CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS
TRUNG TÂM PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS TỈNH QUẢNG TRỊ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài:
Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của thành viên Ban chỉ đạo xã,
phường trọng điểm về công tác phòng, chống HIV/AIDS
tỉnh Quảng Trị năm 2011
Quảng Trị, tháng 12 năm 2011
CỤC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS
TRUNG TÂM PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS TỈNH QUẢNG TRỊ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài:
Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của thành viên Ban chỉ đạo xã,
phường trọng điểm về công tác phòng, chống HIV/AIDS
tỉnh Quảng Trị năm 2011
Chủ nhiệm đề tài: Ths, Bs. Nguyễn Thị Thanh Tịnh
Cơ quan thực hiện đề tài: Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Quảng Trị
Cấp quản lý: Cục Phòng, chống HIV/AIDS
Thời gian thực hiện: Từ tháng 3 năm 2011 đến tháng 12 năm2011
Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 55 triệu đồng
Trong đó: kinh phí SNKH
55 triệu đồng
dịch mắc phải)
BCĐ: Ban chỉ đạo
XPTĐ: Xã, phường trọng điểm
CSSKND: Chăm sóc sức khoẻ nhân dân
UBND: Uỷ ban nhân dân
QHTD: Quan hệ tình dục
BCS: Bao cao su
BKT: Bơm kim tiêm
MỤC LỤC
Phần A - Tóm tắt các kết quả nổi bật của đề tài:
1. Tóm tắt kết quả:
Nghiên cứu “Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tham của thành viên Ban chỉ
đạo xã phường trọng điểm về công tác phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Quảng Trị
năm 2011” là nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp nghiên cứu định
lượng và định tính.
Mục tiêu nghiên cứu để xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ
tham gia phòng, chống HIV/AIDS của cán bộ chủ chốt Ban, ngành đoàn thể tại
các xã phường trọng điểm nhằm tìm ra các giải pháp phù hợp khuyến khích sự
tham gia của BCĐ vào công cuộc phòng, chống HIV/AIDS tại cộng đồng.
Nghiên cứu được thực hiện trên 450 đối tượng là thành viên BCĐ (hoặc
Ban CSSKND) tại 100% (63 xã, phường) xã, phường trọng điểm về phòng,
chống HIV/AIDS tỉnh Quảng Trị. Thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 3 đến
tháng 12 năm 2011. Các thông tin được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp bằng
bộ câu hỏi và các câu hỏi gợi ý thảo luận nhóm. Sử dụng phần mềm SPSS để
tổng hợp, phân tích và kiểm định thông tin.
Nghiên cứu xác định mức độ tham gia của thành viên ban chỉ đạo tại 100%
trong công cuộc phòng, chống HIV/AIDS toàn tỉnh.
2. Đánh giá việc thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã được
phê duyệt.
2.1 Tiến độ: Thực hiện theo đúng tiến độ đề ra
2.2 Thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đề ra: Thực hiện đầy đủ các
mục tiêu đề ra
2.3 Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến trong bản đề cương: Tạo ra
đầy đủ các sản phẩm dự kiến trong đề cương.
3. Đánh giá việc sử dụng kinh phí:
Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 55 triệu đồng.
Trong đó: Kinh phí sự nghiệp khoa học: 55 triệu đồng.
Kinh phí từ nguồn khác: 0 triệu đồng.
Toàn bộ kinh phí đã được thanh quyết toán: 50.625.000 đồng
Chưa thanh quyết toán xong: 4.375.000 đồng (chưa tổ chức chia sẻ kết
quả nghiên cứu)
Kinh phí tồn động: 4.375.000 đồng.
2
4. Các ý kiến đề xuất:
4.1 Đề xuất về tài chính: Nếu được quyết toán hoạt động “báo cáo chia
sẻ kết quả nghiên cứu ” vào tháng 01 năm 2012 thì chúng tôi sẽ thực hiện.
4.2 Đề xuất về quản lý khoa học công nghệ: Nên có quyết định phê
duyệt đề tài nghiên cứu sớm hơn.
4.3 Đề xuất liên quan đến đề tài : Không có đề xuất gì
3
cho rằng chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS là trách nhiệm của toàn xã hội, bao
gồm ngành y tế, chính quyền, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng và gia đình[ 5]
Tại Hội nghị biểu dương cán bộ và cộng tác viên cơ sở tiêu biểu do Bộ Y
tế tổ chức ngày 20/12/2009, Cục trưởng Cục phòng,chống HIV/AIDS đã báo
cáo hàng năm có hơn 8.800 xã, phường (chiếm 81% tổng số xã, phường) ban
hành các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn triển khai Kế hoạch phòng, chống
HIV/AIDS trên địa bàn: Nghị quyết của HĐND xã, phường, của UBND xã,
phường hay công văn hướng dẫn ban, ngành hoặc thôn, bản, ấp thực hiện công
tác phòng, chống HIV/AIDS hoặc là Kế hoạch triển khai Tháng hành động quốc
gia về phòng, chống HIV/AIDS[3]
Theo báo cáo Phan Ngọc Kiều Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Quảng Trị ( 2010)
về tình hình thực hiện chỉ thị 54 - CT/TW trong việc tăng cường công tác
phòng, chống HIV/AIDS trong tình hình mới thì hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS đã được triển khai rộng khắp, có sự cam kết mạnh mẽ của các cấp
Uỷ Đảng, chính quyền, sự phối hợp tích cực của các Ban, ngành, đoàn thể, các
hoạt động đã đi vào chiều sâu, từng bước xã hội hoá công tác phòng, chống
HIV/AIDS. Nhưng bên cạnh đó còn một số tồn tại như một số cấp uỷ Đảng
chính quyền cơ sở chưa chú trọng đúng mức trong công tác chỉ đạo phòng,
chống HIV/AIDS, phần lớn cán bộ kiêm nhiêm và yếu về chuyên môn; hoạt
động truyền thông chưa phủ hết các vùng miền, nhất là các vùng sâu vùng xa,
vùng đồng bào dân tộc tiểu số. Phân công trách nhiệm giữa các Ban ngành chưa
cụ thể, hoạt động của các Ban, ngành chưa được lồng ghép thường xuyên,kinh
phí cho công tác phòng, chống HIV/ AIDS còn hạn chế [6].
1.2. Giả thiết nghiên cứu của đề tài:
Có mối liên quan giữa sự tham gia hoạt động phòng, chống HIV/AIDS của
thành viên BCĐ xã, phường trọng điểm với kiến thức, thái độ, thực hành về
phòng, chống HIV/AIDS.
pháp, hình thức và chất lượng; Kinh phí đầu tư cho hoạt động phòng chống
HIV/AIDS và phát triển nguồn nhân lực còn rất hạn chế so với yêu cầu. Công
6
tác theo dõi, giám sát và đánh giá việc thực hiện chỉ thị chưa được tiến hành
thường xuyên[1].
Năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng
chống HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, trong đó có 9
Chương trình hành động thì Chương trình hành động số một là: Thông tin - giáo
dục - truyền thông thay đổi hành vi phòng chống HIV/AIDS... Năm 2005, Ban
Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 54-CT/TƯ về việc tăng cường phòng
chống HIV/AIDS. Năm 2006, Quốc hội đã ban hành Luật phòng chống
HIV/AIDS. Các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể từ trung ương tới cơ sở, trong đó
ngành Y tế đóng vai trò nòng cốt đã triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp
nhằm ngăn chặn sự lây lan của vi rút HIV và giảm thiểu tác hại do AIDS gây ra.
Nhưng đến nay, đại dịch HIV/AIDS ở nước ta vẫn diễn biến phức tạp và chưa
kiểm soát được. Và ở nước ta, công tác thông tin - giáo dục - truyền thông cũng
là vũ khí hiệu quả nhất trong công cuộc chống lại căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS
hiện nay
Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và ý thức trách nhiệm của các cấp
ủy đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể xã hội và của mọi người dân đối với
nhiệm vụ lãnh đạo và tham gia công tác phòng, chống HIV/AIDS. Các cấp ủy
đảng và các cấp chính quyền cần xác định rõ phòng, chống HIV/AIDS là nhiệm
vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài; thường xuyên theo dõi, phân tích, đánh giá tình
hình lây nhiễm HIV/AIDS trong ngành và địa phương, có kế hoạch thực hiện
các giải pháp cần thiết nhằm phòng, chống HIV/AIDS gắn với phòng, chống các
tệ nạn ma túy, mại dâm và với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội; lãnh
đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát thực hiện...
quyết của HĐND xã, phường, của UBND xã, phường hay cồng văn hướng dẫn
ban, ngành hoặc thôn, bản, ấp thực hiện công tác phòng, chống HIV/AIDS hoặc
là Kế hoạch triển khai Tháng hành động quốc gia về phòng, chống HIV/AIDS.
Về hệ thống và nhân lực phòng, chống HIV/AIDS tuyến xã, phường: hiện có
8.724 xã, phường (chiếm 80% tổng số xã, phường) có cán bộ y tế và 49% số
thôn, bản trong cả nước có cộng tác viên được phân công nhiệm vụ theo dõi
công tác phòng, chống HIV/AIDS chuyên trách hoặc kiêm nhiệm. Bên cạnh lực
lượng nòng cốt này, còn có hàng vạn cán bộ và cộng tác viên tham gia làm công
tác phòng, chống HIV ở cơ sở như: Nhân viên y tế thôn, bản, cộng tác viên dân
8
số, cán bộ các ban, ngành đoàn thể như: Phụ nữ, thanh niên, nông dân, tuyên
truyền viên đồng đẳng… tạo ra một mạng lưới rộng khắp hàng ngày, hàng giờ
đưa thông tin về HIV/AIDS đến đại bộ phận dân cư, cung cấp các phương tiện
an toàn và chăm sóc, hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS [3]
Cần tập trung vào một số trọng tâm công tác phòng, chống HIV/AIDS tại
xã, phường để công tác này đạt hiệu quả cao hơn.
Thứ nhất, cần nhanh chóng chuyển trọng tâm công tác phòng, chống
HIV/AIDS về cơ sở, chính quyền các cấp quan tâm nhiều hơn, tập trung chỉ đạo
nhiều hơn, đầu tư nhiều hơn cho công tác phòng, chống HIV/AIDS tuyến xã,
phường.
Các xã, phường chưa thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống AIDS và phòng,
chống tệ nạn ma túy mại dâm khẩn trương thành lập Ban Chỉ đạo. Các Ban Chỉ
đạo cần có sự phân công trách nhiệm cho từng thành viên, có quy chế hoạt động.
Hàng năm xây dựng, phê duyệt kế hoạch, bao gồm cả kế hoạch huy động nguồn
lực và tổ chức thực hiện các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS.
Thứ hai, củng cố mạng lưới tuyên truyền viên đồng đẳng, cộng tác viên
phòng, chống HIV/AIDS, chủ yếu lựa chọn từ mạng lưới nhân viên y tế, cộng
tác viên sức khỏe, dân số, xã hội hay tuyên truyền viên hiện có ở các xã,
những người nhiễm HIV. Đa số lãnh đạo cộng đồng cho rằng chăm sóc người
nhiễm HIV/AIDS là trách nhiệm của toàn xã hội, bao gồm ngành y tế, chính
quyền, các tổ chức đoàn thể, cộng đồng và gia đình[5]
Hầu hết người được phỏng vấn đều cho rằng nhóm gái mại dâm và nghiện
chích ma tuý chỉ là nạn nhân của tệ nạn xã hội và nên giúp đỡ họ. Mọi người
đều thống nhất rằng tiếp cận, giáo dục, tuyên truyền cho gái mại dâm và nghiện
chích ma tuý là không đi ngược với quy định pháp luật và phòng chống mại dâm
ma tuý của Việt Nam. Hầu hết cán bộ được hỏi đều cho rằng hoạt động giáo dục
đồng đẳng không phải là đồng tình với tệ nạn ma tuý và mại dâm và phù hợp với
truyền thống văn hoá của dân tộc. Mặc dầu vậy, chưa có sự thống nhất cao trong
việc liệu có nên tăng cường làm sạch bơm kim tiêm (38,7%) và phát bơm kim
tiêm cho những người nghiện chích ma tuý (51,3%) hay không. Tuy nhiên đa số
cho rằng việc tiếp cận, giáo dục, phát bơm kim tiêm và thuốc sát trùng cho
người nghiện là phù hợp về pháp luật và góp phần vào phòng chống HIV/AIDS.
Có sự thống nhất cao là nên tuyên truyền về bao cao su (97,7%). Việc làm đó là
10
phù hợp với văn hoá xã hội Việt Nam và không làm tăng quan hệ tình dục trong
giới trẻ. Hầu hết cán bộ lãnh đạo cộng đồng đều ủng hộ không những hỗ trợ về
tinh thần, vật chất mà còn nên tạo công ăn việc làm và chăm sóc y tế và điều trị
cho những người nhiễm HIV[5].
2.2 Tình hình Quảng Trị
Thời gian qua, hoạt động phòng, chống HIV/AIDS đã được triển khai rộng
khắp, có sự cam kết mạnh mẽ của các cấp Uỷ Đảng, chính quyền, sự phối hợp
tích cực của các Ban, ngành, đoàn thể, các hoạt động đã đi vào chiều sâu, từng
bước xã hội hoá công tác phòng, chống HIV/AIDS. Hoạt động phòng, chống
HIV/AIDS trong lĩnh vực Y tế đã được triển khai khá toàn diện. Đã xây dựng
nhiều mô điểm trong phòng, chống AIDS. Công tác huấn luyện được đẩy mạnh,
các hoạt động phối hợp được tăng cường. Nhờ những hoạt động nói trên nên
thông, giám sát đánh giá hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại địa phương.Sự
tham gia được xếp "Rất tích cực" nếu tổng số câu trả lời "có" ≥9; xếp là "Tích
cực" nếu tổng số câu trả lời "có"là ≥ 6 và xếp loại "chưa tích cực" khi số câu trả
lời "có "≤5
- Hiểu biết kiến thức chung về phòng, chống HIV/AIDS được đo thông qua
12 câu hỏi. Kiến thức được xếp là "tốt" khi tổng số câu trả lời đúng ≥10 câu,
được xếp là "khá" khi tổng số câu trả lời đúng ≥ 6 câu và tổng số câu trả lời
đúng ≤ 5 thì xếp "trung bình".
- Thái độ về phòng, chống HIV/AIDS thông qua 7 câu hỏi . Thái độ được
xếp là " tốt " khi tổng số câu trả lời đúng ≥ 4 câu, được xếp là " chưa tốt " khi
tổng số câu trả lời đúng ≤3.
- Mức độ thực hành dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS và sự kỳ thị và phân
biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS được đo thông qua 11 câu hỏi "có" và
"không". Mức độ thực hành được xếp là "tốt" khi tổng số câu trả lời có ≥ 9 câu,
được xếp là " khá" khi tổng số câu trả lời ≥ 5 câu và tổng số câu trả lời đúng ≤ 4
câu thì xếp "trung bình".
3.3.3 Các công cụ nghiên cứu cụ thể.
- Bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp
- Bảng câu hỏi gợi ý thảo luận nhóm
3.4. Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS để thống kê, phân
tích và kiểm định thông tin
12
4. Kết quả nghiên cứu:
4.1.Kết quả nghiên cứu định lượng:
Bảng 1: Đặc điểm chung
Đặc điểm chung (n=450)
< 30 tuổi
Tuổi
Hội nông dân
Lĩnh vực công tác tại
UBMTTQVN
xã của thành viên
Tư Pháp
BCĐ
Văn hoá thông tin
Công an
Lao động TBXH
Khác
Tổng cộng
Số lượng
62
149
239
408
16
25
1
2
26
124
177
121
22
02
05
68
228
4,9
0,4
1,1
15,1
50,7
27,8
6,9
24,9
68,2
15,1
1,8
15,1
9,8
11,3
16,7
6,7
7,3
4,0
8,0
4,2
100.0
Đối tượng tham gia phỏng vấn là 450 thành viên ban chỉ đạo của 63 xã
phường trọng điểm về phòng, chống HIV/AIDS trên địa bàn toàn tỉnh, đa số là
người kinh chiếm 90,07%, dưới 10% là dân tộc ít người gồm Pa Kô và Vân
13
Kiều. Trên một nữa trong số họ từ 40 tuổi trở lên (53,1%), độ tuổi dưới 30
chiếm tỷ lệ rất nhỏ 13,8%. Gần 66% có trình độ từ cao đắng trở lên, trong
Thái độ
Tốt
Chưa tốt
Số lượng
437
13
Tỷ lệ %
97.1
2.9
Hầu như tất cả mọi thành viên đều có thái độ cư xử tốt với người nhiễm
HIV (97,1%) chỉ có 2,9% thái độ chưa tốt do họ nghỉ rằng người nhiễm HIV
phần lớn do ăn chơi.
Biểu đồ 4: Thực hành phòng, chống HIV/AIDS
Có 82,4 % thành viên BCĐ có thực hành tốt. 17,1% thành viên có thực
hành được đánh giá ở mức khá .Vẫn còn 2 người (0,45) chưa có thực hành tốt.
Bảng 4: Mức độ tham gia vào công tác phòng, chống HIV/AIDS tại địa
phương.
Mức độ tham gia
Rất tích cực
Tích cực
Chưa tích cực
Số lượng
79
254
117
truyền HIV
Tham gia tập huấn,
hội thảo về chủ đề
phòng, chống
HIV/AIDS
Có
Không
381
96,9%
12
3,1%
Trả lời sai
51
89,5%
6
10,5%
Trả lời đúng
392
96,8%
13
3,2%
trong lớp học
Phân phát BCS
cho người mua
bán dâm làm
giảm nguy cơ lây
nhiễm HIV
Tham gia tập huấn hội
thảo về chủ đề phòng,
chống HIV/AIDS
Có
Không
Đồng ý
10
76,9%
3
23,1%
Không
đồng ý
422
96,6%
15
3,4%
Thực hành phòng, chống
HIV/AIDS
Để cho người
nhiễm HIV/AIDS
sống cách ly với
cộng đồng
Ngăn cản hoạt
động phân phát
bơm kim tiêm cho
người tiêm chích
ma tuý.
Có
Không
Có
Không
Tham gia lập kế hoạch
phòng, chống HIV/AIDS
Không
Có
4
66,7%
413
93,0%
73
84,9%
2
các thành viên tham gia thảo luận nhóm từ các xã, phường đều xác định địa
phương họ có nguy cơ lây nhiễm HIV trong cộng đồng do nhiều lý do khác nhau
như địa phương có nhiều người dân đi làm ăn xa nhà trong một thời gian dài "
Xã Hải thượng có nhiều người đi Nam bốn năm tháng, đến gần tết mới về" hoặc
có nơi "Thị trấn Bến Quan có nhiều người ở xa đến đào đãi vàng nghiện chích
ma tuý" (Vĩnh Linh) hoặc "Địa phương tôi có nhiều thanh niên trẻ sử dụng ma
tuý, có năm sáu phụ nữ bán dâm đứng đường" (ý kiến một thành viên ở Phường
3 Đông Hà), cũng có ý kiến cho rằng "mấy o cụt đọt dễ bị lây nhiễm nhất "( Ý
kiến của thành viên ở huyện Cam lộ)
19
Chấp hành các văn bản, chỉ thị của Đảng, nhà nước: Tất cả 63 xã,
phường đều có quyết định thành lập BCĐ, tuy nhiên nhiều xã, phường chưa có
văn bản chỉ đạo hoặc nghị quyết của UBND xã về công tác phòng chống
HIV/AIDS mặc dù họ biết trách nhiệm của BCĐ xã trong công tác phòng, chống
HIV/AIDS qua chỉ thị 52-CT và 54-CT của Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Nhiều địa phương công nhận rằng BCĐ hoạt động nhưng chưa xây dựng
quy chế rõ ràng "Nếu trạm y tế trình kế hoạch thì UBND hoàn toàn ủng hộ"
( Cán bộ xã Triệu Thượng, Triệu Phong). Chỉ có Thị xã Quảng Trị có thực hiện
sơ tổng kết và khen thưởng, hầu như các địa phương khác chưa có xã phường
nào khen thưởng các cá nhân, tập thể đạt thành tích về công tác phòng,chống
HIV/AIDS. Nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu từ chương trình Quốc gia phòng,
chống HIV, việc huy động thêm nguồn lực khác rất khó khăn" chúng tôi chỉ hỗ
trợ cho người nhiễm HIV chút ít để động viên tinh thần" (Vĩnh Linh).
Tham gia các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS tại các địa phương
chủ yếu là lập kế hoạch hoạt động truyền thông, thời gian thực hiện tập trung
nhiều vào tháng hành động quốc gia, một số ban ngành như hội phụ nữ, đoàn
thanh niên thỉnh thoảng lồng ghép trong chương trình sinh hoạt định kỳ "Sinh
hoạt thanh niên dành từ ba mươi phút đến một giờ để bàn về nguy cơ và cách