tình hình sức khỏe của người dân trồng và chế biến thuốc lá ở xã lâu thượng, huyện võ nhai, tỉnh thái nguyên và các yếu tố liên quan - Pdf 20


1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Tác hại của hút thuốc lá đối với sức khỏe đã được chứng minh và đề cập
trong nhiều nghiên cứu. Trước nay chúng ta đều biết hút thuốc lá ảnh hưởng rất
lớn đến sức khỏe không chỉ của người hút mà còn của những người xung quanh
(hút thuốc lá thụ động) [2],[3],[11]. Khói thuốc chứa nhiều thành phần hóa học
có hại cho sức khỏe mà đặc biệt là chất nicotine có trong thuốc lá. Nicotine hấp
thu vào cơ thể qua da, niêm mạc miệng hoặc mũi, hoặc được hít vào phổi, sau khi
vào cơ thể, nicotine nhanh chóng( trong vòng 10 giây) được đưa lên não và gây
nghiện [17]. Chính vì vậy mà không những người hút thuốc mà ngay cả người
không hút thuốc, nếu tiếp xúc với khói thuốc(mà chính xác là chất nicotine có
trong khói thuốc lá) thì cũng sẽ chịu ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe. Hút
thuốc lá làm tăng nguy cơ ung thư, tim mạch, các bệnh phổi,v.v
[4],[5],[17],[20],[22].[24].
Các công ty thường cho rằng trồng thuốc lá sẽ tạo ra nguồn thu nhập dồi dào
cho người nông dân, cộng đồng và các quốc gia. Tuy nhiên, trên thực tế, trong
khi ngành công nghiệp thuốc lá không thể chứng minh được trồng thuốc lá tạo ra
nguồn thu nhập dồi dào cho người trồng thuốc lá thì hậu quả về mặt sức khỏe và
ảnh hưởng lớn đến môi trường do trồng thuốc lá gây nên đã được chứng minh
qua các công trình nghiên cứu trên khắp thế giới. Nguy cơ đối với sức khỏe của
những người trồng thuốc lá xảy ra trong toàn bộ quá trình trồng trọt thuốc lá,
ngay từ khi bắt đầu gieo hạt cho đến khi thu hoạch [18].
Một số nghiên cứu đã chỉ ra tác động có hại của việc trồng và chế biến thuốc
lá đối với sức khỏe của nông dân. Thường xuyên hái và tiếp xúc với cây thuốc lá
khiến người nông dân có thể mắc bệnh thuốc lá xanh (GTS: Green tobaco
sickness), là một dạng nhiễm độc do chất nicotine ngấm qua da tác động lên
người nông dân trồng thuốc lá trong suốt quá trình từ khi trồng, chăm sóc đến thu
hoạch. Bệnh có các triệu chứng điển hình buồn nôn, nôn, mệt mỏi, choáng váng,
thỉnh thoảng thay đổi đột ngột huyết áp và nhịp tim [18]. Việc sử dụng các loại

Chương I. TỔNG QAN TÀI LIỆU
1.1. Khái quát về cây thuốc lá
Thuốc lá là một loại cây có tên nicotinana tabacum hay loại cây tương tự
được phơi khô, dùng để hút, nhai, hay làm thuốc hít, có chứa nicotine, là một
chất độc và gây nghiện mạnh, đặc biệt có hàm lượng cao trong các lá già. Nếu
đưa vào cơ thể một lượng lớn chất nicotine có thể gây chết người[4],[9],[17].
Hoạt chất chủ yếu của thuốc lá hoặc thuốc lào là chất Nicotin, một loại
Alcaloid. Nicotin là tên gọi được đặt theo tên của một nhà ngoại giao người Pháp
Nicot (1530 – 1600), người đầu tiên nhập thuốc lá vào Pháp [4]. Thuốc lá được
tìm ra đầu tiên tại Châu Mỹ thế kỷ XV, đến thế kỷ XIX thuốc lá được phổ biến
rộng rãi trên toàn cầu, mãi đến đầu thế kỷ XX con người mới phát hiện ra tác hại
đối với sức khỏe của chất nicotine có trong thuốc lá.[8]. Hàm lượng Nicotin
trong các loại thuốc này thay đổi từ 2 – 10%. Một số loại thuốc lào tốt có thể
chứa đến 16% nicotin. Ở liều thấp nicotine có tác dụng tạo ra sự sảng khoái nhẹ
nhàng, làm dịu cơn đói và bớt mệt mỏi. Nếu sử dụng kéo dài sẽ gây lệ thuộc và
độc hại cho cơ thể, liều cao sẽ gây chết người như đã đề cập ở phần trên [4]. Cơ
quan Kiểm soát Dược và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) xếp nicôtin vào nhóm các
chất có tính chất dược lý gây nghiện chủ yếu, tương tự như các chất ma tuý
Heroin và Cocain [17]
1.2. Ảnh hưởng của thuốc lá đối với sức khỏe
Hút thuốc lá làm ô nhiễm môi trường và làm hại sức khỏe không chỉ của
người hút thuốc mà cả người không hút thuốc. Có hơn 4000 hóa chất độc hại
chứa trong khói thuốc lá [30]. Có 3 kiểu khói thuốc: dòng khói chính, dòng khói
phụ và khói thuốc môi trường. Dòng khói chính: là dòng khói do người hút thuốc
hít vào. Đó là luồng khí đi qua gốc của điếu thuốc. Dòng khói phụ: là khói thuốc
từ đầu điếu thuốc đang cháy toả ra vào không khí, nó không bao gồm phần khói
thuốc do người hút thở ra. Khoảng 80% điếu thuốc là cháy bỏ đi. Khói thuốc môi
trường: là hỗn hợp của dòng phói phụ và khói thở ra của dòng khói chính cũng
như các chất tạp nhiễm khuếch tán qua giấy quấn thuốc lá và đầu điếu thuốc giữa
các lần hút. Khói thuốc phụ có nhiều hỗn hợp gây ung thư mạnh hơn khói thuốc

thuốc hút, số năm hút và lứa tuổi bắt đầu hút thuốc lá càng sớm càng nguy hiểm
[14], [22]

5
Hút thuốc và các bệnh hô hấp
Hút thuốc lá gây phá hủy hoặc gây liệt hệ thống lông chuyển của phổi làm
giảm chức năng phổi, là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra bệnh phổi tắc nghẽn
mãn tính. Ngoài ra hút thuốc lá còn tạo điều kiện làm tình trạng của bệnh hen
nặng hơn, dễ gây ra nhiễm khuẩn đường hô hấp (viêm phổi, cúm, viêm khí quản,
v.v)
Hút thuốc và bệnh tim mạch
Những người hút thuốc lá có nguy cơ mắc các bệnh về tim, mạch cao hơn
những người không hút thuốc đặc biệt là bệnh mạch vành. Ngoài ra hút thuốc ảnh
hưởng gây tăng nhịp tim và huyết áp, gây đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim,
phình động mạch chủ, bệnh cơ tim, bệnh mạch máu ngoại vi [14].
Các ảnh hưởng khác của hút thuốc lá chủ động
Các ảnh hưởng của thuốc lá lên chức năng sinh sản:trong quá trình mang
thai, người mẹ hút thuốc lá sẽ làm giảm trọng lượng thai nhi trung bình khoảng
200g, sinh non, băng huyết sau sinh, dễ sẩy thai, gia tăng tần suất sinh ra thai bất
thường bẩm sinh. Thời kỳ cho con bú, người mẹ hút thuốc thì nicotine được thải
qua sữa có thể ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh [4].
Ảnh hưởng lên chức năng thần kinh:Các nghiên cứu mới đây còn chứng
minh, hút thuốc lá làm giảm số lượng tế bào thần kinh trong não.
1.2.1.2. Nguy cơ của việc hút thuốc lá thụ động
Những người không hút thuốc nhưng chung sống hay cùng làm việc với
những người nghiện thuốc lá, đặc biệt là đối tượng trẻ con vẫn có nguy cơ bị
bệnh rất cao do hít phải khói thuốc thụ động. Công nhân làm cho các nhà máy
sản xuất thuốc lá, người nông dân trồng và chế biến thuốc lá cũng bị những nguy
cơ tương tự. Mặc dù không nhìn thấy khói thuốc nữa, nhưng chất độc từ khói
thuốc lá vẫn còn tồn tại khá lâu trong không khí, trong các đồ đạc, quần áo dụng

[28].
1.2.1.3. Các chứng bệnh khác do hút thuốc lá gây ra:
- Bệnh đường tiêu hóa : viêm Dạ dày Tá tràng, Loét Dạ dày Tá tràng
- Bệnh lý về Tai – Mũi – Họng.
- Những rối loạn về da: xuất hiện sớm các vết nhăn trên mặt, Nicotine làm da
của các ngón tay cầm điếu thuốc trở nên màu vàng nâu.[4],[5].

7
1.2.2 .Ảnh hưởng của trồng thuốc lá đối với sức khỏe
Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng trồng và chế
biến thuốc lá là nguyên nhân gây nhiều chấn thương và bệnh tật cho những người
trồng thuốc lá.

1.2.3.1. Ảnh hưởng do tiếp xúc thuốc lá
Những người tham gia vào trồng trọt và chế biến thuốc lá, đặc biệt là phụ nữ,
sẽ có thể bị “ hội chứng nhiễm độc thuốc lá xanh” (GTS: Green Tobacco
Sickness). Hội chứng này do chất nicotin từ cây thuốc lá ngấm vào da. Các triệu
chứng thường gặp của GTS là hoa mắt, nhức đầu, buồn nôn và có thể bao gồm cả
đau quặn bụng dưới, đau đầu, mệt mỏi, khó thở, đau bụng, tiêu chảy, hoặc thỉnh
thoảng có thể xuất hiện những thay đổi bất thường về huyết áp hoặc nhịp tim.
Hội chứng GTS thường không quá nghiêm trọng và có thể tự phục hồi trong hai
đến ba ngày. Tuy nhiên, các triệu chứng nêu trên có thể diễn biến khá nghiêm
trọng dẫn đến mất nước và cần được chăm sóc y tế khẩn cấp [18],[20],[24],[25].
GTS thường gặp do tiếp xúc với cây thuốc lá khi lá cây vẫn còn ướt. Chất
nicotine trong cây thuốc lá sẽ trộn với nước có trên lá cây và thấm vào quần áo,
sau đó sẽ theo da ngấm vào máu. Quần áo ẩm sẽ giữ nicotine tiếp xúc với da
trong suốt cả ngày làm việc. GTS có thể biểu hiện ra ngay sau một vài giờ làm
việc hoặc đến tận cuối ngày, thậm chí sau khi kết thúc công việc. Để phòng tránh
được GTS, người nông dân có thể mặc quần áo mưa khi tiếp xúc với cây thuốc lá
hoặc chờ đến khi lá cây khô hẳn mới đi làm để hạn chế sự xâm nhập của nicotine

1.5% số hộ bị rơi xuống dưới ngưỡng nghèo. Ngược lại, nếu dùng chi tiêu cho
thuốc lá để mua lương thực, thực phẩm cho gia đình thì 11.2% số hộ nghèo lương
thực, thực phẩm( theo định nghĩa của Ngân Hàng Thế giới và tổng cục thống kê,
ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm tại Việt Nam năm 1998 bằng 107 234
VND/tháng) sẽ thoát nghèo [7],[9],[10] . Mặt khác, hút thuốc lá sẽ gây ra những
bệnh tật nguy hiểm như đã trình bày phần trên, chi phí để chăm sóc y tế cho
chính bản thân người hút và người bị hút thuốc lá thụ động trong gia đình là rất
lớn, có gia đình không thể chịu đựng nổi (chưa nói đến những bệnh nan y như
ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính…)[7].

9
- Ảnh hưởng đến kinh tế quốc gia: Dựa vào điều tra Y tế Quốc gia năm 2002,
tỷ lệ hút thuốc của nam giới là 38,8%, số nam giới từ tuổi 15 trở lên là 31 triệu
người [10], và việc chi cho thuốc lá trung bình mỗi người là 682.800 đồng/năm;
ước tính tổng số tiền chi cho thuốc lá tại Việt Nam là 8.213 tỷ đồng/ năm [7].
Đất canh tác dùng cho sản xuất các loại cây lương thực bị thu hẹp lại, nhường
chỗ cho cây thuốc lá vì có lợi nhuận cao hơn. Một lượng giấy khổng lồ phục vụ
cho việc vấn các điếu thuốc lá, và các loại bao bì.Để phục vụ cho việc sấy lá
thuốc, hàng năm khoảng 200 000 ha rừng bị phá hủy [26]. Rác rưởi do thuốc lá
cũng ảnh hưởng xấu đến môi trường sống. Chi phí chăm sóc y tế cho những
người dân hút thuốc lá và việc giảm ngày công lao động của họ là những tổn thất
rất lớn cho một quốc gia có nhiều người nghiện thuốc lá. Ngoài ra thuốc lá còn
có nguy cơ gây ra những vụ hoả hoạn dữ dội và những vụ cháy rừng tàn phá tài
nguyên quốc gia [4].
1.4. Tình hình nghiên cứu về sức khỏe người dân trồng thuốc lá.
1.4.1. Nghiên cứu về sức khỏe người dân trồng thuốc lá trên thế giới
Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng trồng và chế
biến thuốc lá là nguyên nhân nhiều chấn thương và bệnh tật cho những người
trồng thuốc lá. Những người tham gia vào trồng trọt và chế biến thuốc lá, trong
đó phụ nữ là đối tượng có nguy cơ cao hơn nam giới, có thể bị GTS (Ballard T và

khoảng 0,11% tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hay 18% kinh phí chính phủ
dành cho y tế và 19% kinh phí do các công ty thuốc lá đóng góp cho nhà nước
[11].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thạc Minh và cộng sự 2002 thì thuốc lá là
nguyên nhân làm nhiều hộ gia đình bị rơi vào đói nghèo. Tiêu dùng thuốc lá
không chỉ gây nên nghèo đói mà còn làm tăng khoảng cách của bất bình đẳng,
tăng khoảng cách giàu nghèo [7].
Năm 2007, Hoàng Văn Minh và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu mô tả
cắt ngang so sánh về tình hình sức khỏe cũng như thu nhập của những người dân
trồng thuốc lá và những người dân không trồng thuốc lá tại một vùng nông thôn
Việt nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi ích kinh tế mà người nông dân thu
được từ trồng trọt thuốc lá là rất nhỏ và những người nông dân trồng thuốc lá có
xu hướng có nhiều vấn đề sức khỏe ốm đau, bệnh tật hơn so với những người

11
nông dân không trồng thuốc lá[8].
Tại Việt Nam, kiểm soát thuốc lá đã và đang nhận được nhiều quan tâm của
Chính phủ và cộng đồng. Nghị định Số 77/2002/QĐ-TTg của Chính phủ phê
chuẩn chương trình phòng chống và kiểm soát các bệnh không lây nhiễm giai
đoạn 2002–2010, nghị quyết Chính phủ 12/2000/NQ-CP về chính sách kiểm soát
thuốc lá quốc gia 2000 – 2010 đã thể hiện được sự quan tâm của Chính phủ trong
vấn đề kiểm soát thuốc lá. Việt Nam cũng đã ký kết công ước khung về kiểm soát
thuốc lá ngày 8 tháng 8 năm 2003 và phê chuẩn công ước khung về kiểm soát
thuốc lá ngày 17 tháng 12 năm 2004.
Hoàng Văn Kình và cộng sự, 2004 đã tiến hành một nghiên cứu về ảnh hưởng
của các chính sách công với việc giảm hút thuốc lá và tử vong do hút thuốc lá
trong đó nhóm nghiên cứu đã lập mô hình ảnh hưởng của các can thiệp liên quan
đến giá cả(các loại thuế), các quy định liên quan đến nơi không hút thuốc, các
chính sách liên quan đến thông tin đại chúng, cấm quảng cáo, lời cảnh báo sức
khỏe và chiến lược giảm sự tiếp cận của thanh thiếu niên với thuốc lá. Mô hình

diện tích 84.510,4 ha. Võ Nhai có khoảng 29.703 lao động nông nghiệp, chiếm
47,43% dân số. 6 trong tổng số 16 xã (38%) của Huyện Võ Nhai trồng thuốc lá,
luân canh với lúa và các loại ngũ cốc khác như ngô, sắn,vv. Xã Lâu Thượng
thuộc huyện Võ nhai sẽ được lựa chọn vào nghiên cứu.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Người nông dân trồng thuốc lá tại xã Lâu Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên.
2.3. Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 02/2010 đến tháng 06/2010
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang;
- Phỏng vấn đối tượng dựa vào bộ câu hỏi được thiết kế sẵn.
2.4.2 Cỡ mẫu, cách chọn mẫu
- Cỡ mẫu được tính theo công thức:

n=Z²(1-α/2)
1
-

p

ε
² p

+ Với α= 0,05 thì Zα/2= 1,96;
+ Với p= 0,2; ε= 0,2; α= 0,05  cỡ mẫu n= 385 người

+ Đối tượng là người già, trẻ em không có khả năng trả lời sẽ hỏi người biết
nhiều thông tin nhất trong hộ gia đình đó để trả lời thay.
+ Đối tượng mất khả năng giao tiếp (như khiếm thính, câm, tâm thần v.v.)
2.4.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu
- Biến số:
+ Nhóm biến số thông tin chung: tuổi, giới, dân tộc, trình độ học vấn, nghề
nghiệp, kinh tế.
+ Nhóm biến số về sức khỏe:
 Tình hình mắc các triệu chứng bệnh trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn.
 Ngày không làm việc được trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn.
 Tình hình mắc bệnh mạn tính trong 1 tháng trước ngày phỏng vấn.
 Tình trạng sức khỏe do người dân tự đánh giá trong 1 tháng trước ngày
phỏng vấn.
Comment [N1]:
Lần trước em hỏi chị Trang về
cách chọn mẫu, chị Trang bảo lấy hộ trồng thuốc lá
từ nhiều đến ít nhưng cố Tài hỏi có thể lấy danh sách
này không. Em muốn hỏi lại cô về cách chọn mẫu

15
 Chất lượng cuộc sống do người dân tự đánh giá trong 1 tháng trước ngày
phỏng vấn.
+ Nhóm biến số hành vi:
 Thời gian trồng, chế biến thuốc lá trong tháng trước.
 Sử dụng thuốc sâu, hóa chất bảo vệ thực vật, hoặc thuốc kích thích tăng
trưởng trong tháng trước.
 Sử dụng bảo hộ lao động trong quá trình trồng trọt trong tháng trước.
 Tình hình sử dụng thuốc lá .
 Tình hình sử dụng rượu bia
- Chỉ số:

+ Mục tiêu 2:
 Số trung bình các triệu chứng cấp tính người dân mắc phải theo các đặc
điểm: tuổi, giới kinh tế, trình độ học vấn, nghề nghiệp, hành vi( trồng, chế
biến thuốc lá; sử dụng thuốc sâu, HCBVTV, chất kích thích tăng trưởng;
sủ dụng bảo hộ lao động; hút thuốc lá; uống rượu bia)
 Tỷ lệ người dân mắc bệnh mạn tính phân theo các đặc điểm: tuổi, giới,
kinh tế, trình độ học vấn, nghề nghiệp, hành vi( trồng, chế biến thuốc lá;
sử dụng thuốc sâu, HCBVTV, chất kích thích tăng trưởng; sủ dụng bảo hộ
lao động; hút thuốc lá; uống rượu bia).
 Tỷ suất chênh hiệu chỉnh mắc bệnh mãn tính theo các nhóm đặc trưng dân
số, kinh tế, văn hoá, xã hội
2.4.4. Xử lý số liệu
- Làm sạch số liệu: số liệu sau khi được thu thập, được kiểm tra ngay dưới địa
bàn nghiên cứu, nếu còn thiếu số liệu sẽ được thu thập bổ sung và làm rõ những
số liệu còn nghi ngờ.
- Nhập số liệu: số liệu được nhập bằng phần mền Epidata 3.0.
- Phân tích số liệu bằng phần mền Stata 10.

17
2.4.5. Sai số, cách khắc phục
- Sai số:
+ Sai số nhớ lại của đối tượng trả lời phỏng vấn: tương tự như trên
+ Sai số do đối tượng từ chối phỏng vấn
- Cách khắc phục:
+ Tập huấn kỹ cho điều tra viên trước khi tiến hành nghiên cứu, tiến hành
phỏng vấn thử giữa các điều tra viên.
+ Trong quá trình chọn mẫu, lấy tăng số đối tượng so với công thức tính mẫu.
2.5. Đạo đức trong nghiên cứu
- Giải thích rõ cho đối tượng về nội dung và mục đích nghiên cứu để đối
tượng tự quyết định tham gia nghiên cứu;


24
,
1

16
-

24 tu
ổi

109

14
,
1

25
-

44 tu
ổi

265

34
,
2

45


N


388

50
,
3

Dân t
ộc

Kinh

225

29
,
2

Nùng

506

65
,
6

Khác

13
8

17,
8

T
ốt nghiệ
p c
ấp II

2
90

37,4

T
ốt nghiệp cấp III, sau cấp III

99

12
,
8

Ngh
ề nghiệp
chính 12 tháng
qua
Nông dân


6
,
9

Trung bình

515

66
,
5

C
ận ngh
èo, nghèo

206

26
,
6 19
Nhận xét: Đặc điểm dân số, kinh tế, văn hóa, xã hội của đối tượng nghiên cứu có
một số nét đặc trưng sau:


%

T
ần số

%

T
ần số

%

Nhi
ều (>
10 sào)

45

17,2

53

21,4

98

19,3

Trung bình (6


Nhận xét: Tỷ lệ người dân trồng thuốc lá với diện tích trung bình( 6 – 10 sào)
chiếm đa số(65,1%)

Bảng 3.1.3: Sự tham gia trồng và chế biến thuốc lá của người dân theo nhóm
tuổi
Nhóm tuổi
Tr
ồng thuốc lá

Không tham gia

Có tham gia

T
ổng

0
-
15

114

61.0

73

39.0

187


265

100

45
-
60

14

8.9

144

91.1

158

100

>60

45

80.4

11

19.6

tuổi. Cô thấy có được không ạ?

21
Bảng 3.1.4: Tình hình sử dụng bảo hộ lao động của đối tượng nghiên cứu
trong quá trình trồng trọt.
M
ức độ sử dụng thuốc
trừ sâu, HCBVTV,
chất kích thích
Nam

N


Chung

T
ần số

%

T
ần số

%

T
ần số

%


Th
ỉnh thoảng

38

9,8

39

10,0

77

9,9

Thư
ờng xuy
ên

25

6,5

28

7,2

53


rượu bia
Nam

N


Chung

T
ần
số
%

T
ần
số
%

T
ần
số
%

Hút thu
ốc hiện tại

291

100



0,0

46

7,8

Không hút

125

43,1

294

99,0

419

71,4

U
ống r
ư
ợu/bia hiện tại

291

100



47

16,2

1

0,3

48

8,2

U
ống <
1 l
ần 1 tuần

96

33,0

6

2,0

102

17,3


54,9Nhận xét: Tình hình hút thuốc lá và uống rượu, bia ở nhóm đối tượng từ 16 tuổi
trở lên phổ biến ở nam. Đối tượng nam hút thuốc hàng ngày là 41%, uống
rượu/bia hàng ngày là 14,4%. Tỷ lệ này ở nữ lần lượt là 1% và 0,7% Comment [N5]:
Em có nên để nguyên bảng này
không ạ vì nếu phân theo nhóm tuổi thì sẽ không so
sánh được giữa nam và nữ chung

23
3.2. Tình hình sức khỏe, bệnh tật của người dân trồng và chế biến thuốc lá.
Bảng 3.2.1: Tình hình ốm trong một tháng qua trước ngày phỏng vấn theo báo
cáo của đối tượng nghiên cứu .
Triệu chứng
Nam (N=386)
Nữ
(N=389)
Tổng
(N=775)
T
ần
số
T
ỷ lệ
%
T

9

Bu
ồn nôn

4

1
,
0

27

6
,
9

31

3
,
5

Nôn

2

0
,
5


88

11
,
4

Đau nh
ức đầu

42

10
,
9

93

23
,
9

135

17
,
4

Đau b
ụng

6
,
7

36

4
,
7

Khó th
ở hoặc thở gấp

0

0
,
0

5

1
,
3

5

0
,
7


5

1
,
3

5

0
,
7

Đánh tr
ống ngực

(Tim đ
ập nhanh)

0

0
,
0

5

1
,
3

8

2
,
1

9

1
,
2

Đau m
ỏi ng
ư
ời

58

15
,
0

82

21
,
1

140

0
,
5

5

1
,
3

7

0
,
9

Đau m
ắt

0

0
,
0

1

0
,
3

6
,
2

48

6
,
2

Lo l
ắng, lo sợ một việc g
ì
đó

27

7
,
0

28

7
,
2

55

7

2.9
4.4
3.4
2.6
1.9
0.5
1
0.3
0
1
8.5
4.6 4.6
1.6
2.1
1.3
0.5
0.3 0.3
1.8
5.7
4.5
4
2.1
2
0.9
0.8
0.3
0.1
1.4
0
1


Biểu đồ 3.2.2: Tỷ lệ người dân mắc bệnh mạn tính

25

0%
20%
40%
60%
80%
100%
nam nữ chung
không biết
rất yếu
yếu
trung bình
khỏe

Biểu đồ 3.2.3: Tỷ lệ tình trạng sức khỏe do người dân tự đánh giá

Nhận xét: Tỷ lệ người dân tự đánh giá sức khỏe của mình trung bình chiếm tới
68,0%, chỉ có 26,2% người dân cho rằng sức khỏe của mình khỏe. Đa số nam và
nữ đánh giá sức khỏe là trung bình( nam: 66,3%; nữ: 69,6%). Nam giới tự đánh
giá sức khỏe của mình khỏe cao hơn nữ( nam: 28,5%; nữ 24,2%), và tình trạng
sức khỏe yếu thấp hơn nữ( nam: 1,0%; nữ 2,8%)

28,5

24,2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status