A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một đất nước hùng mạnh là một đất nước có nền giáo dục phát triển. Vì vậy,
đầu tư cho giáo dục chính là sự đầu tư cho sự phát triển. Giáo dục là quốc sách
hàng đầu, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người. Hiện nay giáo dục đã trở
thành mối quan tâm của toàn xã hội. Đặc biệt giáo dục mầm non có một vị trí
quan trọng, là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học đặt nền
móng cho nền phát triển nhân cách con người mới xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
Mục tiêu của giáo dục mầm non là tạo điều kiện tốt nhất để trẻ phát triển thể
chất, ngôn ngữ, nhận thức, thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội. Do đó, giáo
dục thể chất là nhiệm vụ hàng đầu và quan trọng nhất vì sức khỏe là vốn quý
nhất đối với con người, đặc biệt là đối với trẻ mầm non. Ở lứa tuổi này cơ thể trẻ
đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện dần vì thế có thể trẻ cũng
non yếu dễ phát triển lệch lạc và mất cân đối. Do vậy trẻ chỉ phát triển tốt nếu
được chăm sóc một cách hợp lý.
Giáo dục thể chất cho trẻ ở trường mầm non có thể thông qua nhiều biện
pháp như: Tổ chức cho trẻ vận động phù hợp, nghĩ ngơi hợp lý, ăn uống đầy đủ,
vệ sinh sạch sẽ… Như vậy, một trong những biện pháp phát triển thể chất là
nâng cao chất lượng bữa ăn và vệ sinh sạch sẽ. Chính vì vậy việc chăm sóc nuôi
dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe cho trẻ trong trường mầm
non là việc hết sức quan trọng mà toàn Đảng toàn dân cần phải quan tâm đến.
Nhiệm vụ vô cùng quan trọng đặt ra cho chúng ta là phải có đội ngũ làm công
tác chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục có đủ điều kiện để thực hiện mục tiêu cơ
bản trên, trong đó, đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên có vai trò then chốt, là
lực lượng nòng cốt quyết định chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ
trong trường mầm non là việc hết sức quan trọng mà toàn Đảng toàn dân cần
1
phải quan tâm đến. Nhiệm vụ vô cùng quan trọng đặt ra cho chúng ta là phải có
Đánh giá sức khỏe của trẻ tại trường mầm non Hoa Phượng Đỏ trên địa bàn
huyện Núi Thành –Quảng Nam. Tìm hiểu việc thực hiện vệ sinh an toàn thực
phẩm ở trường Hoa Phượng Đỏ từ đó đề xuất biện pháp vệ sinh an toàn thực
phẩm nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện về
các mặt: Đức-Trí-Lao-Thể-Mỹ.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
3.1.
Trẻ 5-6 tuổi trường mầm non Hoa Phượng Đỏ.
Khách thể nghiên cứu
3.2.
Quá trình nghiên cứu đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ 5-6 tuổi.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài.
Thực trạng việc thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ.
Đưa ra biện pháp đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ.
5. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu 30 trẻ trong độ tuổi từ 5-6 tuổi trường mầm non Hoa Phượng Đỏ
huyện Núi Thành- Quảng Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tôi phối hợp các phương pháp sau:
-
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:
Một số khái niệm liên quan
1.1.
Thực phẩm
Là những thức ăn, đồ uống của con người dưới dạng tươi sống hoặc đã qua
sơ chế, chế biến, bao gồm cả đồ uống, nhai ngậm và các chất đã được sử dụng
trong sản xuất, chế biến thực phẩm.
Vệ sinh thực phẩm
Là mọi điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo sự an toàn và phù hợp
của thực phẩm ở mọi khâu thuộc chu trình thực phẩm.
An toàn thực phẩm
Là sự bảo đảm thực phẩm không gây hại cho người tiêu dùng khi nó được
chuẩn bị hoặc ăn theo mục đích sử dụng.
Vệ sinh an toàn thực phẩm
Là tất cả điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản,
phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm bảo đảm cho thực phẩm sạch sẽ,
an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. Vì vậy, vệ sinh
an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều khâu
1.2.
Mối quan hệ giữa ăn uống và sức khỏe
Từ ngàn xưa, con người đó biết mối quan hệ giữa ăn uống và sức khoẻ.
Hyporcat ( 460 – 377 TCN) đánh giá cao vai trò của sự ăn uống đối với sức
khoẻ và bệnh tật, nhất là đối với trẻ Mầm non. Ông cho rằng: Cơ thể khi của trẻ
cần nhiều nhiệt hơn khi về già, vì vậy trẻ còn bé cần được ăn nhiều hơn; đồng
thời Ông cũng chỉ ra rằng: chế độ ăn chỉ tốt khi có một lối sống hợp lý.
Danh y Việt Nam, Tuệ Tĩnh ( Thế kỷ XIV) đó từng núi: “ Thức ăn là thuốc,
thuốc là thức ăn”, khoa học dinh dưỡng cũng cho chúng ta biết: Thức ăn, các
chất dinh dưỡng làm vật liệu xây dựng cơ thể. Các vật liệu này thường xuyên
đổi mới và thay thế thông qua quá trình hấp thụ và chuyển hóa các chất trong cơ
6
thể.Ngược lại, khi cơ thể không được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ không
thể phát triển bình thường và đó là nguyên nhân gây ra bệnh tật như suy dinh
dưỡng, còi xương, thiếu máu do thiếu sắt.
Nói về sự ảnh hưởng của sự ăn uống tới sức khoẻ của trẻ, S. Freud ( 1835 –
1993) nhà tâm lý học ( người Áo) đó nhận thấy rằng: Sự ăn uống có ảnh hưởng
rất lớn đến cân nặng của trẻ. Ông khẳng định: trong trường hợp thiếu ăn, các
xương cốt vẫn dài ra, trái lại, cân nặng đứng nguyên hay sụt đi.
Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng thì sự ăn uống có sự ảnh hưỏng rất
lớn đến sức khoẻ của trẻ. Trẻ được nuôi dưỡng tốt, ăn uống đầy đủ thì da dẻ
hồng hào, thịt chắc nịch và cân nặng đảm bảo. Sự ăn uống không điều độ sẽ ảnh
hưởng đến sự tiêu hoá của trẻ. Nếu cho trẻ ăn uống không khoa học, không có
giờ giấc, thì thường gây ra rối loạn tiêu hoá và trẻ có thể mắc một số bệnh như
tiêu chảy, còi xương, khô mắt do thiếu VitaminA…
1.3.
đối với sức khoẻ của con người mà còn đóng vai trò quan trọng trong nhiều
ngành kinh tế. Chất lượng vệ sinh an toàn là chìa khoá tiếp thị của sản phẩm.
Tăng chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm đã mang lại uy tín cũng với lợi
nhuận lớn cho ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến cũng như dịch
vụ du lịch và thương mại. Thực phẩm là một loại hàng hoá chiến lược, thực
phẩm đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn sẽ tăng nguồn thu từ xuất khẩu thực
phẩm có tính cạnh tranh lành mạnh và thu hút thị trường thế giới. Thực phẩm
còn ảnh hưởng đến nòi giống của dân tộc. Khi bàn đến tác động của vệ sinh an
toàn thực phẩm, vấn đề đáng quan tâm hơn cả là đòi hỏi những nỗ lực lớn hơn
để đề phòng và khắc phục các hậu quả của nó là ảnh hưởng của thực phẩm ô
nhiễm, không đảm bảo vệ sinh an toàn gây ngộ độc nguy hiểm cho con người nó
chung và trẻ em nói riêng. Trẻ suy dinh dưỡng, bà mẹ có thai, người già yếu,
người dân ở vùng sau thiên tai như : lụt, bão…, người dân phải sổng trong tình
trạng thiếu thốn thực phẩm hàng ngày, điều kiện vệ sinh môi trường kém, những
người có sức đề kháng kém hoặc đang có bệnh thường dễ bị ngộ độc thực phẩm
hơn, hậu quả là tình trạng sức khoẻ lại càng tồi tệ, đôi khi lại còn kéo theo một
8
số bệnh tiềm ẩn khác do tích luỹ các chất độc hại trong cơ thể. Sử dụng thực
phẩm không vệ sinh an toàn trước mắt có thể bị ngộ độc cấp tính với các triệu
trứng ồ ạt dễ nhận thấy, nhưng vấn đề nguy hiểm hơn nữa là sự tích luỹ dần các
chất độc hại ở một số bộ phận trong cơ thể sau một thời gian mới phát bệnh hoặc
có thể gây dị tật, dị dạng cho các thế hệ mai sau. Những bệnh do thực phẩm gây
ra có ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sức khoẻ và cuộc sống của con người.
Nhiều người đã bị mắc bệnh, thậm chí tử vong do ăn phải các thực phẩm không
đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Chất lượng vệ sinh an toàn thực
phẩm là một vấn đề toàn cầu, quan hệ trực tiếp đến sức khoẻ của toàn nhân loại.
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, tại một số nước đang phát triển, tỷ lệ tử
khi còn kéo theo một số bệnh tiềm ẩn khác. Ảnh hưởng đến sức khoẻ của ngộ
độc cấp tính rất rõ rệt và còn có thể gây nên tình trạng suy nhược, ảnh hưởng
ngắn hạn hoặc dài hạn đến tình trạng dinh dưỡng sau này.
1.5.
Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm:
Thực phẩm là môi trường rất có lợi cho vi sinh vật phát triển, gây ngộ độc và
truyền bệnh, chất lượng thực phẩm phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện. Có rất
nhiều yếu tố ảnh hưởng đến vệ sinh an toàn thực phẩm trong đó các yếu tố ảnh
hưởng cơ bản phải kể đến là:
- Nguyên liệu thực phẩm:
Bất cứ một sản phẩm nào khi sản xuất thì yếu tố quan trọng cần thiết đầu
tiên chính là nguồn nguyên liệu đầu vào. Phải có nguyên liệu thì mới sản xuất
được sản phẩm. Thực phẩm cũng vậy, nguồn nguyên liệu chế biến đóng vai trò
trò tối quan trọng trong chế biến thực phẩm. Vì vậy chất lượng thực phẩm như
thế nào phụ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên liệu đầu vào. Nguồn nguyên liệu
đầu vào có đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng, có an toàn thì sản phẩm mới đạt
chất lượng tốt. Còn nếu ngay từ đầu mà nguồn nguyên liệu kém chất lượng,
không đạt tiêu chuẩn thì sản phẩm sản xuất ra chất lượng sẽ kém, không an toàn,
dễ gây thiệt hại cho người tiêu dùng nói chung và trẻ nói riêng.
- Môi trường:
10
+ Khí hậu có thể gây ra những tác động tích cực hoặc tiêu cực tới chất lượng
thực phẩm. Nếu khí hậu tốt lành thì nông thực phẩm được mùa, hàm lượng các
chất như gluxit, protein thô, lipit thô, vitamin… được đảm bảo, gia súc, gia cầm
phát triển tốt. Như vậy nguồn nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất thực
phẩm sẽ có chất lương tốt, dồi dào. Ngược lại thì sẽ làm cho nguồn nguyên liệu
bị khan hiếm, không đảm bảo tiêu chuẩn đã định. Từ đó sẽ gây ảnh hưởng tới
nhiều hậu quả đáng tiếc.
Thông gió, khí nén: khu vực bếp phải thông thoáng, không gian kín bít sẽ
tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển, hơn nữa trong không gian kín không được
thông gió nếu không khóa ga kĩ khí ga sẽ bay ra ngoài lẫn vào thức ăn của trẻ
nếu với lượng lớn có thể sẽ gây ngộ độc thực phẩm.
- Bảo quản thực phẩm:
Quá trình bảo quản có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng thực phẩm. Mỗi sản
phẩm đều có những yêu cầu về điều kiện bảo quản trong quá trình lưu thông,
phân phối. Nếu đảm bảo tốt các đIều kiện này thì sản phẩm có thể bảo quản
được lâu mà vẫn đảm bảo chất lượng. Nhưng nếu bảo quản không đúng theo
những đIều kiện cần thiết thì sản phẩm có thể bị thay đổi những thuộc tính chất
lượng, không đảm bảo an toàn cho người sử dụng.
Ví dụ: Biến đổi chất lượng của táo đỏ trong giai đoạn bảo quản( Asph: áp
suất phù hợp, Ast: áp suất thường)
Lúc thu hoạch
12
4 tháng
6 tháng
8 tháng
Asph Ast
Asph Ast
hóa độc hại sẽ gây nhiễm khuẩn chéo ảnh hưởng đến chất lượng thực phẩm và
có thể gây ngộ độc thực phẩm.
1.6. Tiểu kết chương 1
Qua chương này chúng ta đã làm rõ được những khái niệm liên quan đến đề
tài như: thực phẩm, vệ sinh thực phẩm, an toàn thực phẩm, vệ sinh an toàn thực
phẩm, ngộ độc thực phẩm, xác định được tầm quan trọng của vệ sinh an toàn
thực phẩm đối với đời sống xã hội nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng. Đồng thời
xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
Những vấn đề lý luận nêu trên có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở trường
mầm non. Qua đó giúp trẻ có sức khỏe tốt, nhanh nhẹn, tích cực hơn trong hoạt
13
động học tập cũng như hoạt động vui chơi, góp phần giúp trẻ phát triển toàn
diện về mọi mặt.
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO VỆ SINH AN TOÀN THỰC
PHẨM TẠI TRƯỜNG MẦM NON HOA PHƯỢNG ĐỎ HUYỆN NÚI
THÀNH- QUẢNG NAM
2.1. Vài nét về tình hình trường mầm non Hoa Phượng Đỏ huyện Núi
Thành- tỉnh Quảng Nam
Trường Mẫu giáo Hoa Phượng Đỏ thuộc xã Tam Nghĩa, huyện Núi Thành, tỉnh
Quảng Nam, nằm ở phía Nam của huyện Núi Thành, cách trung tâm huyện khoảng
3km đường bộ. Phía Đông giáp Sân bay Chu Lai và xã Tam Quang. Phía Tây giáp
xã Tam Mỹ. Phía Bắc giáp sông An Tân. Phía Nam giáp Tỉnh Quảng Ngãi.
Tiền thân của trường mẫu giáo Hoa Phượng Đỏ là trường mẫu giáo Tam
Nghĩa 1, 2, được thành lập năm 1987 theo QĐ số 345 ngày 13/2/1997 của SGD–
ĐT tỉnh Quảng Nam. Năm 2002, hai trường mẫu giáo Tam Nghĩa được nhập lại
thành một trường gọi là trường mẫu giáo Bán công Tam Nghĩa. Tháng 8 năm
2010 được đổi tên thành trường mẫu giáo công lập Hoa Phượng Đỏ theo Quyết
chế biến món ăn cho trẻ.
2.1.2. Tình hình đội ngủ giáo viên
•
Trường có 1 Hiệu trưởng(Trình độ đại học);
•
2 hiệu phó (Trình độ đại học);
•
18 giáo viên (Trình độ cao đẳng và đại học);
•
2 nhân viên lao công;
•
6 nhân viên nấu bếp;
+ Hiện nay, đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường đủ về số lượng
và đảm bảo chất lượng, có kinh nghiệm trong công tác nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục trẻ , tỉ lệ giáo viên trên lớp đảm bảo quy định. Trường có tổng số 29
Cán bộ, giáo viên, nhân viên; 100% giáo viên có trình độ chuyên môn đạt chuẩn,
trong đó trên chuẩn đạt 52,6%. Trong 5 năm qua, đội ngũ Cán bộ, giáo viên,
nhân viên trường đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh 1, giáo viên dạy giỏi
cấp huyện 4, Chiến sĩ thi đua cơ sở 7 và lao động tiên tiến 17. Năm học 20132014 và 2014-2015 được UBND tỉnh công nhận là tập thể Lao động xuất sắc 2
năm liền.
Chi bộ nhà trường nhiều năm liền đạt “Chi bộ trong sạch vững mạnh”, đạt
còn gặp không ít khó khăn do sự quản lý chưa chặt chẽ của nhà trường trong
công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Đội ngũ nấu ăn hầu hết là hợp
17
đồng địa phương chưa được đóng bảo hiểm xã hội mặc dù các cô đã có bằng đạt
chuẩn giáo viên mầm non. Việc đầu tư kinh phí để xây dựng bếp ăn, các công
trình nước sạch, công trình vệ sinh và xây dựng môi trường chưa được chú ý.
Hơn nữa, nhà trường có 3 khu nên còn gặp nhiều khó khăn trong khâu giao
nhận, bảo quản và vận chuyển thực phẩm. Nhận thức của nhà trường về tầm
quan trọng của việc đảm bảo vệ sinh an toàn thức phẩm còn hạn chế. Chính vì
những bất cập trên, trong trường vẫn còn nhiều trẻ bị suy dinh dưỡng, mắc các
loại bệnh tiềm ẩn, sức khỏe trẻ bị đe dọa.
18
2.2.2. Thực trạng về dụng cụ, đồ dùng, thiết bị liên quan đến việc đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Nhìn chung, nhà trường đã trang bị đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị phục vụ
cho công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm nâng cao chất lượng bữa
ăn cho trẻ.
Khu vực bếp đã được trang bị đầy đủ các đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị, các
đồ dùng bằng Inox. Khu bếp chính giao nhận, sơ chế, chế biến thực phẩm rộng
rãi, thoáng mát.
Bên cạnh đó nhà trường còn trang bị đầy đủ trang phục cá nhân cho cô nuôi,
quần áo lao động đồng phục, tạp dề, khẩu trang, găng tay, mũ, ủng… Ngoài ra,
nhà trường còn trang bị một số thùng rác để đựng thức ăn thừa, bẫy diệt chuột
tránh dịch bệnh, giá để đồ dùng, dụng cụ làm bếp, bát đĩa.
dụng cụ làm bếp sạch hay không sạch. Mọi người thường cho rằng các bệnh lý
nhiễm khuẩn thức ăn bắt đầu từ nguồn thực phẩm bị nhiễm. Việc tồn tại những
thùng đựng thức ăn thừa lâu không được vệ sinh, đây chính là môi trường thuận
lợi cho vi sinh vật hoạt động và có cơ hội xâm nhập vào thực phẩm là điều
không thể tránh khỏi vì vậy đòi hỏi trường cần đầu tư thêm một số dụng cụ tối
thiểu để hạn chế đến mức thấp nhất sự xâm nhập của vi sinh vật.
Khu vực bếp trường mầm non Hoa Phượng Đỏ.
2.2.4. Thực trạng vệ sinh thực phẩm
Qua điều tra, nhìn chung thực phẩm tươi ngon, đảm bảo vệ sinh, được để nơi
cao ráo.Tuy nhiên, vẫn còn một số loại thực phẩm nơi bảo quản không đảm bảo.
Điều đáng lo ngại hơn nữa là vẫn còn một số loại thực phẩm mua ở chợ không
có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, chủ yếu là các loại trái cây. Điều đó càng cho
thấy sự chủ quan của cấp quản lý, chưa thực sự coi trọng đến việc đảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm. Mặc khác, quá trình sơ chế thực phẩm còn sơ sài, nhân
viên rửa nhiều thứ thực phẩm vào cùng một thau, vì số lượng trẻ đông nên số
21
lượng thực phẩm nhiều mà dụng cụ rửa thực phẩm còn nhỏ nên thực phẩm chưa
được sạch. Những tồn tại này ảnh hưởng đến chất lượng bữa ăn của trẻ, nếu
trong thời gian lâu sẽ gây một số bệnh làm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ.
Quá trình sơ chế thực phẩm
2.2.5. Ý thức, trách nhiệm của người làm bếp
Đội ngũ nhân viên làm bếp rất nhiệt tình, có trách nhiệm với công việc, tuy
nhiên vẫn còn một số nhân viên làm bếp chưa có đầy đủ kiến thức về vệ sinh an
toàn thực phẩm, họ thường mắc phải các thói quen như để lẫn lộn thực phẩm
sống và chín trong các túi đựng khi đi mua hàng, hay để thực phẩm sống chín
viên làm tốt công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ nhằm nâng cao
bữa ăn cho trẻ để trẻ có sức khỏe tốt, thể chất phát triển. Do đó, tôi đã suy nghĩ
và tìm ra một số biện pháp để nâng cao việc đảm bảo an toàn vệ sinh cho trẻ, từ
đó góp phần hoàn thiện nhân cách trẻ, giúp trẻ phát triển một cách toàn diện.
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO VỆ SINH AN TOÀN THỰC
PHẨM CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON HOA PHƯỢNG ĐỎ
Để làm tốt công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường Mầm
non có rất nhiều nội dung cần được quan tâm chỉ đạo thực hiện
3.1. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch
Ngay từ đầu năm học, nhà trường nên xây dựng kế hoạch chăm sóc nuôi
dưỡng và nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với đặc điểm thực tế. Lên
thực đơn ăn uống theo khẩu phần, hàng ngày, hàng tuần, theo mùa, hợp lý, cân
đối dinh dưỡng và triển khai tới các bộ phận đoàn thể của nhà trường và triển
khai sâu rộng trong toàn thể cha mẹ học sinh như: thông qua cuộc họp cha mẹ
học sinh, tranh ảnh, thông qua Hội thi, động viên phụ huynh cùng tham gia.
24
Xây dựng thực đơn cho trẻ.
3.2. Biện pháp 2: Làm tốt công tác phối hợp đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm
Vào đầu tháng 9 hàng năm nhà trường nên tổ chức họp Ban lãnh đạo nhà
trường và các đoàn thể thống nhất chế độ ăn uống, thực đơn ăn uống và mời các
khách hàng về ký hợp đồng thực phẩm như: Thịt, rau, sữa, gạo… Nguồn cung
cấp thực phẩm phải có đủ điều kiện cung cấp thường xuyên và có trách nhiệm
trước pháp luật về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo giá cả hợp
lý, ổn định. Thực phẩm hợp đồng với nhà trường phải tươi sống như: Rau, thịt
được nhận vào mỗi buổi sáng và được kiểm tra đảm bảo về chất lượng, đủ về số
lượng hàng ngày thì nhân viên mới ký nhận và chế biến. Nếu thực phẩm không