MON CHINH SACH CONG 9 9 2012 GIẢI PHÁP THỰC HIỆN tốt CHÍNH SÁCH GIÁO dục và đào tạo ở nước TA TRONG điều KIỆN HIỆN NAY - Pdf 39

TIỂU LUẬN
MÔN: CHÍNH SÁCH CÔNG
Tên đề tài:
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TỐT CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

1


MỞ ĐẦU
Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước,
xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Đảng ta đã khẳng định:
"Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công
nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư
cho phát triển".
Những năm qua, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta phát triển
cả về quy mô, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, góp phần đáp ứng nhu
cầu nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hệ
thống trường học, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường ở các cấp học
đều tăng. Cơ sở vật chất trường, lớp, trang thiết bị dạy học được tăng
cường. Chất lượng giáo dục có chuyển biến tích cực, tỷ lệ học sinh khá,
giỏi, học sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng ngày càng cao. Cơ bản hoàn
thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở;
thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi. Công tác xã hội
hoá giáo dục được quan tâm chỉ đạo thực hiện....
Tuy nhiên, giáo dục và đào tạo vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém. Giáo
dục toàn diện đạt kết quả chưa cao; giáo dục ở miền núi còn nhiều bất
cập; tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan chậm được khắc phục.
Chương trình đào tạo vẫn nặng lý thuyết, ít có sáng tạo các môn học
mới. Có một bộ phận học sinh, sinh viên lười học, suy thoái về đạo đức,

sách. Cụm từ chính sách được đề cập nhiều lần trong Hiến pháp 46, 59, 80
và 92. Chẳng hạn Hiến pháp 1980 ghi "Mục đích chính sách kinh tế của
Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thỏa mãn ngày càng tốt
hơn nhu cầu vật chất và văn hóa của toàn thể nhân dân (Điều 15).
Chính sách được hiến định tại Điều 26 Hiến pháp 1992, sửa đổi năm
2001: "Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật,
kế hoạch, chính sách...". "Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là
làm cho dân giàu nước mạnh" (Điều 16). Hoặc "Nhà nước thực hiện
chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc" (Điều 5 Hiến
pháp 1992). "Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng
bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu


số". "Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và
người tiêu dùng" (Điều 28). Hoặc "Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình hữu nghị mở rộng hợp tác
quốc tế.
Như vậy, chính sách công là một trong những công cụ cơ bản được
Nhà nước sử dụng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Song hiện nay đang tồn tại cụm từ "chính sách của Đảng và Nhà nước".
Thực tế, ở nước ta, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội thông qua việc vạch
ra các cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách - đó chính là
những căn cứ chỉ đạo để nhà nước ban hành các chính sách công. Các chính
sách công là do Nhà nước ban hành. Các chính sách này là sự cụ thể hóa
đường lối, chiến lược và các định hướng chính sách của Đảng (do vậy, việc
đề cập tới chính sách công ở đây được hiểu là các chính sách công do Nhà
nước ban hành). Chính sách công ở Việt Nam thường được thể chế hóa
thành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo căn cứ pháp lý cho việc thi
hành, song nó bao gồm những phương án hành động không mang tính bắt
buộc, mà có tính định hướng, kích thích phát triển.

nước, là công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý kinh tế, quản lý xã hội
nhằm thực hiện mục tiêu mà Nhà nước đã định ra. Các văn bản nói trên
được gọi là chính sách công.
Từ sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm chính sách công như
sau: Chính sách công là định hướng hành động được nhà nước lựa
chọn phù hợp với đường lối chính trị để giải quyết một (hoặc một số)
vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội trong một thời kỳ nhất định.
Vì thế, chính sách công có các đặc điểm:
- Chính sách phải thể hiện bằng các văn bản. Các văn bản do các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành (đại diện cho Nhà nước).
Trong các văn bản có những quy định mang tính định hướng cho hoạt
động của các cơ quan nhà nước và các đối tượng tác động.
- Chính sách công thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, ý chí của
Nhà nước.


- Chính sách công chủ yếu mang lại lợi ích về vật chất, về tinh
thần cho đối tượng thụ hưởng.
- Chính sách công có mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,
y tế giáo dục và giữ vững ổn định xã hội.
- Chính sách công có thể có tính vĩ mô, có thể có tính vi mô.
- Chính sách công được bảo đảm thực hiện bằng giáo dục thuyết
phục, động viên khuyến khích.
Từ sự phân tích khái niệm và đặc điểm chính sách công trên có thể
rút ra khái niệm chính sách giáo dục và đào tạo như sau: Chính sách
giáo dục và đào tạo là những văn bản do Nhà nước ban hành trong
đó quy định các nhiệm vụ, quyền hạn, cách ứng xử của Nhà nước đối
với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đồng thời quy định các quyền, nghĩa
vụ cũng như cách ứng xử của các đối tượng tác động, các lợi ích mà
họ được thụ hưởng và được bảo đảm thực hiện bằng biện pháp giáo

đến 02 năm; trung học nghề 03 đến 04 năm hoặc trung học chuyên
nghiệp 2,5 đến 04 năm.


- Giáo dục bậc ba hoặc đại học: Cao đẳng 03 năm; đại học 04 đến
06 năm, tiếp theo là sau đại học.
Hệ thống giáo dục và đào tạo này về cơ bản có thể đáp ứng được
nhu cầu học tập của nhân dân trong cả nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu
của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hệ thống đó cần tiếp tục tự
hoàn thiện hơn. Có nhiều vấn đề đang đặt ra cho hệ thống giáo dục và
đào tạo Việt Nam trong thời gian đến như:
- Chất lượng giáo dục đào tạo.
- Giáo dục đào tạo gắn bó với nhu cầu về nguồn nhân lực của thị
trường lao động.
- Cải cách giáo dục ở bậc tiểu học.
- Phân luồng học sinh sang đào tạo nghề, đối với phổ thông cơ sở
và trung học phổ thông (sau khi học xong năm cuối ở mỗi cấp học).
- Mạng lưới các trường cao đẳng, đại học.
- Đầu tư vào giáo dục và đào tạo.
- Tài chính, chi tiêu của giáo dục và đào tạo.
- Hiệu quả của giáo dục và đào tạo.
- Đội ngũ giáo viên của hệ thống giáo dục và đào tạo.
- Cơ sở vật chất của giáo dục và đào tạo.
- Giáo dục và đào tạo ở miền núi....
2.2. Một số thành tựu về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam
Luật Giáo dục được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ tư từ ngày
25/10 đến ngày 02/12/1998 thông qua, Chủ tịch nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký lệnh công bố ngày 11/12/1998 là bộ



hội cho con em các gia đình ở khắp các miền được đến trường (đặc biệt
là ở cấp tiểu học) và do đó tạo ra sự công bằng được hưởng thụ, được
tiếp cận với giáo dục.
Có sự thống nhất trong cả nước về chương trình và nội dung giảng
dạy, về sách giáo khoa, về thế giới của từng cấp học. Đặc biệt là việc
dùng tiếng Việt và chữ quốc ngữ trong giảng dạy, học tập, kể cả viết
luận án thạc sĩ và tiến sĩ khoa học.
Các hình thức tổ chức trong giáo dục và đào tạo cũng ngày càng đa
dạng và mở rộng hơn (trường công lập, trường bán công, trường tư thục,
trường dân lập).
Các hình thức giáo dục và đào tạo cũng như vậy, gồm có nhiều
loại: chính quy, tại chức, giáo dục thường xuyên, giáo dục từ xa với sự
hợp tác đắc lực của các phương tiện truyền thông: phát thanh và vô
tuyến truyền hình; các lớp học buổi tối theo yêu cầu của người học
(ngoại ngữ, tin học, kế toán, quản trị doanh nghiệp...).
Có một đội ngũ đông đảo giáo viên, giảng viên, giáo sư và
cán bộ quản lý ở các cấp học rất tận tuỵ, hy sinh vì tương lai của
thế hệ trẻ. Họ đã khắc phục khó khăn, chịu đựng một cuộc sống
còn thiếu thốn, do đó, họ đã là động lực chủ yếu cho sự phát triển
của giáo dục đào tạo. Nhà nước và nhân dân luôn luôn đánh giá cao
sự đóng góp của họ. Sự tăng tưởng của kinh tế và những tiến bộ xã
hội mà Việt Nam đạt được trong hơn 25 năm đổi mới có phần đóng
góp to lớn của những cán bộ quản lý, nhà khoa hoch, nhà giáo, viên
chức... hoạt động trong ngành giáo dục đào tạo.
3. Một số hạn chế và thách thức trong thời kỳ mới đối với giáo
dục và đào tạo


Đứng trước nhu cầu của thời kỳ mới về nguồn nhân lực có chất
lượng cao, giáo dục và đào tạo đang phải vượt qua những thách thức,

gia đua xe máy trái phép, cá biệt có học sinh, sinh viên phạm vào tội
hình sự...).
Chưa thực hiện được thật tốt công bằng xã hội trong giáo dục và
đào tạo (giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn, miền núi và
thành phố).
Đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng (khoảng 10.000 người năm
học 2011 - 2012), đồng thời còn yếu về chất lượng (còn một số chưa đạt
chuẩn quốc gia). Mặt khác, nghề dạy học chưa phải là nghề có sức hấp
dẫn, xét theo mức thu nhập trong xã hội.
Cơ sở vật chất - kỹ thuật của giáo dục và đào tạo bị xuống cấp và
thiếu thốn nghiêm trọng. Còn nhiều trường làm bằng tranh, tre, nứa lá;
nhiều phòng học còn phải dùng học 02 ca, thậm chí 03 ca; đồ dùng dạy
học thiếu, phòng thí nghiệm, thư viện, xưởng trường, trang thiết bị, tư
liệu thiếu và lạc hậu....
Giáo dục và đào tạo của Việt Nam một mặt cần phải vượt qua
những bất cập ở trên, đồng thời nếu muốn không rơi vào tụt hậu so với
các nước trong khu vực, cần phải nghiên cứu chọn lọc, nắm bắt đầy đủ
thành tựu của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ mới để đào tạo các
thế hệ thanh, thiếu niên của mình.
Như vậy, rõ ràng Việt Nam đã gặt hái được những thành quả tốt
đẹp trong giáo dục và đào tạo nhưng bước vào những thập niên đầu của
thế kỷ XXI, nền giáo dục và đào tạo của Việt Nam còn phải vượt qua
nhiều thách thức mới, rất quan trọng.


Chương 3
Một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện có
hiệu quả chính sách giáo dục và đào tạo trong điều kiện hiện nay
3.1. Một số nhiệm vụ chủ yếu
3.1.1. Chăm lo cho giáo dục đào tạo là chăm lo cho con người và

thế, giáo dục đào tạo có ý nghĩa rất quan trọng đối với đào tạo và phát
triển con người.
3.1.2. Nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo cần phải giữ
vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa, có nghĩa là:
- Phát huy ảnh hưởng tích cực của một nền giáo dục và đào tạo tiến
bộ, công bằng cho mọi người trong xã hội.
- Hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế kinh tế thị trường
tác động vào giáo dục đào tạo.
- Chống lại khuynh hướng “thương mại hoá” giáo dục đào tạo, làm
ảnh hưởng tới chức năng xã hội, chức năng giáo dục nhân cách, đạo đức
con người.
Trên thực tế còn có nhiều vấn đề cần giải quyết. Ví dụ: gần đây có
nơi đã bị ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế kinh tế thị trường, coi giáo dục
đào tạo cũng có thể áp dụng cơ chế “bán mua” thuần tuý tiền bạc giống
như hàng hoá ngoài thị trường, làm cho dư luận xã hội băn khoăn lo lắng.
3.1.3. Xác định giáo dục và đào tạo thuộc về quốc sách hàng đầu
của Nhà nước
Đó là nguồn lực chủ yếu để tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội.
Thiếu nguồn nhân lực do giáo dục đào tạo cung cấp thì không có quốc
gia nào có thể tiến triển được.


Tuy Việt Nam còn là một nước nghèo nhưng vẫn coi đầu tư cho
giáo dục là đầu tư cho phát triển.
Nhà nước cố gắng thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với
giáo dục đào tạo, làm giảm nhẹ những khó khăn và tạo thiêm điều kiện
cho giáo dục đào tạo.
Nhà nước quan tâm đến những giải pháp mạnh để phát triển giáo
dục đào tạo.
3.1.4. Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà

cần giúp đỡ bằng các biện pháp khác nhau để người nghèo tiếp cận được
với giáo dục đào tạo. Đồng thời vẫn bảo đảm cho những người học giỏi
phát triển tài năng.
- Hiện nay, trên thực tế người nghèo, người ở miền núi, ở nông
thôn xa đang có nhiều khó khăn hơn về kinh tế so với người giàu; cự ly
để tiếp cận với các cơ sở giáo dục đào tạo lại xa... nên việc thực hiện
công bằng xã hội trong giáo dục đào tạo còn là vấn đề phải tiếp tục phấn
đấu. Hơn nữa, giữa công bằng xã hội trong giáo dục đào tạo với hiệu quả
không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau. Tập trung đầu tư cho hiệu quả
giáo dục đào tạo đạt được mức cao, nhiều khi đòi hỏi chú trọng đến học
sinh, sinh viên học giỏi, có triển vọng trở thành nhân tài của đất nước có
khi lại mâu thuẫn với đầu tư để phát triển giáo dục, đào tạo rộng khắp,
đồng đều cho mọi vùng, mọi đối tượng có điều kiện được học tập. Mâu
thuẫn này đòi hỏi phải tìm được cách giải quyết thích hợp.
3.1.7. Giữ vững vai trò nòng cốt của các trường công lập song
song với đa dạng hoá các loại hình giáo dục và đào tạo
Để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng, nếu chỉ riêng các
trường công lập thôi thì không đủ mà cần mở rộng các loại hình trường
khác. Tuy nhiên, các trường công lập đã được xây dựng từ lâu, có đội
ngũ giáo viên, có cơ sở vật chất để bảo đảm chất lượng, hoàn toàn có thể


giữ vai trò nòng cốt. Hiện nay, bên cạnh các trường công lập đã có các
loại trường tư thục, bán công, dân lập. Ở đó các loại chương trình, nội
dung giảng dạy, sách giáo khoa... đều theo quy định thống nhất của Nhà
nước. Bên cạnh đó, còn cần mở rộng một cách vững chắc các loại hình
đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa.
3.2. Giải pháp cơ bản nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách
giáo dục và đào tạo trong điều kiện hiện nay
3.2.1. Tập trung thực hiện giáo dục toàn diện (đức, trí, thể, mỹ) ở

tộc ít người. Nhà nước chủ trương xây dựng trường nội trú cho các
huyện vùng cao, trợ cấp cho học sinh miền núi sách giáo khoa và đồ
dùng học tập.
3.2.2. Xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện tốt chiến lược
phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 và những năm tiếp theo
Nội dung chiến lược phát triển giáo dục đào tạo cần tập trung vào
những vấn đề trọng tâm:
- Hiện trạng giáo dục đào tạo nước ta.
- Bối cảnh phát triển giáo dục đào tạo trong tầm nhìn đến năm
2020 và những năm tiếp theo.
- Mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo đến năm 2020.
- Các giải pháp chiến lược.
- Các chương trình hành động.
Chiến lược giáo dục đào tạo phải được coi là một bộ phận hữu
cơ của chiến lược phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội nói chung của
đất nước.
3.2.3. Hoạch định và tổ chức thực hiện tốt các chương trình, kế
hoạch, dự án phát triển giáo dục và đào tạo
Để thực hiện có hiệu quả các phương hướng, chủ trương lớn của
Nhà nước, cần phải có các chương trình, kế hoạch thực hiện cụ thể, quan
tâm đến: Chương trình cải cách giáo dục; Chương trình xoá nạn mù chữ;
Chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở; Chương trình giáo dục
miền núi; Kế hoạch sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học....


Triển khai thực hiện tốt các dự án phát triển giáo dục đào tạo. Các
dự án phát triển giáo dục đào tạo đòi hỏi phải dự báo tình hình phát triển
của dân số và số người đến tuổi đi học ở từng cấp học, từng thời kỳ đối
với từng địa phương. Dự báo xu hướng phát triển về kinh tế trong thời
kỳ tới. Dự báo nhu cầu về nhân lực cho phát triển kinh tế (số lượng, cơ

và bồi dưỡng thường xuyên giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đào
tạo. Muốn làm được việc này đòi hỏi phải xây dựng, nâng cao chất
lượng các trường cao đẳng, đại học sư phạm.
3.2.5. Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước; thực hiện tốt
công tác kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước đối với giáo dục và đào tạo
Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo,
bao gồm từ Bộ Giáo dục và Đào tạo đến các cơ quan quản lý giáo dục
đào tạo ở địa phương (thành phố, tỉnh, huyện). Đồng thời, tiến hành
phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương. Đổi mới cơ chế quản
lý nhằm hoàn thiện hơn nữa, sao cho quản lý nhà nước đối với giáo dục
đào tạo ngày càng đạt chất lượng và hiệu quả hơn.
Thực hiện tốt công tác: Thanh tra giáo dục; kiểm tra, kiểm soát
việc thực hiện kỷ cương, luật pháp trong giáo dục đào tạo; ngăn ngừa
các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật về giáo dục đào tạo đồng thời
bảo vệ lợi ích của người đi học và của cơ sở giáo dục đào tạo.
2.2.6. Đổi mới kinh tế - xã hội, tạo môi trường thuận lợi để thực
hiện đổi mới giáo dục và đào tạo
Nguyên nhân sâu xa nhất hạn chế chất lượng giáo dục và đoà tạo
của nước ta là nền kinh tế và thị trường lao động chưa tạo được sức hấp
dẫn và áp lực buộc giáo dục phải thay đổi. Một nền kinh tế dựa trên lắp
ráp, gia công, khai khoáng, nông nghiệp cổ truyền cùng dịch vụ nhà
hàng, khách sạn, mua bán đất đai thì chưa cần thiết các cử nhân và kỹ sư
xuất sắc. Bên cạnh đó, nền kinh tế, nhất là khu vực kinh tế nhà nước,
chưa vận hành theo đúng quy luật kinh tế thị trường, từ đó đẻ ra một thị
trường lao động không công bằng và một nền giáo dục ứng thí, đi học
chỉ cốt lấy bằng nhằm đáp ứng “tiêu chuẩn cán bộ'', chứ không cần thực
học. Cho nên, muốn cải thiện chất lượng giáo dục thì Nhà nước phải có
chính sách đẩy mạnh cải cách kinh tế và đổi mới chính sách tuyển dụng,
sử dụng cán bộ; đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, xây dựng
nếp sống văn hoá lành mạnh, nhân ái, tạo môi trường xã hội tích cực để

vai cùng các cường quốc năm châu'' như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói
trong bức thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt
Nam mới./.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
4. Luật Giáo dục được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ tư từ ngày
25/10 đến ngày 02/12/1998 thông qua, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đã ký lệnh công bố ngày 11/12/1998.
5. Học viện Hành chính Quốc gia: Quản lý Nhà nước đối với
ngành, lĩnh vực. Nxb Giáo dục, 2005.
6. Học viện Hành chính: Giáo trình hoạch định và phân tích chính
sách công. Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2008.
7. Đavít Âuxbót và Tét gheblơ: Đổi mới hoạt động của chính phủ,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
8. TS. Thang Văn Phúc, TS. Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Thu
Huyền: Hệ thống công vụ và xu thế cải cách của một số nước trên thế
giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
9. TS. Trương Thị Hồng Hà (GVC. Học viện Chính trị - Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh): Giáo án Chính sách công, Hà Nội, 2012.
10. Nguồn từ các Website có liên quan:
- Đảng Cộng sản Việt Nam: />- Tạp chí Cộng sản: />- Giáo dục Việt Nam: />


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status