụ nữ bán dâm (PNBD), người tiêm chích ma túy (TCMT),
nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM), bệnh nhân nam mắc STI, bệnh nhân
lao, phụ nữ mang thai và thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự) cho thấy
rằng: Chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm NCMT giảm dần qua các năm. Tỷ
lệ nhiễm HIV trong nhóm nam NCMT tại khu vực miền Bắc có xu hướng
giảm dần qua các năm nhưng vẫn cao hơn so với tỷ lệ chung của toàn quốc. Ở
nhóm phụ nữ bán dâm, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong năm 2013 là 2,6% (giảm
0,1% so với năm 2012). Tỷ lệ này tại khu vực miền Bắc mặc dù có xu hướng
giảm nhưng vẫn ở mức cao so với tỷ lệ chung của toàn quốc. Phân tích chiều
hướng nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ bán dâm qua các năm cho thấy tỷ lệ
tăng lên nhanh chóng từ 0,6% năm 1994 lên 5,9% năm 2012. Trong giai đoạn
2002 đến 2010, tỷ lệ có sự biến động không ổn định, tuy nhiên trong 3 năm
trở lại đây, tỷ lệ này có xu hướng giảm dần. Ngoài ra, tuy tỷ lệ nhiễm HIV
trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới vẫn ở mức thấp so với các đối
tượng còn lại nhưng lại đang có xu hướng tăng nhẹ.
Vậy nhìn chung, tình hình lây nhiễm HIV trong nước ta vẫn đang tồn tại
nhiều vấn đề phức tạp, đồng thời cũng đang nổi lên những vấn đề mới cần
ma tuý. Các nghiên cứu chỉ ra rằng khi điều trị rối loại nghiện ma túy, sự kết
hợp giữa thuốc và liệu pháp hành vi là biện pháp điều trị hiệu quả và thành
công nhất. Còn theo Bộ Y tế Việt Nam, điều trị thay thế nghiện các CDTP
bằng thuốc methadone là một điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được
sử dụng theo đường uống, duới dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh lây
truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, viêm gan C, đồng thời giúp
người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hoà nhập cộng
đồng . Ðiều trị methadone chỉ áp dụng với người nghiện CDTP (heroin) mà
không áp dụng với những trường hợp nghiện rượu, thuốc lá, benzodiazepine
và ma túy tổng hợp dạng amphetamine .
Trong những thập kỷ đầu tiên sau khi ra đời, phương thức điều trị
methadone được coi là một biện pháp điều trị tạm thời nhằm mục đích cuối
cùng là giảm liều và bệnh nhân sẽ ngừng sử dụng methadone một cách hoàn
toàn. Ngày nay, điều trị duy trì methadone không còn được coi là một biện
pháp trị liệu tạm thời nữa mà là một biện pháp điều trị lâu dài, thường là suốt
đời. Như vậy nếu bệnh nhân thỉnh thoảng có một đợt dùng lại heroin (hoặc
các chất ma túy khác) là bằng chứng chứng tỏ sự thất bại của liệu pháp điều
trị bằng methadone.Việc tái sử dụng ma túy là một chỉ số đánh giá mức độ
tuân thủ điều trị của bệnh nhân tham gia điều trị Methadone. Đã có nhiều
nghiên cứu cho thấy rằng đối với nhiều bệnh mạn tính như bệnh tim mạch,
cao huyết áp hay đái tháo đường thì mức độ tuân thủ điều trị thường ở mức
thấp.
Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc điều trị thay thế nghiện các
CDTP bằng thuốc methadone nhằm 3 mục đích chủ yếu sau: 1, Giảm tác hại
do nghiện các CDTP gây ra như: lây nhiễm HIV, viêm gan B, viêm gan C do
sử dụng chung dụng cụ tiêm chích, tử vong do sử dụng quá liều các CDTP và
hoạt động tội phạm; 2. Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ
10
chịu áp lực trong cuộc sống, giảm nguy cơ sử dụng và cuối cùng không dùng
heroin nữa.
Tuy nhiên, nhược điểm của điều trị bằng methadone cũng có khá nhiều, đó là:
1, Bệnh nhân phải cam kết đến cơ sở diều trị hàng ngày để uống thuốc; 2,
Khó thực hiện các chuyến đi, các kỳ nghỉ xa khỏi nơi cơ trú; 3, Có thể gặp
các tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe; 4, Vẫn bị lệ thuộc vào thuốc cho
đến khi kết thúc chương trình điều trị. Methadone là một thuốc có tác dụng
mạnh và có thể nguy hiểm nếu dùng không đúng cách. Nó cũng có thể gây
tình trạng quá liều khi sử dụng quá nhiều methadone .
1.3.4. Các chính sách liên quan và tình hình điều trị thay thế nghiện các chất
dạng thuốc phiện bằng Methadone tại nước ta.
Điều trị thay thế bằng Methadone còn là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt
Nam. Chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
11
Methadone đã được triển khai thí điểm tại thành phố Hải Phòng và thành phố
Hồ Chí Minh với 06 cơ sở điều trị từ tháng 4/2008. Ngay sau đó, vào tháng
10/2008, Bộ Y tế đã ra quyết định số 4230/QĐ-BYT về việc ban hành tiêu chí
lựa chọn doanh nghiệp dược phẩm tham gia sản xuất thuốc methadone tại
Việt Nam để phục vụ cho đề án thí điểm này. Ngày 15/11/2012, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 96/2012/NĐ-CP về điều trị nghiện các chất dạng
thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định
số 96/2012/NĐ-CP, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 12/2013/TT-BYT ngày
12/4/2013 về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 96. Cũng
theo nội dung của hai văn bản này, trong giai đoạn tiếp theo, chương trình
Methadone có thể được mở rộng với tốc độ nhanh hơn, cứ mỗi quận/huyện có
trên 250 người nghiện chích ma túy thì UBND tỉnh/thành phố phải thành lập
cơ sở điều trị Methadone. Liên quan đến cơ sở điều trị methadone này thì vào
ngày 15/10/2013, Bộ Y tế đã có công văn số 6544/BYT-KH-TC về việc
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, để liệu pháp điều trị này có thể
mang lại lợi ích tối đa, độ bao phủ của Chương trình cần đạt được mức tối
thiểu là 20% đến 30% [10]. Nhận xét của Chuyên gia y tế Việt Nam cũng cho
biết khi độ bao phủ điều trị nghiện bằng thuốc Methadone vượt mức 40% thì
dịch HIV ở nhóm người nghiện chích ma túy được khống chế và giảm [6].
Bởi vậy, Nhà nước cần có thêm nhiều biện pháp cụ thể, rõ ràng hơn nữa để
đạt được mục tiêu này.
1.3.5. Những ưu điểm và hạn chế trong công tác điều trị Methadone tại Việt
Nam
- Ưu điểm:
Chương trình điều trị Methadone tại Việt Nam có nhiều ưu điểm rõ rệt. Ưu
điểm đầu tiên phải kể đến là từ khi được triển khai thí điểm tại Hải Phòng và
Thành phố Hồ Chí Mình, chương trình đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của
nhân dân, đặc biệt là những người bị nhiễm HIV và người thân, gia đình của
họ. Chương trình đã và đang từng bước được triển khai trên diện rộng. Điều
trị Methadone luôn hướng tới những đối tượng dễ bị tổn thương trong cộng
đồng và các đối tượng chính sách, điều đó đã cho thấy chính sách nhân đạo rõ
ràng, mang tính nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta. Minh chứng thể
hiện rõ việc này là hoạt động triển khai mô hình điều trị nghiện các dạng chất
thuốc phiện bằng thuốc thay thế methadone trong các trại giam, tạm giam và
trường giáo dưỡng cho phạm nhân (Cục Y tế-Bộ Công An đã phối hợp với
Cục Phòng, chống HIV/AIDS - Bộ Y tế xây dựng kế hoạch triển khai thí
điểm điều trị nghiện các dạng thuốc phiện bằng methadone trong trại giam,
tạm giam).
- Hạn chế:
Mặc dù, chương trình điều trị bằng thuốc Methadone triển khai trên thực tiễn
có hiệu quả, được dư luận xã hội đánh giá cao kết quả điều trị, nhưng việc
triển khai chương trình vẫn gặp khó khăn bất cập trong việc mở rộng quy mô
lớn những người còn lại sẽ phải chịu gánh nặng rất lớn nếu viện trợ bị cắt.
Theo tính toán của Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương, chỉ có 40% bệnh nhân
đang điều trị methadone ở Hải Phòng mong muốn tham gia chương trình với
điều kiện phải chi trả ở mức đóng góp thấp nhất, khoảng 450.000 đồng/tháng
(tức 15.000 đồng/ngày), 60% còn lại cho biết sẽ từ bỏ chương trình nếu mức
quá cao, ngoài khả năng của họ .
Theo thông tin từ Bộ Y tế, một hạn chế nữa là các địa phương gặp khó khăn
về nhân lực, không có đủ biên chế để bố trí cho các cơ sở điều trị
methadone. Lý do là vì mức lương hiện tại của nhân viên là chưa thỏa đáng
(1.500.000đồng/tháng cho nhân viên tại Hải Phòng) cho công việc kéo dài
liên tục tất cả các ngày trong năm. Trong khi, chính sách cho các nhân viên
này còn nhiều hạn hẹp nên nhiều người không tha thiết với công việc và
không muốn gắn bó dài lâu. Cùng với đó, do thiếu sự đồng thuận, phối hợp
chặt chẽ giữa các bộ, ngành liên quan như Bộ Y tế, Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội, Bộ Công An, nên ngân sách đầu tư cho chương trình
Methadone chưa được thỏa đáng và tài chính phân bổ giữa các Bộ cũng chưa
hiệu quả. Ngoài ra, thủ tục hành chính để đưa người nghiện vào điều trị bằng
Methaodone vẫn còn chưa thuận lợi và phức tạp, trong đó có việc phải có xác
nhận của chính quyền địa phương là không thuộc đối tượng phải đưa đi cai
nghiện bắt buộc . Không chỉ vậy, chương trình điều trị methadone được triển
khai chậm và hiệu quả thấp ở các địa bàn xa xôi, hẻo lánh, ở các vùng khó
khăn, miền núi do nhiều lý do như giao thông khó khăn, phong tục tập quán
lạc hậu tại địa phương, người dân chưa có ý thức tự giác và nhận thức chưa
đầy đủ về lợi ích, hiệu quả mà việc điều trị này mang lại.
Nhìn chung, điều trị bằng methadone tại nước ta đã đạt được hiệu quả đáng
kể, nhưng những kết quả này lại khó có thể tồn tại được bền vững vì các khó
14
khăn và hạn chế nêu trên. Vậy vậy, Chính phủ và Nhà nước cần có các biện
methadone tại các nước mới triển khai chương trình methadone từ đầu thập
niên 2000 như ở Trung quốc, Thái Lan, Indonesia . Trên các tạp chí chuyên
đề, và trên các diễn đàn quốc tế như Hội nghị AIDS 2011 Busan, các nhà
nghiên cứu Trung quốc, Thái Lan, Indonesia cũng đã báo cáo hiệu quả của
điều trị thay thế tình trạng nghiện chất dạng thuốc phiện trong lĩnh vực
HIV/AIDS và dự phòng tại một số các nước đang phát triển hoặc đang
chuyển đổi (developing and transitional economies) ở châu Á, Đông Âu. Tiêu
chí đánh giá của các nghiên cứu này đều tập trung vào 5 yếu tố kể trên .
15
Nghiên cứu vào giữa thập kỷ 80 của Ball JC và Ross A về hiệu quả của việc
điều trị thay thế bằng Methadone cho thấy 77% bệnh nhân ngừng sử dụng
Heroin bằng đường tiêm chích trong 6 tháng đầu tiên tham gia điều trị, sau 4
đến 5 năm điều trị tỷ lệ bệnh nhân ngừng sử dụng Heroin tăng lên tới 92%,
96% bệnh nhân báo cáo không dùng ma túy tổng hợp và 83% bệnh nhân
không dùng Cocaine .
Chương trình Methadone cũng làm giảm các hành vi nguy cơ làm lây nhiễm
HIV như tiêm chích ma túy, sử dụng chung bơm kim tiêm, có nhiều bạn tình
hay bán dâm . Điều trị thay thế bằng Methadone đường uống làm giảm nguy
cơ lây nhiễm HIV trong nhóm người nghiện các CDTP do giảm việc tiêm
chích, giảm tỷ lệ sử dụng chung BKT. Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy người
NCMT không được điều trị bằng Methadone có tỷ lệ huyết thanh dương tính
với HIV tăng từ 21% tới trên 51% sau 5 năm theo dõi; với nhóm người
NCMT được điều trị bằng Methadone, tỷ lệ này chỉ tăng từ 13% đến 21%.
Metzger DS và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu trong 18 tháng về nhóm
người SDMT có HIV âm tính tham gia điều trị Methadone và không điều trị
Methadone, kết quả cho thấy sau 18 tháng, tỷ lệ có HIV dương tính trong
nhóm bệnh nhân điều trị Methadone là 3,5% và tỷ lệ này ở nhóm không được
điều trị Methadone là 22% ,.
1.4.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam
1.4.2.1. Các nghiên cứu về hiệu quả chương trình điều trị Methadone:
Cho tới nay, các nghiên cứu về chương trình Methadone được thực hiện ở
Việt Nam chủ yếu tập trung vào đánh giá hiệu quả của chương trình, có ít
nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của những người tham gia điều
trị Methadone về phòng chống HIV/AIDS.
Các nghiên cứu tại Việt nam cũng cho thấy hiệu quả tương tự như nhiều
nghiên cứu trước đó trên thế giới, đó là việc giảm SDMT bất hợp pháp, tăng
khả năng lao động, giảm chi tiêu cho việc mua ma túy và giảm hành vi sai
phạm và cải thiện sức khỏe thể chất, tâm thần.
Kết quả nghiên cứu tại Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn thí
điểm tại 6 cơ sở điều trị Methadone hoạt động từ tháng 4/2008 cho thấy, sau
3 và 6 tháng theo dõi việc sử dụng heroin và các hành vi nguy cơ lây nhiễm
HIV giảm đi đáng kể. Đánh giá thang điểm Chất lượng sống của Tổ chức Y
tế Thế giới tăng lên: về thể chất (81 so với 69), tâm lý (69 so với 56) và xã
hội (56 so với 50). Tỉ lệ người tham gia điều trị có việc làm tăng từ 55% lên
66% (p=0,028). Chi phí ước tính của chương trình methadone là 15.000 –
20.000 VNĐ/người bệnh/ngày. Tuy nhiên, tất cả 06 cơ sở điều trị tham gia
nghiên cứu này đều cung cấp dịch vụ miễn phí [6].
Báo cáo gần đây nhất của tỉnh Điện Biên cũng đã cho thấy nhiều kết quả khả
quan về hiệu quả của chương trình. Sau 3 năm triển khai chương trình điều trị
Methadone tại Điện Biên cho thấy chỉ còn 7,3% người sử dụng ma túy không
thường xuyên, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt là 78,5%; hầu hết các bệnh
nhân đánh giá về chương trình điều trị Methadone và đánh giá chất lượng
hoạt động của cơ sở điều trị Methadone là tốt và rất tốt (>98%).
Nghiên cứu của Hoàng Đình Cảnh và Nguyễn Thanh Long vào năm 2009 cho
biết rằng, điều trị bằng Methadone đã đem lại nhiều kết quả khả quan. Cụ thể,
từ khi bắt đầu điều trị đến thời điểm 2009, chưa có bệnh nhân nào xuất hiện
các tác dụng phụ nghiêm trọng. Tác dụng phụ hay gặp nhất là táo bón (61%),
các triệu chứng khác như suy giảm tình dục, mất ngủ, buồn nôn… chiếm tỷ lệ
hôi, hay khô miệng làm họ thấy chán ăn. Tác dụng phụ của Methadone đã
ảnh hưởng đến tâm lý của một số bệnh nhân đang điều trị: nghi ngại về thuốc
ảnh hưởng đến sức khỏe của họ và ngoài ra, bệnh nhân cảm thấy khó khăn và
ngại với việc hằng ngày phải đi đến cơ sở y tế để uống thuốc . Tuy nhu cầu
điều trị methadone tại huyện Từ Liêm là rất lớn, họ nhận thức được tham gia
là giúp bản thân, người thân và gia đình, nhưng việc tiếp cận chương trình
của họ lại gặp phải nhiều khó khăn, cản trở: đó là vì tâm lý của chính người
nghiện lo ngại về thủ tục vì phải có xác nhận của công an; họ sợ phải đi cai
nghiện bắt buộc; sợ bị ảnh hưởng đến công việc, học tập khi tham gia; một số
khác lại chưa tin tưởng vào điều trị, sợ nghiện methadone. Ngoài ra, còn do
yếu tố là một số gia đình thiếu kiến thức về điều trị methadone. Tại địa
phương, thiếu đi công tác truyền thông về chương trình, thời gian chờ đợi xét
duyệt lâu làm nhiều người không thể tham gia vào chương trình.
18
1.4.3. Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành của người nghiện
chích ma túy được điều trị bằng thuốc Methadone.
Hiện nay, tại nước ta, có rất nhiều các nghiên cứu về kiến thức, thực hành của
người nghiện ma túy, tuy nhiên nghiên cứu liên quan đến kiến thức, thái độ
và thực hành của những người nghiện ma túy đang được điều trị bằng thuốc
methadone là rất ít, phần lớn vấn đề này chỉ được tìm hiểu bằng cách lồng
ghép vào một dự án nào đó, chứ hầu như chưa có sự tập trung chuyên biệt
riêng.
Về kiến thức, trong nghiên cứu “Mô tả thực trạng cung cấp dịch vụ y tế
chương trình dùng thuốc thay thế methadone can thiệp trong nhóm nghiện
chích ma túy tại thành phố Hà Nội” năm 2012, các tác giả đã cho thấy nhóm
đối tượng nghiên cứu còn thiếu hiểu biết về nguyên nhân cũng như nguy cơ
lây nhiễm HIV/AIDS: như với câu hỏi luôn sử dụng BCS đúng cách khi
Ngoài kiến thức và thái độ thì hành vi của các bệnh nhân cũng thay đổi khá
rõ. Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Anh Quang và cộng sự vào năm
2012 cho thấy sau khi điều trị duy trì có tới 98,7% người NCMT có QHTD
với vợ/bạn tình trong 1 tháng trở lại đó. Trong khi, hành vi sử dụng BCS
thường xuyên khi quan hệ thì có tỷ lệ trước điều trị là 97,8%, cao hơn sau khi
điều trị là 77,2%. Trước khi điều trị methadone, có 8,3% bệnh nhân tại Hà
Đông và Từ Liêm cho biết có hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm. Trong
quá trình điều trị thì không còn trường hợp nào còn sử dụng chung nữa. Mặc
dù chưa có đủ bằng chứng để kết luận hiệu quả của điều trị Methadone giúp
bệnh nhân thay đổi hành vi dùng chung bơm kim tiêm, tuy nhiên có thể thấy
việc giảm tần suất tiêm chích ma túy cũng đã góp phần hạn chế khả năng
dùng chung bơm kim tiêm, ngay cả trong nhóm những bệnh nhân vẫn tiếp tục
tiêm chích. Thêm vào đó, có sự thay đổi tích cực trong việc sử dụng BCS với
PNBD trước và sau điều trị: tỷ lệ người bệnh có sử dụng BCS tăng lên từ
83,4% lên 87,9% . Tỷ lệ sử dụng BCS được cải thiện đặc biệt có ý nghĩa
trong dự phòng lây truyền HIV từ quần thể có tiêm chích ma túy sang các
nhóm quần thể khác.
Nghiên cứu của một số tác giả thuộc Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Hà
Nội năm 2013 cho thấy những thay đổi trong một các hành vi của đối tượng
NCMT. Một là tần suất tiêm chích ma túy trong 1 tháng qua của những đối
tượng này đã giảm dần.Trong đó, mức độ NCMT 2-3 lần. ngày giảm từ
53,3% xuống 45,5%, tần suất tiêm chích trên 3 lần/ngày giảm từ 6% xuống
3,2%. Thêm nữa, tỷ lệ đối tượng không bao giờ sử dụng chung BKT trong 1
tháng trở lại đã tăng từ 93,9% lên 94,7%. Nếu vào năm 2012 có tới 7,8%
bệnh nhân cho biết có sử dụng chung BKT thì đến thời điểm năm 2013, tỷ lệ
này đã giảm rất rõ rệt (chỉ còn 0,3%).
Nhìn chung, các nghiên cứu này đã cho thấy những thay đổi khá rõ nét theo
hướng tích cực về các mặt kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân khi
được tham gia điều trị methadone. Đây là một tín hiệu đáng mừng, tạo động
lực hơn cho không chỉ người bệnh nghiện ma túy tiếp tục điều trị methadone
Cục phòng chống HIV/AIDS, số lượng bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS hiện
đang tăng cao tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Nếu như vào năm 2012, trong
10 tỉnh có tỷ lệ người nhiễm HIV cao nhất nước có tới 7 tỉnh thuộc miền núi
phía Bắc như Thái Nguyên, Sơn La, Điện Biên… thì vào năm 2013, riêng ở
khu vực này hiện đã có 8/10 tỉnh có số người nhiễm HIV/AIDS cao nhất cả
nước. Trong đó, Điện Biên là tỉnh có tỷ lệ người nhiễm HIV cao nhất so với
tất cả các tỉnh thành trên cả nước (với tỷ lệ nhiễm HIV lên tới 980/100.000
người dân), hay tại Sơn La, năm 2000 mới có khoảng 4.000 người nghiện có
hồ sơ quản lý thì tới năm 2008 đã phát hiện trên 16.000 người nghiện và nếu
kể cả số nghi nghiện thì con số trên lên tới 23.000 người. Cũng theo số liệu
thống kê vào tháng 11/2013, nhìn chung khu vực miền núi phía Bắc có tỷ lệ
nhiễm HIV/100.000 dân rất cao, đứng thứ 2 cả nước (357/100.000), chỉ đứng
sau miền Đông Nam Bộ (408/100.000).
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình hình nhiễm HIV cao ở các tỉnh miền
núi phía Bắc: Một là do đặc điểm về địa lý (khu vực vùng sâu, vùng xa, giáp
biên với nhiều nước) nên tình hình buôn bán và sử dụng ma túy ở khu vực
này diễn biến rất phức tạp. Trình độ dân trí thấp, đa phần người dân ở khu
vực miền núi lại là người dân tộc thiểu số nên việc tiếp cận với thông tin về
dự phòng lây nhiễm HIV cũng như tiếp cận với chương trình can thiệp giarm
tác hại còn hạn chế (như không được tiếp cận với chương trình bơm kim
tiêm, bao cao su). Thứ hai là do người dân tại các tỉnh này vẫn trồng cây
thuốc phiện tại nhiều khu vực miền núi địa bàn khó tiếp cận nên đây cũng là
nguyên nhân làm gia tăng số người nghiện do thiếu hiểu biết và sử dụng
chính những sản phẩm thuốc phiện mà mình trồng được. Hầu hết các tỉnh
miền núi phía Bắc là các tỉnh nghèo nên không có đủ khả năng và nguồn lực
21
để triển khai các biện pháp dự phòng chống AIDS và cung cấp dịch vụ phòng
chống AIDS tới từng hộ dân, nên nguy cơ lây nhiễm HIV cũng tăng so với
trị, tỷ lệ bệnh nhân còn sử dụng ma túy đã giảm từ 100% xuống còn 37,6%
trong nhóm bệnh nhân điều trị dưới 6 tháng và 9,1% trong nhóm bệnh nhân
điều trị trên 6 tháng; tình hình sức khỏe của bệnh nhân được cải thiện hơn.
Tỉnh Yên Bái cũng là một tỉnh đang có nhiều kế hoạch triển khai, đẩy mạnh
thêm các hoạt động điều trị methadone trên địa bàn tỉnh. Cơ sở điều trị
methadone đầu tiên thuộc Trung tâm phòng, chống HIV/AISD tại Yên Bái
bắt đầu khởi liều Methadone và chính thức hoạt động từ tháng 9/2013. Việc
điều trị thay thế cainghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone tại
Trung tâm phòng chống HIV/AIDS của Sở Y tế tỉnh Yên Bái ban đầu đã cho
kết quả rất khả quan. Hiện cơ sở điều trị này có 114 bệnh nhân được điều trị.
22
Trong đó có 4 người vì các lý do khác nhau phải ngừng điều trị, còn lại 110
bệnh nhân đang được điều trị và đã có tới 70 bệnh nhân đã ổn định liều,
không bị tái nghiện, không bị hội chứng cai hành hạ, không sử dụng heroin
nữa. Ngày 24/3/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái Quyết định số 361/QĐUBND về việc phê duyệt Dự án” Triển khai điều trị thay thế nghiện các chất
dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Trung tâm y tế thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh
Yên Bái”,triển khai băng hoạt động khởi liều đầu tiên điều trị cho 16 bệnh
nhân nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone. Ngoài ra, nhằm mục
đích đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dự phòng và điều trị nghiện nhằm
giảm tác hại của nghiện ma túy, kiềm chế gia tăng người nghiện mới, góp
phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội và nâng cao sức khỏe cho nhân dân, hỗ
trợ người nghiện tái hòa nhập cộng đồng, vừa qua, Chủ tịch UBND tỉnh Yên
Bái đã phê duyệt Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy tỉnh Yên Bái đến
năm 2020 với rất nhiều mục tiêu cụ thể như: Phấn đấu 50% cán bộ chính
quyền các cấp và 50% người dân ở độ tuổi trưởng thành hiểu biết cơ bản về
nghiện ma túy, các biện pháp điều trị nghiện; trong giai đoạn 2014-2015, Yên
Bái phấn đấu 50% cán bộ dự phòng và điều trị nghiện được đào tạo kiến thức
cơ bản về điều trị nghiện; 50% cán bộ làm công tác tư vấn về dự phòng và
methadone tại thời điểm nghiên cứu tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt
Nam.
Tiêu chuẩn lựa chọn: đối tượng nghiên cứu cần đáp ứng được các tiêu chí
sau:
- Là người bệnh bắt đầu tham gia điều trị (trong vòng 3 tháng) tại thời điểm
nghiên cứu trong năm 2014.
- Tự nguyện và đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Có đủ sức khỏe về thể chất và tinh thần để tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những đối tượng không đủ sức khỏe để tham gia nghiên cứu
- Những đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu…..
2.2. Địa bàn nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu: tại các cơ sở Methadone của một số tỉnh miền núi phía
Bắc Việt Nam bao gồm: Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái.
Miền núi và trung du phía Bắc Việt Nam bao gồm 15 tỉnh: Hà Giang, Cao
Bằng, Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Yên Bái,
Thái Nguyên, Phú Thọ, Bắc Giang, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình.
Trong số các tỉnh này, một số tỉnh có nền kinh tế phát triển hơn, địa bàn giao
thông đi lại cũng thuận tiện hơn như Bắc Giang, Quảng Ninh. Trong khuôn
khổ nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu muốn tập trung tìm hiểu đặc điểm ban
đầu của nhóm nghiện chích ma túy tham gia điều trị nghiện bằng thuốc
Methadone tại các tỉnh miền núi nghèo, địa bàn đi lại có nhiều khó khăn.
Ngoài ra, do nghiên cứu được tiến hành trong thời gian ngắn, việc lựa chọn tất
cả các tỉnh triển khai chương trình methadone thuộc khu vực địa lý này vào
nghiên cứu là điều rất khó thực hiện. Nhóm nghiên cứu đã căn cứ trên tiêu chí
về địa bàn nghiên cứu, tình hình nghiện chích ma túy và tình hình nhiễm HIV
của các tỉnh cũng như căn cứ theo số lượng bệnh nhân tham gia điều trị bằng
thuốc Methadone tăng trong 5 tháng trước khi tiến hành nghiên cứu để chọn ra
ba tỉnh: Điện Biên, Lai Châu và Yên Bái làm địa bàn cho nghiên cứu này.
Các cơ sở điều trị được lựa chọn vào nghiên cứu là toàn bộ các cơ sở điều trị
Việc tuyển chọn đối tượng tham gia nghiên cứu được tiến hành theo phương
pháp chọn mẫu thuận tiện đối với người bệnh bắt đầu nhận điều trị tại cơ sở
điều trị methadone và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu.
25