1
LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian học tại Trƣờng Cao Đẳng Sơn La em đã học đƣợc những
kiến thức và kinh nghiệm để áp dụng vào thực tập tại địa phƣơng bản Nà Mùn
xã Chiềng Khay huyện Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La
Lời đầu tiên em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô trong ban
giám hiệu Trƣờng Cao Đẳng Sơn La, cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa
Nông Lâm đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ em trong
thời gian thực tập. Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên:
th.s Quàng Thị Vân Thảo ngƣời đã tận tình quan tâm, giúp đỡ và chỉ bảo hƣớng
dẫn em trong suốt trong suốt thời gian nghiên cứu và làm bài tiểu luận này. Trân
trọng cảm ơn Đảng Uỷ - Uỷ Ban Nhân Dân xã Chiềng Khay đã tạo điều kiện
giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu thực tập.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu và làm bài nhƣng
do chƣa có nhiều kinh nghiệm thực hiện đề tài, phạm vi nghiên cứu hạn hẹp,
thời gian nghiên cứu và làm bài tiểu luận còn hạn chế nên bài tiểu luận của em
không tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm kính mong nhận đƣợc sự nhận
xét, đánh giá và giúp đỡ của các thầy cô giáo để bài tiểu luận của em đƣợc hoàn
thiện hơn. Sơn La, tháng 5 năm 2013
SINH VIÊN
Lƣờng Văn Tƣơng
3
đầu tƣ thâm canh ở các nƣớc kém phát triển vì vậy năng suất sản lƣợng trồng
đậu xanh còn thấp.
Có rất nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản là do ngƣời dân chƣa
áp dụng đúng các biện pháp kỹ thuật nhƣ phân bón sao cho từng giống đậu xanh
vì thế chƣa phát huy hết tiềm năng của giống.
Trong thực tế có những kết quả về liều lƣợng phân bón cho cây đậu xanh
đƣa vào sản xuất tại địa phƣơng góp phần cải thiện năng suất của huyện Quỳnh
Nhai nói riêng và của toàn Tỉnh nói chung từ thực tế đó em tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón trên giống đậu xanh ĐX11 bản Nà
Mùn xã Chiềng Khay huyện Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La.”
1.2. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục đích
Nghiên cứu ảnh hƣởng của liều lƣợng phân bón đến sinh trƣởng, phát
triển và năng suất của giống đậu xanh ĐX11 nhằm xác định đƣợc điều lƣợng
phân bón hợp lý cho đậu xanh ĐX11 trồng điều kiện vụ đông xuân tại bản Nà
Mùn xã Chiềng khay tỉnh Sơn La
1.2.2. Yêu cầu
- Nghiên cứu ảnh hƣởng của liều lƣợng phân bón đến sinh trƣởng, phát
triển của giống đậu xanh ĐX11
- Nghiên cứu ảnh hƣởng của liều lƣợng phân bón đến năng suất, các yếu
tố cấu thành năng suất và hiệu của kinh tế của giống đậu xanh ĐX11
4
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
thần, trình độ dân trí đã đƣợc cải thiện nâng cao lên một bƣớc so với mặt bằng
chung của huyện. [4]
2.1.2. Kinh tế xã hội
Toàn xã sản xuất nông nghiệp là chính, trong những năm gần đây đƣợc sự
quan tâm của phòng nông nghiệp huyện và sự chỉ đạo sát sao của cấp Ủy chính
quyền địa phƣơng nên đã có sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đúng đắn
kịp thời. Nền kinh tế của xã có những bƣớc tăng trƣởng, các hoạt động sản xuất
tiểu thủ công nghiệp, thƣơng mại, ngành nghề dịch vụ đang đƣợc phát triển mở
rộng, sản xuất nông - lâm nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hóa. Đời sống vật
chất, tinh thần của nhân dân đƣợc cải thiện rõ rệt, các công trình trọng điểm đã
đƣợc quan tâm đầu tƣ. Ngành nông nghiệp luôn đƣợc xác định là ngành mũi
nhọn trong phát triển kinh tế xã hội của xã cả trong hiện tại cũng nhƣ trong
tƣơng lai. Năm 2008 tốc độ tăng trƣởng kinh tế đạt 8 - 9%, thu nhập bình quân
đầu ngƣời đạt 2,5 triệu đồng/năm, song bên cạnh những đổi thay đó nhìn chung
nền kinh tế phát triển chƣa đều và vững mạnh, một số hộ gia đình do nhận thức
còn hạn còn độc canh những giống cây trồng truyền thống kém năng suất và một
số hộ gia đình do không chịu khó học hỏi, trao đổi kinh nghiệm từ những gia [4]
2.1.3. Điều kiện khí hậu thủy văn
Xã Chiềng Khay mang đặc trƣng khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền núi
phía Bắc. Đƣợc chia thành hai mùa rõ rệt, mùa nóng ẩm, (mùa mƣa) từ tháng 5
đến tháng 11 mƣa tập trung vào các tháng 6, 7, 8, mùa khô lạnh (mùa khô) Từ
tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Tuy nhiên xã Chiềng Khay nằm ở vùng có độ cao
lớn nên ở đây có yếu tố khí hậu á nhiệt đới, nhiệt độ trung bình của xã thấp hơn
So với vùng huyện Quỳnh Nhai từ 5 -7
o
c trong năm; Nhiệt độ năm 20,2
0
c, nhiệt
độ cao nhất từ 25 - 30
0
75 %
3
15 - 21
121,9
180
72 %
4
17 - 23
140
98,7
77 %
5
19 - 27
105,4
150
75 %
6
20 - 28
53
320,4
81,2 %
7
21 - 28
111
240,9
89 %
8
18- 30
107
340
2.1.4. Tình hình sử dụng đất đai:
Xã Chiềng Khay có tổng diện tích đất tự nhiên là: 13.384,1ha phù hợp
với nhiều loại cây trồng khác nhau, song phần lớn diện tích đất đang bị suy thoái
nhiều, do thảm thực vật tự nhiên bị tàn phá bởi những tập quán canh tác lạc hậu,
quảng canh bóc lột đất. Do vậy trong thời gian tới cần áp dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào canh tác sản xuất trên đất dốc để bảo vệ đất sử dụng có hiệu
quả lâu dài. Chi tiết hiện trạng thể hiện qua biểu 02 nhƣ sau:
7
Biểu 02: Diện tích đất và cơ cấu sử dụng đất của xã Chiềng Khay
Loại đất
Diện tích trong địa giới hành chính
Diện tích ( Ha )
Cơ cấu ( % )
Tổng diện tích
13.384,01
100 %
I. Đất nông nghiệp
1.534,67
100,00
1. Đất trồng cây hàng năm
1.469,56
95,76
1.1. Đất trồng lúa
384,20
26,14
- Đất chuyên trồng lúa nước
1,75
4,56
2. Đất giao thông
107,0
3. Thủy lợi và mặt nƣớc
52
36,58
4. Đất An ninh quốc phòng
30
5. Đất di tích lịch sử văn hóa 6. Đất nghĩa trang
33,5
18,08
IV. Đất ở ( nông thôn )
26,1
100,00
V. Đất chƣa sử dụng
9.111,9
1. Đất bằng chƣa sử dụng 2. Đất đồi núi chƣa sử dụng
9.111,9
3. Sông suối
cây công nghiệp ngắn ngày). Đậu xanh có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Á,
phân bổ chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, là cây trồng khá quen thuộc
ở Châu Á và rất phổ biến ở nƣớc ta.[5]
Cây đậu xanh có khả năng thích ứng rộng, chịu hạn khá và có thể thích
nghi với các vùng có điều kiện khắc nghiệt. Khu vực Đông và Nam Châu Á, cây
đậu xanh đƣợc trồng nhiều ở các quốc gia nhƣ: Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh,
Sri Lanka, Nepal Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Miến Điện, Inđônexia; hiện
nay đã đƣợc phát triển tại một số quốc gia ở vùng ôn đới, ở Châu Úc, lục địa
Châu Mỹ.
Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau quả Châu Á(AVRDC) đã có tập
đoàn giống đậu xanh lớn nhất thế giới với hơn 5000 mẫu giống, trong đó có
9
giống cho năng suất 18 - 25 tạ/ha và thâm canh có thể đạt gần 40 tạ/ha.
Mặt khác, giá trị sinh học của đậu xanh rất quan trọng, Bressani (1973) cho rằng
phân đạm mà cơ thể cây đậu xanh hấp thụ và giữ lại đƣợc là 40,66% nên có tác
dụng rất tốt trong cải tạo, bồi dƣỡng đất vì sau khi trồng đậu xanh đất đƣợc tơi
xốp và tăng đƣợc một lƣợng đạm khoảng 30 - 70 kg/ha).[6]
Tuy nhiên, năng suất của cây đậu xanh rất thấp, khoảng 6 - 8 tạ/ha vì
chƣa đƣợc đầu tƣ đúng mức nên gần đây nhiều nƣớc đã chọn đƣợc giống cho
năng suất bình quân 10 - 12 tạ/ha với các ƣu điểm là hạt to, màu đẹp, thời gian
sinh trƣởng ngắn, chín tập trung, chống chịu một số sâu bệnh hại chính.
Ngày nay, các nhà chọn giống đang nghiên cứu tạo ra giống đậu xanh có thể cải
thiện năng suất và tính kháng bệnh. Ấn Độ có 22 trung tâm khắp cả nƣớc nghiên
cứu về cây đậu xanh. Thái Lan cũng có nhiều trung tâm và các viện trƣờng tham
gia nghiên cứu về cây đậu xanh. [6]
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới trong
những năm gần đây (2007 – 2011)
Năm
Diện tích (ha)
10
Tình hình nghiên cứu đậu xanh ở Việt Nam
Đậu xanh (Vigna radiata L.) là cây trồng có vị trí quan trọng trong nền
nông, nghiệp của nhiều nƣớc, trong đó có Việt Nam. Đậu xanh không những là
nguồn thực phẩm giàu đạm, đáp ứng nhu cầu về dinh dƣỡng của con ngƣời, vật
nuôi mà còn có tác dụng cải tạo và bồi, dƣỡng đất do rễ cây đậu xanh có các nốt
sần chứa vi sinh vật cố định đạm sống cộng sinh, Các giống đậu xanh ở nƣớc ta
hiện rất phong phú và đa dạng, có nguồn gốc từ nhiều địa, phƣơng trong cả nƣớc
và nhập về từ các trung tâm đậu đỗ trên thế giới. Trên cơ sở nguồn gen đa, dạng
của cây đậu xanh ở nƣớc ta mà việc nghiên cứu chọn giống đậu xanh chủ yếu
dựa vào kết quả đánh giá năng suất và sản lƣợng trên đồng ruộng, đánh giá chất
lƣợng hạt trên phƣơng diện, hoá sinh, để tuyển chọn những giống đậu xanh thích
hợp theo mục đích mà ít đi sâu phân, tích tính đa dạng của loại cây trồng này.
Tính đa dạng của các giống đậu xanh không chỉ thể hiện, ở các tính trạng hình
thái, nông học và năng suất, mà còn thể hiện trong cấu trúc của các đại phân, tử
protein và ADN; Biểu hiện ở đặc tính sinh lý, hóa sinh và sự phản ứng của kiểu
gen trƣớc điều, kiện ngoại cảnh. Từ những biểu hiện đa dạng về kiểu gen và
kiểu hình có thể xác định đƣợc mối, quan hệ họ hàng trên cơ sở xác định hệ số
giống và khác nhau giữa các nguồn gen nghiên cứu. Chính vì vậy nghiên cứu sự
đa dạng sinh học của các giống đậu xanh sẽ góp phần tuyển chọn, giống đậu
xanh ƣu việt giới thiệu cho sản xuất hoặc làm nguyên liệu cho lai giống.[8]
Ở Việt Nam, đậu xanh đã đƣợc trồng lâu đời, khắp nơi trong cả nƣớc, nhƣng bị
xem là cây trồng phụ tận dụng đất đai. Đậu xanh là cây có nguồn gốc nhiệt đới.
Yêu cầu của cây đậu xanh đối với chế độ nhiệt tƣơng đối cao. Nhiệt độ thích
hợp ở tất cả các thời kỳ đậu xanh sinh trƣởng, phát triển và cho năng suất
khoảng 25
0
C đến 30
đông. [12]
Về anh sáng đậu xanh là cây ngắn ngày, tuy nhiên phản ứng của đậu xanh với
quang chu kỳ tƣơng đối yếu. Đậu xanh có thể ra hoa, kết quả trong điều kiện độ
dài ngày 12 – 13 giờ, thậm chí tới 14 giờ. [1]
Các thí nghiệm gieo trồng đậu xanh tiến hành ở Viện cây lƣơng thực và Cây
thực phẩm (Hải Hƣng) cho thấy đậu xanh có thể ra hoa, kết quả quanh năm. [1]
Đối với cƣờng độ ánh sáng, đậu xanh là cây ƣa sáng, số giờ có nắng phải
đạt 180 – 200 giờ/tháng. Trong thời kỳ ra hoa, kết quả, số giờ nắng phải đạt >
200 giờ/tháng. Số giờ nắng giảm dƣới 150 giờ/tháng làm cây bị vóng, yếu, tỷ lệ
rụng hoa tăng, sâu bệnh nhiều. [1]
Ở miền Bắc, vụ đậu xanh hè đƣợc thỏa mãn đầy đủ ánh sáng hơn các vụ
khác nên khả năng năng suất đậu xanh ở vụ hè có thể đạt cao. [1]
Về độ ẩm và mƣa: So với các cây họ đậu ngắn ngày khác, đậu xanh có
khả năng chịu hạn tƣơng đối khá. Tuy nhiên chế độ mƣa vẫn là yếu tố khí hậu
ảnh hƣởng lớn nhất đến năng suất đậu xanh. [1]
Độ ẩm thích hợp cho sựm sinh trƣởng của đậu xanh là 70 – 80%. Thời
điểm chế độ ẩm có ảnh hƣởng lớn nhất đến năng suất là thời kỳ mọc và thời kỳ
ra hoa – kết quả.
Hạt đậu xanh nhỏ, vì vậy hạt rất mẫn cảm với độ ẩm đất thời kỳ nảy mầm.
Độ ẩm thích hợp (70 – 80%) và độ đồng đều về độ ẩm đất quyết định thời gian,
tỷ lệ mọc mầm và độ đồng đều của ruộng đậu xanh trong thời kỳ mọc. [1]
12
Thời kỳ cây con, đậu xanh có khả năng chịu hạn tố hơn cả. Hạn tƣơng đối
ở thời kỳ này tạo điều kiện cho bộ rễ ăn sâu, tăng khả năng chịu hạn cho cây giai
đoạn sinh trƣởng sau. [1]
Thời kỳ sinh trƣởng sinh thực cây mẫn cảm với độ ẩm hơn cả. Thiếu ẩm
thời kỳ này có thể tăng tỷ lệ rụng hoa, rụng quả đậu xanh. Lƣợng mƣa cần thiết
cho vụ đậu xanh là 400 – 600 mm, tiêu thụ nƣớc trung bình của đậu xanh là 4 –
5mm/ ngày. [1]
- Giống sử dụng là các giống cũ của địa phƣơng không đƣợc chọn lọc.
- Đậu xanh thƣờng đƣợc trồng trên đất xấu không thể trồng cây lƣơng
thực vì thiếu nƣớc, đất tranh thủ, trồng xen, gối với các loại cây trồng khác nên
không có điều kiện thâm canh.
- Quan niệm là cây trồng phụ nên đƣợc mùa là tốt nếu không cũng ít
quan tâm bằng cây trồng chính vì thế tất cả các khâu chọn giống, chăm sóc xới
xáo, tƣới nƣớc, bảo vệ thực vật không đúng phƣơng pháp khoa học.
- Nông dân nghèo vùng sâu vùng xa còn thiếu thông tin, chƣa có điều kiện
tiếp cận những thành tựu về cây đậu xanh.
Tuy có những thành tựu lớn về giống, về giá trị kinh tế. Nhƣng diện tích
trồng đậu xanh vẫn còn hạn chế so với các cây họ đậu khác (đậu nành, đậu
phộng). Hầu hết diện tích trồng đậu xanh trong nƣớc đều nhỏ lẽ, manh mún,
thƣờng đƣợc trồng xen, gối vụ với các cây trồng khác. Một số nguyên nhân ảnh
hƣởng đến sự phát triển diện tích canh tác đậu xanh:
Năng suất đậu xanh còn hạn chế so với năng suất các cây trồng khác (điển
hình là đậu nành) trên cùng 1 diện tích.
Đậu xanh khá mẫn cảm với một số loại sâu bệnh nên chi phí cho thuốc
bảo vệ thực vật còn cao.
Công đoạn thu hoạch còn gặp nhiều khó khăn, thƣờng thì thu hoạch từ 2 -
4 lần, nên gặp khó khăn về công lao động (lao động nông thôn hiện nay rất khan
hiếm)
Chƣa có cơ giới hoá trong công đoạn thu hoạch đậu xanh, hiện nay công
đoạn thu hoạch và tách hạt thƣờng chỉ thực hiện thủ công, rất khó khăn cho việc
trồng với diện tích lớn.
14
Đậu xanh (Vigna radiata) là cây họ đậu ngắn ngày có giá trị kinh tế và
dinh dƣỡng cao. Trong hệ thống sản xuất cây lƣơng thực và cây thực phẩm của
nƣớc ta hiện nay, cây đậu xanh có vị trí quan trọng trong cơ cấu luân canh, xen
canh và gối vụ. Đặc biệt ở các tỉnh Bắc Trung bộ, Đông Nam bộ và Tây
trình nảy mầm của hạt. Protein đậu xanh có chứa đầy đủ các tính chất chung
nhất của protein. Ngoài ra, protein đậu xanh còn có một số tính chất riêng biệt
nhƣ khả năng hút nƣớc và dầu tạo nhũ tƣơng, khả năng hoà tan trong nƣớc.
Đó là một trong những yếu tố quan trọng trong nghiên cứu và công nghệ sản
xuất các sản phẩm từ đậu xanh.
Protein đậu xanh đƣợc đánh giá là có chất lƣợng tốt do có chứa đầy đủ
các amino acid không thay thế và hàm lƣợng của chúng tƣơng đối trùng với
tiêu chuẩn dinh dƣỡng dành cho trẻ em do tổ chức nông lƣơng thế giới (FAO)
và tổ chức y tế thế giới (WHO) đƣa ra.[10]
Lipid là những hợp chất hữu cơ có trong tế bào sống, không hoà tan trong
nƣớc nhƣng tan trong các dung môi hữu cơ không phân cực nhƣ ether,
petroleum ether, benzen Lipid cũng là thành phần cấu tạo quan trọng của
màng sinh học, là nguồn dự trữ nhiên liệu cung cấp năng lƣợng cho cơ thể.
Lipid cùng với protein và polysaccarid cung cấp năng lƣợng cho sự nẩy mầm
của hạt. Tuy hàm lƣợng lipid trong hạt đậu xanh chiếm tỷ lệ thấp (trung bình
khoảng 1,3%), nhƣng đó lại là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá phẩm chất
và khả năng bảo quản hạt (Trần Đình Long, 1998) [11].
Tóm lại, việc nghiên cứu và xác định hàm lƣợng protein và lipid có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá chất lƣợng hạt đậu xanh.Ngoài ra lá non
và ngọn của cây đậu xanh có thể đƣợc dùng để làm rau, muối dƣa. Thân lá
xanh của cây đậu xanh dùng làm thức ăn cho chăn nuôi, còn thân lá già đem
phơi khô, nghiền nhỏ làm bột dự trữ cho gia súc.
Ngoài ra, đậu xanh còn có giá trị trong y học. Hạt đậu xanh có vị ngọt,
tính mát, không độc nên có tác dụng giải nhiệt, giải bách độc.
2.2.3. Tình hình sản xuất đậu xanh ở Sơn La
Sơn La là một tỉnh nằm ở khu vực Tây Bắc Việt Nam, phía Bắc giáp ba
tỉnh Yên Bái, Lào Cai và Lai Châu. Phía đông giáp với hai tỉnh Phú Thọ, Hoà
Bình. Phía Tây giáp tỉnh Điện Biên. Phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá và nƣớc
16
( Nguồn: cục thống kê Sơn La)[11]
Theo bảng cho thấy năng suất đậu xanh của tỉnh Sơn La những năm
qua biến động không đều.
Năm 2007 đạt 1428 tấn và đạt cao nhất vào năm 2011 (2121 tấn) tuy có
tăng lên nhƣng không đáng kể. Diện tích trồng đậu xanh của toàn tỉnh trong
những năm qua có xu hƣớng tăng lên, năm 2007 là 1386 ha và đạt cao nhất vào
năm 2011 là 1988 ha. Cùng với sự tăng lên về diện tích thì sản lƣợng cũng tăng
lên.
Tuy nhiên thực tế sản xuất trong tỉnh cho thấy tình hình phát triển cây
đậu xanh còn nhiều hạn chế, chƣa tƣơng xứng với tiềm năng đất đai, điều kiện
sinh thái và mức độ quan tâm của các cấp lãnh đạo trong tỉnh, việc mở rộng diện
17
tích còn nhiều hạn chế, mức đầu tƣ thấp chính vì vậy năng suất đậu tƣơng còn
thấp và không ổn định so với các tỉnh khác trong cả nƣớc: Năng suất đậu xanh
năm 2007 là 12,8 tạ/ha, năm 2008 là 13,4 tạ/ha, năm 2009 là 13,2 tạ/ha, năm
2010 là 12,8 tạ/ha và năm 2011 la 14 tạ/ha. [11]
18
PHẦN III. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1.Vật liệu nghiên cứu
*Giống đậu xanh ĐX11: Do trung tâm đậu, viện cây lƣơng thực chọn tạo
*Phân bón :
- Phân đạm urê (46%N)
- Phân lân lâm thao (Super lân 16% P
2
O
2
O
5
+ 40kg K
2
O/ha
+ PB 3: (Nền: 30 N + 90 P
2
O
5
+ 60 K2O)kg/ha
+ PB4: Nền: 40kg N + 120kg P
2
O
5
+ 80kg K
2
O/ha
- Diện tích thi nghiệm
+ Diện tích mỗi ô là 2 x 5m²
Dải bảo vệ
Dải bảo vệ
PB1
PB2
PB3
PB4
PB4
PB3
PB2
PB1
- Năng suất cá thể (g/cây): Khối lƣợng hạt trung bình của 10 cây mẫu
năng suất cá thể = khối lƣợng hạt 10 cây/10
- Năng xuất lý thuyết (tạ/ha) = Năng suất cá thể x mật độ x 10.000m²
- Năng suất thực thu (tạ/ha) = (Năng suất ô thí nghiệm /4m²) x 20m².
- Mức độ gây hại:đƣợc dánh giá theo 10TCN 468 - 2005
- Mức độ nhiễm bệnh: đƣợc dánh giá theo 10TCN 468 - 2005
+ Bệnh gỉ sắt: Đánh giá theo cấp độ bệnh từ 0 - 5
Cấp 0: Là không bị bệnh
Cấp 1: 1 - 5% diện tích lá bị bệnh
Cấp 2: 6 - 10% diện tích lá bị bệnh
Cấp 3: 11 - 25% diện tích lá bị bệnh
Cấp 4: 26 - 50% diện tích lá bị bệnh
Cấp 5: > 50% diện tích lá bị bệnh
+ Bệnh lở cổ rễ (%): Đƣợc tính bằng số cây bị bệnh/ số cây điều tra (điều
tra toàn bộ số cây/ô).
+ Bệnh đốm nâu, đốm đen: Điều tra 10 cây/ô theo 5 điểm chéo góc vào
thời điểm trƣớc thu hoạch:
Rất nhẹ - cấp 1 < 1% diện tích lá bị hại
Nhẹ - cấp 3 1 - 5% diện tích lá bị hại
Trung bình - cấp 5 > 5 - 25% diện tích lá bị hại
Nặng - cấp 7 > 25% - 50% diện tích lá bi hại
21
Rất nặng - cấp 9 >50% diện tích lá bị hại
3.5. PHƢƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU:
Số liệu đƣợc xử lý trên excel.
22
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mọc mầm là quá trình biến đổi sinh hóa trong hạt và là quá trình trao đổi
năng lƣợng giữa hạt với bên ngoài hút ẩm để hạt chƣơng lên và nẩy mầm
Hạt đậu xanh sẽ nẩy mầm khỏe, đồng đều nếu bảo đảm đƣợc 2 yếu tố
nhiệt và ẩm. Nhiệt độ thích hợp là từ 30 - 32◦C, độ ẩm khoảng 75%.
Khi đậu mọc, 2 lá mầm tách ra và đôi lá thật đầu tiên xuất hiện, đó là 2 lá
đơn, mọc đối. Tiếp sau đó mới xuất hiện các lá kép. Lá kép mọc cách, lá thƣờng
to bản và cả 2 mặt lá đều có lông tơ
Qua bảng 4.1 trên: Ta tháy liều lƣợng phân bón không ảnh hƣởng
đến thời gian và tỉ lệ mọc mầm của đậu xanh giữa các công thức và tỉ lệ
mọc mầm trung bình của giống là 95,7% trong đó lệ mọc mầm tốt nhất là
theo công thức 3 là 98% và đƣợc biểu diến nhƣ biểu đồ sau.
23
Biểu đồ 4.1. Biểu đồ thể hiện thời gian và tỉ lệ mọc mầm của giống đậu
xanh ĐX11 4.2. Ảnh hƣởng của liều lƣợng phân bón đến thời gian sinh trƣởng của
giống đậu xanh ĐX11 (đơn vị: ngày)
Mỗi cá thể thực vật từ khi sinh ra, trải qua quá trình sinh trƣởng và phát
triển và kết thúc bằng chết tự nhiên. Ở thực vật có hoa, quá trìn sinh trƣởng và
TGST
của
giống
CT1
57
17
17
79
80
CT2
56
16
17
75
CT3
55
14
15
73
CT4
57
16
16
78
Đậu xanh ĐX11 là loại cây thực phẩm có thời gian sinh trƣởng ngắn(63 -
80ngày), dễ trồng, có thể trồng đậu xanh luân canh trên đất lúa. Trồng đậu xanh
còn giúp bồ dƣỡng và cải tạo đất tốt nhờ xác bã, thân, lá để lại cho đất (tƣơng
đƣơng 8 - 16 tân/ha phân xanh) và các nốt sần ở rễ cung cấp đạm cho cây(tƣơng
ngày theo công thức 3 có liều lƣợng phân bón (Nền: 30N + 90 P
2
O
5
+ 60
K
2
O)kg/ha. Đƣợc biểu diến qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 4.2. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến
các giai đoạn sinh trưởng của đậu xanh ĐX11 4.3. Ảnh hƣởng của liều lƣơng phân bón đến đặc điểm hình thái của giống
đậu xanh ĐX11
Đặc điểm hình thái là là hình ảnh của động vật, thực vật thây đổi qua từng
giai đoạn phát triển và có những đặc điểm hình thái khác nhau qua từng giai
đoạn phát triển đó,trng đó có ở đậu xanh ĐX11 qua thự tiến em thấy liều lƣợng
phân bón có ảnh hƣởng lớn tới các đặc điểm hình thái quả nó