VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------
ĐIÊU THỊ NHẤT
NHÀ Ở CỦA NGƯỜI THÁI TRẮNG Ở XÃ
MƯỜNG CHIÊN, HUYỆN QUỲNH NHAI,
TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành : Dân tộc học
Mã số
: 60 31 03 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Thị Song Hà
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố. Các thông tin,
tài liệu trình bày và trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả
Điêu Thị Nhất
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cộng đồng các dân tộc nước ta, người Thái là một trong 8 dân
tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở
năm 2009, người Thái có 1.550.423 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 3 ở
Việt Nam sau người Việt (Kinh) và người Tày.
Dân tộc Thái là một cộng đồng tộc người thiểu số cư trú chủ yếu vùng
núi phía Bắc nước ta. Người Thái có 2 nhóm chính được gọi là Tày khao
(Thái trắng) và Tày đăm (Thái đen). Hiện nay người Thái sinh sống ở hầu hết
tất cả các tỉnh thành trong cả nước, song tập trung đồng nhất ở các tỉnh thuộc
vùng núi Tây Bắc như Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình và
miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An. Người Thái sinh sống ở vùng thung lũng,
trong những ngôi nhà dựng bên sườn đồi, bờ suối. Trong cuộc sống của mình
người Thái có cách ứng xử hài hòa với thiên nhiên, biết lợi dụng thiên nhiên,
biết khai phá, cải tạo đồng thời bảo vệ nguồn lợi tự nhiên nhằm phục vụ cho
đời sống của cộng đồng tộc người. Người Thái nói chung, Thái Trắng nói
riêng với những đặc điểm lịch sử, điều kiện tự nhiên, tri thức dân gian phong
phú, các phong tục, tập quán riêng biệt mang đậm nét văn hóa tộc người, giúp
cho người Thái khác với các tộc người thiểu số khác đang sinh sống trên đất
nước ta. Cùng với các tộc người anh em khác người Thái đã sáng tạo nên
những nét văn hóa độc đáo riêng của dân tộc mình góp phần làm cho nền văn
hóa Việt Nam ngày càng phát triển trong thống nhất và đa dạng.
Nhà ở là một trong các thành tố của văn hóa vật chất, nó là một phương
tiện phục vụ đời sống sinh hoạt của con người mà bất cứ tộc người nào cũng
có. Tùy theo điều kiện tự nhiên, xã hội của từng vùng khác nhau mà mỗi tộc
người có ngôi nhà thể hiện đặc trưng riêng của tộc người mình. Nét riêng biệt,
đặc trưng của mỗi ngôi nhà thể hiện yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, trình
độ kỹ thuật và tính thẩm mỹ của một dân tộc.
1
2
nhóm Thái Trắng và Thái Đen cũng như người Thái ở các địa phương khác.
Đồng thời nghiên cứu cũng sẽ cho thấy được sự giao lưu, tiếp thu và ảnh
hưởng của những yếu tố văn hóa mới trong sự biến đổi hiện nay. Nghiên cứu
về nhà ở cũng sẽ cho chúng ta thấy được những mặt tích cực của những yếu
tố không còn phù hợp với những điều kiện sinh hoạt của đời sống văn hóa
mới góp phần làm cơ sở khoa học cho các cấp ủy đảng, chính quyền địa
phương thực hiện tốt chính sách dân tộc, từng bước góp phần bảo lưu, giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương
Đảng khóa VIII, kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khóa IX) của BCH Trung
ương Đảng về "Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc" và Nghị quyết 33, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (Khóa XI) của Đảng.
Bên cạnh đó, tôi là người con của dân tộc Thái Trắng, sinh ra và lớn lên
trên mảnh đất Quỳnh Nhai, Sơn La được sống, làm việc và cống hiến trên quê
hương của mình, bản thân tôi luôn tự hào về những di sản văn hóa to lớn của
dân tộc và có mong muốn được góp sức mình vào việc bảo lưu, giữ gìn và
phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, của quê hương Bởi vậy,
với những yêu cầu khoa học và thực tiễn nói trên, tôi đã chọn đề tài "Nhà ở
của người Thái Trắng ở xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn
La" làm đề tài luận văn thạc sĩ ngành Dân tộc học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Từ trước đến nay, hướng đề tài nghiên cứu về "Nhà cửa" của các
tộc người thiểu số luôn dành được sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà khoa
học thuộc các lĩnh vực khác nhau như Dân tộc học/Nhân học, Văn hóa
học, Mỹ thuật, bởi ngôi nhà là một lĩnh vực văn hóa chứa đựng những giá
trị văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần phong phú và đa dạng.
Đã có một số học giả nước ngoài đã tập trung nghiên cứu về nhà ở
truyền thống của các cộng đồng tộc người thiểu số ở Việt Nam để giúp người
một số đặc điểm văn hóa của tộc người Tày.
4
Tác giả Lê Thị Thúy Hoàn về Nhà sàn truyền thống của cư dân Tày ở
Chiêm Hóa (Tuyên Quang) (2010) đã thể hiện rõ môi trường tự nhiên, kỹ
thuật, môi trường văn hóa, xã hội của ngôi nhà truyền thống của người Tày ở
huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Công trình nghiên cứu "Ngôi nhà của
người Tày trong khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học Việt
Nam" năm 2010 của tác giả La Công Ý, đã cho chúng ta thấy được bức tranh
về đặc điểm của ngôi nhà sàn, quá trình dựng nhà, các nghi lễ và ẩm thực, âm
nhạc có liên quan đến các hoạt động diễn ra trong ngôi nhà của người Tày tại
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Luận án tiến sĩ ngành Nhân học Nhà ở của
người Dao Áo Dài tỉnh Hà Giang của Phạm Minh Phúc cũng đã thể hiện khá
chi tiết về các loại hình nhà ở, các phong tục tập quán diễn ra trong ngôi nhà
của người Dao và sự biến đổi của nó trong những năm gần đây. Hay như đề
tài luận văn "Nhà ở của người Tày tại xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang" (2012) của Phan Thị Nhạ là công trình nghiên cứu mang tính
hệ thống chuyên sâu về nhà ở truyền thống của người Tày tại xã Tân Trào,
huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và quá trình biến đổi của bối cảnh hiện
nay. Năn 2010, tác giả Phạm Văn Lợi cũng cho ra mắt bạn đọc cuốn sách nhà
ở của người S.Triêng ở Việt Nam trên cơ sở bổ sung tư liệu từ luận án tiến sĩ
ngành Dân tộc học được tác giả bảo năm 2008. Công trình đã giúp người đọc
thấy được đặc điểm, kĩ thuật không gian của ngôi nhà người S.Triêng - một
trong nhóm của cư dân thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me. Ngoài ra, nhà ở của
các dân tộc thiểu số nói chung còn được đề cập đến trong nhiều công trình,
nhiều bài nghiên cứu công bố trên các báo, tạp chí như: Vài nét về sự thay đổi
cấu trúc nhà sàn người Tày ở Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang của Lê Thị Thúy
Hoàn đăng trên tạp chí Văn hóa dân gian. Vấn đề nghiên cứu về nhà ở của
- Tìm hiểu sự biến đổi các dạng thức về nhà ở của người Thái Trắng tìm
ra các nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi đó để từ đó bước đầu đưa ra một số
khuyến nghị nhằm phục vụ công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật
thể và phi vật thể của người Thái Trắng nói riêng, của người Thái nói chung.
6
4. Đối tượng, phạm vi, địa bàn nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là nhà ở của người Thái
Trắng ở xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận văn là các yếu tố vật chất, không
gian kỹ thuật, mỹ thuật, môi trường hình thành nên ngôi nhà của người Thái.
Nghiên cứu về các yếu tố phong tục tập quán, nghi lễ liên quan đến ngôi nhà
đồng thời tìm hiểu, đưa ra những giá trị văn hóa tộc người thể hiện qua ngôi
nhà của người Thái. Luận văn cũng nêu lên sự biến đổi về nhà ở của người
Thái Trắng từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện công cuộc đổi mới đất nước
(1986) đến nay.
4.3. Địa bàn nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu chính để chúng tôi thực luận văn này là xã Mường
Chiên huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, là nơi người Thái Trắng cư trú tập
trung; đồng thời nơi đây và nhà ở truyền thống của người Thái còn nhiều và
cũng có sự biến đổi mạnh về nhà ở của đồng bào dân tộc qua thời gian.
5. Nguồn tư liệu, Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Để thực hiện luận văn, tôi đã sử dụng các nguồn tư liệu chủ yếu sau đây:
- Tư liệu điều tra điền dã: Thông qua quan sát trực tiếp, quan sát tham
dự, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm được chúng tôi tiến hành tại công đồng
người Thái Trắng ở xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La từ
tháng 9 đến tháng 11 năm 2015.
Những người được phòng vấn sâu khác nhau về giới, độ tuổi, nghề nghiệp và
địa vị xã hội. Trong đó đối tượng mà tác giả chú ý quan tâm lựa chọn Là
những người cao tuổi ( từ 60 tuổi trở lên còn minh mẫn, am hiểu về phong tục
tập quán của dân tộc, có kinh nghiệm về tập quá, kỹ thuật dựng nhà cũng như
các nghi lễ tập tục khác có liên quan đến ngôi nhà sàn của người Thái Trắng).
8
Bên cạnh đó, tác giả cũng lưu ý phỏng vấn cả những người trẻ tuổi để thấy rõ
xu hướng thay đổi về nhà ở của người Thái trắng hiện nay.
- Thảo luận nhóm: Để có được những nhận định, đánh giá về đặc điểm,
giá trị và sự biến đổi về ngôi nhà truyền thống của người Thái Trắng.
- Chụp ảnh khảo tả, đo vẽ kỹ thuật: Nhằm có được những tài liệu sinh
động góp phần làm sáng tỏ nội dung khó học của luận văn.
- Phương pháp so sánh:
+ So sánh lịch đại: So sánh nhà của người Thái hiện nay với nhà của
người thái trước thời điểm 1986 nhằm tìm ra sự biến đổi trong tập quán cư trú
của người Thái trong thời điểm hiện tại và trước thời ký đổi mới.
- So sánh đồng đại: So sánh nhà sàn của Thái trắng với nhà sàn của
người Thái trắng ở địa phương khác trong khu vực cũng như các khu vực phụ
cận, nhằm tìm ra sự giống và khác nhau trong cách bố trí, sắp xếp không gian
sinh hoạt và tập quán cư trú của người Thái trắng với một số tộc người khác
trong khu vực.
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Là công trình có tính hệ thống chuyên sâu về nhà ở của người Thái
Trắng ở xã Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La; ngoài việc đi sâu
mô tả nhà ở của người Thái, qua đó góp phần tư liệu cho việc nghiên cứu về
kiến trúc dân gian, lịch sử văn hóa của dân tộc Thái.
6.2. Luận văn bước đầu xác định những giá trị cơ bản của nhà sàn Thái
tầng, nhà kho… {72, 699}
+ Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa nhà cửa là nhà ở {72, 700}.
+ Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Nhà là tập hợp công
trình xây dựng, hình thành một tổ hợp những không gian nhân tạo để phục vụ
sinh hoạt và sản xuất của con người. Nhà có thể làm bằng gỗ, tre, nứa, lá, lợp
tranh... hoặc làm bằng gạch, bê tông cốt thép, đất dẻo. Tùy theo chức năng sử
dụng, có thể chia ra: Nhà ở, nhà máy, nhà bảo tàng, nhà hát... {??? trang 207}
Từ điển Bách khoa Việt Nam.
+ Theo Điều 1 của Luật Nhà ở (Luật số 56/2005/QH11 của Quốc hội,
ngày 29 tháng 11 năm 2005) định nghĩa: “Nhà ở là công trình xây dựng với
mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”.
Theo nhà dân tộc học Chu Thái Sơn "nhà ở là một công trình kiến trúc,
một dạng tồn tại của văn hóa vật chất gắn bó mật thiết với đời sống hàng
ngày của mỗi gia đình và mỗi con người. Ngôi nhà để ở, sản phẩm lao động
của mỗi dân tộc là một công trình văn hóa mang tính tổng hợp, mang những
sắc thái văn hóa riêng của từng dân tộc, một tiên nghi thích hợp với đặc điểm
môi trường thiên nhiên, một trung tâm của mọi hoạt động sản xuất, một biểu
hiện của cơ cấu xã hội và của tổ chức gia đình”. {48, 7}.
Như vậy, có thể nói nhà ở vừa là nơi con người trú ngụ, vừa là chỗ cất
giữ hạt giống lương thực, thực phẩm … sau đó con người đã sáng tạo ra nhiều
11
loại nhà với các công dụng khác nhau: Nhà ở, nhà kho, nhà công cộng, nhà
phục vụ cho các nghi lễ, tôn giáo, tín ngưỡng … của tộc người.
Nhà ở của các dân tộc dù với các kiểu kiến trúc khác nhau nhưng đều là
sản phẩm do bàn tay, khối óc con người sáng tạo. Kết cấu ngôi nhà, cách bài
trí không gian sinh hoạt … trong đó cấu trúc của ngôi nhà tùy thuộc vào sở
thích, thói quen, nhu cầu sử dụng của mỗi tộc người để từ đó tạo ra các yếu tố
mang tính tộc người và những yếu tố mang tính địa phương.
nên trong một xã hội nhất định (cơ sở tôn giáo, nhà ở, trang phục, ẩm thực …).
- Văn hóa tinh thần (spiritual culture): Văn hóa tinh thần hội tụ những
khía cạnh thuộc về tôn giáo, tín ngưỡng phong tục tập quán (liên quan đến đời
sống kinh tế, xã hội … ), các loại hình sân khấu, văn học dân gian, nghệ thuật,
lễ hội …
- Văn hóa xã hội (social culture): Văn hóa xã hội bao gồm những ứng
xử trong gia đình cộng đồng, xã hội, các quy tắc xã hội về hôn nhân, tang lễ,
các thiết chế văn hóa, xã hội …
- Văn hóa tộc người: Theo Ngô Đức Thịnh: Văn hóa tộc người là tổng
thể các yếu tố văn hóa mang tính đặc thù tộc người, nó thực hiện chức năng
cố kết tộc người và phân biệt tộc người này với tộc người khác. Trong văn
hóa tộc người, các yếu tố đầu tiên được nhận diện là ngôn ngữ, trang phục,
các tín ngưỡng và nghi lễ, vốn văn học dân gian, trí thức dân gian về tự nhiên
xã hội, về bản thân con người và trí thức sản xuất, khẩu vị ăn uống, tâm lý
dân tộc …
Trong nhiều trường hợp, văn hóa tộc người được quan niệm là: toàn
bộ những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể do các cộng đồng tộc người
sáng tạo ra trong quá trình sinh tồn và phát triển, gắn với môi trường tự
nhiên và xã hội; nó phản ánh những đặc điểm trong tư duy và lao động
sáng tạo của các tộc người trong các giai đoạn phát triển với các thông tin
về nội hàm và ngoại hàm phản ánh sự vận động nội tại và trong mối quan
hệ văn hóa với các tộc người khách nhau và với văn hóa quốc gia. Có thể
13
nói, văn hóa tộc người thường mang đậm những bản sắc riêng, đó là những
yếu tố tốt đẹp tạo nên tính chất đặc thù, cá tính riêng là các thuộc về bản
chất mang màu sắc có thể phân biệt được với tộc người khác.
- Truyền thống: Theo từ điển Tiếng Việt truyền thống là thói quen hình
thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang
bất bình đẳng về mặt xã hội hoặc chính trị khác định hướng dòng chảy của
các yếu tố văn hóa. Tiếp biến văn hóa bao gồm các quá trình khác nhau, gồm
khuyết tán, thích nghi mang tính ứng phó, các loại hình thái tổ chức xã hội và
văn hóa khác nhau sau tiếp và giải văn hóa hay phân giải văn hóa. Một loại
các điều chỉnh phát sinh, gồm việc có được sự tự trị đáng kể văn hóa hay điển
hình hơn, là sự đồng hóa của nhóm tiếp xúc yếu hơn bởi nhóm tiếp xúc mạnh
hơn, là sự đồng hóa của nhóm tiếp xúc yếu hơn bởi nhóm tiếp xúc mạnh hơn
và sự hỗn dung văn hóa, nhờ đó hai văn hóa có thể trao đổi đủ các yếu tố để
sau đó tạo ra một văn hóa riêng{64, tr.12}.
Như vậy lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa cho thấy, biến đổi là tất
yếu của mọi sự vật, hiện tượng, trong đó có văn hóa tộc người. Ngày nay,
dưới tác động của quá trình phát triển, toàn cầu hòa và hội nhập đang diễn ra
mạnh mẽ, sự giao lưu biến đổi của các tộc người, các nền văn hóa là không
tránh khỏi. Do đó về mặt phương pháp luận, khi nghiên cứu văn hóa tộc
người, trong đó có nghiên cứu về tập quán cư trú của người Thái Trắng và tập
quán cư trú của người Thái và ngôi nhà sàn truyền thống của người Thái
Trắng thì cần xem xét và đánh giá sự biến đổi là một xu thế tất yếu.
+ Lý thuyết sinh thái văn hóa
Được ra đời vào năm 1950 và gắn với tên tuổi của nhà nhân học người
Mỹ Julian Steward. Lý thuyết sinh thái văn hóa tập trung nghiên cứu mối
quan hệ giữa con người - môi trường - văn hóa. Lý thuyết sinh thái văn hóa
đưa ra phương pháp nghiên cứu đòi hỏi phải làm rõ quan hệ giữa văn hóa và
môi trường, từ quan điểm con người là chủ thể tồn tại thích ứng với môi
trường thông qua văn hóa, còn văn hóa chịu ảnh hưởng lớn của các tài nguyên
15
môi trường mà con người sử dụng. Trong những khu vực khác nhau nhưng có
môi trường giống nhau và phương pháp khai thác môi trường giống nhau thì
có khả năng có những nền văn hóa song hành.
văn hóa cơ sự dập khuôn với một cấu trúc đẳng cấp, bao gồm các tiểu hệ
thống chức năng của mộ cộng đồng văn hóa tộc người {64, tr.26}.
Thuyết cấu trúc - chức năng đòi hỏi nhà nghiên cứu văn hóa tộc người,
trong đó có nghiên cứu về tập quán cư trú của một tộc người phải thấy được ý
nghĩa giá trị văn hóa bên trong, những ý nghĩa sâu sắc, những quan niệm tập tục,
về trí thức dân gian, về thế giới quan nhân sinh quan của một tộc người được thể
hiện qua kỹ thuật, phong tục làm nhà truyền thống cũng như cách thức sử dụng
mặt bằng sinh hoạt, các ghi thức, ghi lễ có liên quan trong ngôi nhà.
Việc vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng đối với các đề tài này để
thấy được nhà ở của người Thái là sản phẩn mang tính nghệ thuật của kiến
trúc dân gian, có cấu trúc độc đáo mang đặc trưng của văn hóa tộc người. Nhà
sàn của người Thái không chỉ có chức năng là nơi trú ngụ, che mưa, che nắng
cho con người mà đó là một kiến trúc văn hóa đặc sắc nơi thể hiện quan niệm,
ý thức, nhân sinh quan, vũ trụ quan của người Thái, là nơi hội họp, giao lưu
gặp gỡ và tổ chức các buổi sinh hoạt mang tính chất cộng đồng, làng xóm.
1.3. Khái quát về địa bàn nghiên cứu
1.3.1. Khái quát về tỉnh Sơn La
Sơn La là tỉnh miền núi, vùng cao, nằm ở phía Tây Bắc, có tọa độ địa
lý 20039’- 22002 vĩ độ Bắc, 103011’- 105002’ kinh độ Đông, phía Bắc giáp
tỉnh Yên Bái, Lào Cai; phía Đông giáp tỉnh Lai Châu; phía Nam giáp tỉnh
Thanh Hóa và Nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Sơn La có Thành phố
Sơn La cách thủ đô Hà Nội 320 km về phía Tây Bắc. Diện tích tự nhiên toàn
tỉnh 14.055km2, chiếm 4,27% diện tích cả nước.
Địa hình tỉnh Sơn La chia cắt sâu và mạnh, vùng núi chiếm 85% diện
tích tự nhiên toàn tỉnh. Sơn La có hai cao nguyên tương đối bằng phẳng đó là:
cao nguyên Mộc Châu và cao nguyên Nà Sản, phần còn lại là các bãi bằng
17
nhỏ hẹp xen kẽ núi cao với độ cao trung bình 600 - 700m so với mặt biển,
tới Điện Biên. Trong đó có nói tới sự kiện giao tranh với “quân Xá” (quân của
các cư dân bản địa Nam Á), “Quân Xá” thua trận, mất đất đai và phải dâng
trống đồng cho quân Thái. Từ đây các bộ tộc bản địa suy thoái dần mở ra thời
kỳ người Thái làm chủ nhân của miền đất Tây Bắc. Vì vậy, với người Thái
Mường Chiên được hiểu là nơi bắt đầu, khởi nguồn của cả vùng người Thái
của huyện Quỳnh Nhai xưa. Mọi phong tục tập quán, nét văn hóa đặc sắc của
đồng bào Thái dọc hai bên bờ sông Ðà cũng bắt nguồn từ đây, là nơi lưu giữ
nhiều sự tích, truyền khẩu nhiều truyền thuyết từ rất lâu đời. Đồng thời, địa
danh Mường Chiên là ký ức của Trung tâm huyện lỵ Quỳnh Nhai trong lịch
sử, nơi khởi nguồn của Đền thờ, nhân vật huyền thoại Nàng Han và Linh Sơn
từ tại trung tâm huyện Quỳnh Nhai hiện nay.
1.3.2. Khái quát về người Thái tại Sơn La và người Thái Trắng ở xã
Mường Chiên, huyện Quỳnh Nhai.
1.3.2.1. Vài nét về lịch sử tộc người
Từ rất sớm trong lịch sử vùng đất Sơn La - Tây Bắc đã hội tụ được cư
dân trong vùng và cư dân từ những nơi khác thiên di đến làm ăn sinh sống
trên mảnh đất này. Cho đến nay Tây Bắc là địa bàn sinh sống lâu đời của 23
dân tộc anh em gồm: Thái, H’Mông, Lự, Hoa, Kinh, La Ha, Khơ Mú, Kháng,
Xinh Mun, Tày, Nùng, Dao, Mường … trong đó dân tộc Thái là dân tộc thiểu
số có số dân đông nhất, chiếm 51% dân số trong vùng (số liệu thống kê ngày
01/9/2009).
Người Thái chủ yếu sinh sống ở các vùng thấp, vùng giữa nơi có đất
đai màu mỡ, gần nguồn nước, giao thông đi lại thuận tiện. Hiện nay, người
Thái tập trung sinh sống đông nhất ở các vùng Mường Thanh, Mường Lay
(Điện Biên); Sìn Hồ, Phong Thổ (Lai Châu); Thuận Châu, Mường La, Mộc
Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Phù Yên, Quỳnh Nhai (Sơn La), Mường Lò (Yên
Bái), Than Uyên (Lào Cai) …
19
các dân tộc tỉnh Sơn La nói chung, dân tộc Thái trắng ở xã Mường Chiên nói
riêng không ngừng cải tạo tự nhiên, biến những đồi cằn, núi hoang, gò bãi
đầm lầy ... thành các tràn ruộng, cánh đồng, ao cá vườn cây phục vụ đời sống
con người. Người Thái trắng ở đây chủ yếu sinh sống bằng phương thức trồng
trọt, chăn nuôi. Người ta khai phá nương rẫy từ rừng tự nhiên rất màu mỡ
thích hợp với từng loại cây trồng như lúa, ngô, khoai, sắn, lạc, vừng ... Hiện
nay đồng bào còn nuôi trồng thủy sản trên lòng hồ thủy điện Sơn La, ngoài ra
còn khai thác trên rừng, dưới sông, suối, trong lòng đất, và đó cũng là nguồn
thu nhập quan trọng đảm bảo đời sống của tộc người Thái. Không chỉ giỏi về
chăn nuôi, trồng trọt, các tộc người tỉnh Sơn La nói chung, người Thái Trắng
nói riêng còn làm các nghề thủ công truyền thống như khai thác, chế biến
nông sản và dược liệu; thêu dệt các vật liệu và mặt hàng sợi bông, sợi lanh và
vải nhuộm, sáng chế ra các công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt và các đồ
trang sức. Đã từ lâu, các sản phẩm thủ công truyền thống của người Thái ở
tỉnh Sơn La được biết đến, được đánh giá cao bởi chất lượng cũng như độ tinh
xảo, được nhiều khách tham quan, du lịch ưa chuộng.
* Đời sống xã hội
Đơn vị cư trú của người Thái tương đương với một làng của người
Kinh gọi là bản, bản người Thái Trắng ở Mường Chiên cạnh các sườn núi,
ven sông, ngọn đồi thấp dọc theo sống suối. Trước đây, mỗi bản người Thái ở
xã Mường Chiên có từ 50- 70 nóc nhà, hiện nay các bản lớn hơn và mật độ cư
trú đông hơn khoảng 90 - 100 nóc nhà. Có những bản cư trú phân tán thành
từng cụm, mỗi cụm 6 - 9 nhà, cụm nọ cách cụm kia một con suối, một con
đường hay một cánh đồng hay một quả đồi. Ở những nơi đồng ruộng phì
nhiêu, dân cư đông đúc, bản người Thái tập trung đông nhà hơn. Quan hệ xã
hội giữa những người cùng sống trong bản làng người Thái thân tình, cởi mở,
đoàn kết, tương thân, tương ái. Trong mối quan hệ với cộng đồng người Thái
sẵn sàng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau mỗi khi gia đình nào có việc lớn như: