BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
---------------------------
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
KHẢ NĂNG THANH KHOẢN TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số ngành: 60340301
TP. HỒ CHÍ MINH, tháng 01 năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
---------------------------
NGUYỄN THỊ THANH BÌNH
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
KHẢ NĂNG THANH KHOẢN TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số ngành: 60340301
TS. Phan Thị Hằng Nga
Phản biện 1
3
TS. Nguyễn Thị Mỹ Linh
Phản biện 2
4
PGS.TS. Lê Quốc Hội
Ủy viên
5
TS. Nguyễn Quyết Thắng
Ủy viên, Thư ký
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được
sửa chữa (nếu có).
Chủ tịch Hội đồng đánh giá LV
TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHỆ TP. HCM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
hàng thương mại.
2)
Đo lường tác động của các nhân tố đến khả năng thanh khoản.
3)
Đề xuất một số giải pháp nhằm quản lý khả năng thanh khoản cho hoạt
động ngân hàng.
III- Ngày giao nhiệm vụ: 20/08/2015
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 15/01/2015
V- Cán bộ hướng dẫn: TS. Hà Văn Dũng
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
(Họ tên và chữ ký)
TS. Hà Văn Dũng
KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký)
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn “ Phân tích các nhân tố tác động đến rủi ro
thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam” là bài nghiên cứu của riêng
tôi.
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi xin
TÓM TẮT
Một ngân hàng được coi là hoạt động hiệu quả khi đạt được cả hai mục tiêu
là tối đa hóa lợi nhuận và kiểm soát giảm thiểu rủi ro, trong đó rủi ro thanh khoản
được đánh giá là rủi ro nguy hiểm. Ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt khi luôn
có được nguồn vốn khả dụng với chi phí hợp lý. Điều này đồng nghĩa với việc nếu
ngân hàng không đáp ứng đủ yêu cầu về vốn khả dụng thì sẽ gây thua lỗ và nguy
hiểm hơn là mất khả năng thanh toán, dẫn đến sự đổ vỡ của toàn hệ thống. Vì vậy
việc các ngân hàng thương mại quan tâm đến công tác quản trị thanh khoản không
chỉ vì sự an toàn của ngân hàng mình mà còn vì sự an toàn chung cho cả hệ thống
tài chính.
Mặt khác, môi trường kinh tế ở Việt Nam chưa ổn định, làm cho hoạt động
kinh doanh trở nên phức tạp, khó khăn, áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng lớn
hơn, và mức độ rủi ro cũng sẽ tăng lên. Do đó, để tồn tại và phát triển thì công tác
rủi ro nói chung và quản trị rủi ro thanh khoản nói riêng là rất cần thiết đối với các
ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Với thực trạng trên, đề tài sẽ nghiên cứu phân tích các yếu tố tác động đến
rủi ro thanh khoản nhằm tìm ra các giải pháp quản trị rủi ro cho các ngân hàng
thương mại.
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định lượng. Bên cạnh đó sử
dụng phương pháp hồi quy với dữ liệu bảng để tìm hiểu các yếu tố nội tại ngân
hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến rủi ro thanh khoản. Các biến này sau
khi thu thập sẽ được đưa vào mô hình và dùng phần mềm STATA để xử lý và phân
tích hồi quy dữ liệu. Dữ liệu sử dụng cho đề tài này là dữ liệu bảng được thu thập
trong giai đoạn từ năm 2011-2014 của 34 ngân hàng thương mại Việt Nam.
Nghiên cứu đã thực hiện thống kê mô tả và phân tích hồi quy để làm rõ vấn
đề nghiên cứu. Trong phân tích hồi quy, đề tài đã sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu
bảng bằng phần mềm STATA. Bằng việc sử dụng mô hình FGLS (mô hình hồi quy
quy bình phương tối thiểu tổng quát hiệu quả), nghiên cứu đã tìm thấy tất cả các
biến số đều có tác động âm và có ý nghĩa trong mô hình hồi quy. Các biến dự phòng
rủi ro tín dụng, dư nợ cho vay trên tổng tài sản, chi phí hoạt động trên tổng thu
variables were incorporated into the model, processed and analyzed data regression
by using STATA software.
This study was conducted through descriptive statistics and regression
analysis to clarify the research problem. In the regression analysis, the research has
applied the STATA software for the spreadsheet data. By using the FGLS model
(Feasible generalized least squares model), the studied had found that all the
variables have negative impact and significance in the regression model. Variables
like the credit loss provision, loan outstanding balance on total assets, operating
expense to total income and inflation have positive correlate; on the other hand,
variables like scale of the bank, equity to total assets, contribution margin, and
economic growth have negative correlate on liquidity risk.
From the analysis, the study also provides a number of recommendations in
the activities of the banks related to liquidity risk in order to help administrators in
managing liquidity risk that results in ensure medium safe and efficient operation.
vi
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CÁM ƠN .............................................................................................................ii
TÓM TẮT ................................................................................................................. iii
ABSTRACT ................................................................................................................ v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮC ........................................................................ viii
DANH MỤC CÁC BẢNG......................................................................................... ix
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ..................................................................... x
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ....................................................................................... 1
1.1 LÝ DO NGHIÊN CỨU ......................................................................................... 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .................................................................................. 1
1.2.1 Mục tiêu chung ................................................................................................... 1
3.3.1 Trình bày và thống kê mô tả dữ liệu ................................................................ 32
3.3.2 Khảo sát các cặp tương quan giữa các biến độc lập......................................... 32
3.3.3 Phân tích mô hình hồi quy dữ liệu bảng .......................................................... 32
3.3.4 Kiểm định Hausman ......................................................................................... 32
3.3.5 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến ............................................................... 33
3.4 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT ............................................................... 33
3.5 MÔ TẢ CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH ........................................................... 34
3.5.1 Biến phụ thuộc LIQ .......................................................................................... 34
3.5.2 Biến độc lập: .................................................................................................... 34
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................. 38
4.2 PHÂN TÍCH HỒI QUY ...................................................................................... 44
4.2.1. Ma trận tương quan ......................................................................................... 44
4.2.2. Phân tích mô hình hồi quy dữ liệu bảng. ........................................................ 45
4.2.2.1. Kiểm định Hausman lựa chọn giữa FE và RE ............................................. 45
4.2.2.2. Một số kiểm định dành cho mô hình FE ...................................................... 46
4.2.2.3. Mô hình bình phương tối thiểu tổng quát hiệu quả - FGLS......................... 47
4.3.4 Ý nghĩa của từng biến số hồi quy như sau: ...................................................... 48
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................ 52
5.2 KIẾN NGHỊ ........................................................................................................ 53
5.3 HẠN CHẾ ........................................................................................................... 54
5.4 HƯỚNG NGHIÊN CỨU MỚI ........................................................................... 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 55
PHỤ LỤC 1 ............................................................................................................... 58
viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮC
STT
LIQ
Khả năng thanh khoản
6
LLTL
Dự phòng rủi ro tín dụng
7
LTA
Dự phòng cho vay trên tổng tài sản
8
NHTM
9
NIM
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
10
SIZE
Hình 4.4: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên qua các năm ................................................... 53
Hình 4.3: Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản qua các năm ................................... 54
Hình 4.3: Tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập qua các năm .................................. 55
1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 LÝ DO NGHIÊN CỨU
Hệ thống ngân hàng luôn vẫn tồn tại nhiều rủi ro, trong đó rủi ro thanh khoản
được đánh giá là rủi ro nguy hiểm nhất. Ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt,
hay nói cách khác ngân hàng không gặp rủi ro thanh khoản khi luôn có được nguồn
vốn khả dụng với chi phí hợp lý vào đúng thời điểm mà ngân hàng cần. Ngược lại,
nếu ngân hàng không đáp ứng đủ nguồn vốn cần thiết để đáp ứng mọi nhu cầu của
thị trường thì sẽ mất khả năng thanh toán, mất uy tín. Vì vậy, việc các ngân hàng
thương mại chú trọng đến công tác quản trị rủi ro thanh khoản không chỉ vì sự an
toàn của ngân hàng mà còn vì sự an toàn của cả hệ thống tài chính – tiền tệ.
Theo Minh Đức (2015) cho rằng các ngân hàng đang mạo hiểm với thanh
khoản, tính đến ngày 31/5/2015 tỷ lệ cho vay trên huy động vốn trên thị trường của
khối ngân hàng thương mại đã lên mức cao với 94,3%, trong khi cùng kỳ 2014 là
90,74%. Tỷ lệ này càng cao, rủi ro thanh khoản tiềm tàng càng lớn. Để đáp ứng khả
năng chi trả tức thời và đảm bảo mức dự trữ bắc buộc, các ngân hàng thương mại
(NHTM) buộc phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng làm cho lãi suất ngân hàng
tăng cao, dẫn đến nguồn vốn hạn hẹp và rủi ro thanh khoản gia tăng. Điều đó làm
cho kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng bị sụt giảm.
Việt Nam trong quá trình hội nhập toàn cầu hóa kinh tế, các hoạt động kinh
doanh trở nên phức tạp, áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng lớn hơn và cùng với
nó, mức độ rủi ro cũng tăng lên. Do đó, để tồn tại và phát triển thì công tác quản trị
rủi ro nói chung và quản trị rủi ro thanh khoản nói riêng hơn bao giờ hết là điều
thực sự cần thiết đối với các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Xuất phát từ lý do
của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Ba mươi bốn (34) ngân hàng thương mại Việt Nam trong 4 năm, giai đoạn từ
năm 2011-2014.
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định lượng, sử dụng phương
pháp hồi quy với dữ liệu bảng để tìm hiểu các yếu tố nội tại ngân hàng và các yếu tố
kinh tế vĩ mô tác động đến khả năng thanh khoản. Bài nghiên cứu này sử dụng
phần mềm STATA để xử lý và phân tích hồi quy dữ liệu. Từ đó cho ta những kết
luận về mối quan hệ, cũng như ý nghĩa thống kê của các biến.
3
1.6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Việc thực hiện nghiên cứu này có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như thực
tiễn.
- Về mặt khoa học, nghiên cứu tham gia vào việc hoàn thiện mô hình xác
định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương
mại. Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu này cũng là sự nhận xét các nghiên cứu
trước ở các nước trên thế giới so với Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này sẽ đưa ra những kết luận mang tính chất
tham khảo, giúp cho các nhà quản lý, các nhà quản trị ngân hàng có bức tranh về sự
phát triển của ngành ngân hàng trong việc quản lý thanh khoản để đảm bảo vừa an
toàn và hiệu quả cho hoạt động.
1.7 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài có kết cấu gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan
Trong chương này sẽ giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý
do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và phương pháp
nghiên cứu để thực hiện đề tài, ý nghĩa của đề tài.
nghiệp vu, chiết khấu hay tài chính”.
Hay theo luật Ngân hàng của Ấn độ năm 1959 đã nêu; “Ngân hàng là cơ sở
nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”.
Và ở Việt Nam, trong Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH 12 được
Quốc hội thông qua vào ngày 16/06/2010 thì phát biểu:”Ngân hàng thương mại là
loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và
các hoạt động khác có liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Luật này còn định
nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc
một số các nghiệp vụ sau: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán
qua tài khoản”.
Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài
chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản
là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn
cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ
của xã hội.
2.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại:
Theo Lê Trung Thành (2002) cho rằng ngân hàng thương mại có ba chức
năng cơ bản: chức năng trung gian tín dụng, chức năng trung gian thanh toán, chức
năng tạo tiền.
Chức năng trung gian tín dụng: Chức năng trung gian tín dụng được xem là
chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng
5
trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa
vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa
đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận
là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi
ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay... Cho vay luôn là
hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn
2.2.1 Khái niệm rủi ro
Nguyễn Thị Thu Hằng (2009) cho rằng rủi ro là xác xuất gặp nguy hiểm từ
bất kỳ một sự cố tiêu cực nào như bị thương, mất cắp...do tác động của các yếu tố
gây nguy hiểm từ bên trong hoặc bên ngoài gây nên và điều này có thể phòng ngừa
và hạn chế được bằng những dự tính từ trước. Dưới góc độ tài chính, rủi ro được
định nghĩa là xác suất mà lợi nhuận thực tế thu được từ một khoản đầu tư ban đầu
thấp hơn so với mong đợi.
Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng được hiểu là những biến cố không mong
đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi
nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn
thành một nghiệp vụ tài chính nhất định.
2.2.2 Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng
Theo Nguyễn Văn Tiến (2010) trình bày trong sách Quản trị rủi ro trong kinh
doanh ngân hàng-Nhà xuất bản thống kê cho rằng:
-
Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng phát sinh khi ngân hàng không thu được
đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi
không đúng kỳ hạn.
-
Rủi ro tỷ giá hối đoái: Là khả năng xảy ra tổn thất với ngân hàng khi tỷ
giá hối đoái thay đổi vượt quá dự tính của ngân hàng.
-
Rủi ro lãi suất: Là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi lãi suất
thay đổi ngoài dự tính (cả lãi suất bên tài sản và bên nguồn vốn). Như
vậy, rủi ro này là hậu quả của những thay đổi lãi suất.
phải đặc biệt quan tâm, đó là thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo. Trong
đó thanh khoản nghĩa là các dòng lưu chuyển xuất phát từ tài sản hoặc nợ nhưng có
thời gian theo luật định. Trong lĩnh vực ngân hàng, khi một giao dịch với khách
hàng thường được tái tục, có thể với cùng số tiền hoặc với số tiền nhỏ hơn, lớn hơn
thì nhìn chung nhóm khách hàng này thường hành động gần như theo cách có thể
dự đoán được. Điều này không chỉ đúng với các tài sản mà còn đúng với các khoản
nợ. Còn thanh khoản nhân tạo lại được tạo ra thông qua khả năng chuyển tài sản
thành tiền mặt trước ngày đáo hạn.
Theo Trương Quang Thông (2012) thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài
sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác
nhau của ngân hàng. Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi
thành tiền thấp và thời gian chuyển đổi thành tiền nhanh. Trong khi đó, nguồn vốn
có tính thanh khoản cao khi chi phí huy động thấp và thời gian huy động nhanh.
Cũng theo Trương Quang (2012) cho rằng rủi ro thanh khoản là loại rủi ro
đặc trưng và phổ biến. Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà ngân hàng thiếu khả năng
thanh toán, do không có khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền, hoặc không có khả
năng huy động, vay mượn để đáp ứng các hợp đồng đã cam kết trước đó.
8
Theo Rudolf Duttweiler (2009) thì rủi ro thanh khoản là nguy cơ không thể
thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, theo đó việc không thể thực hiện này sẽ kéo theo
những hậu quả không mong muốn.
Rủi ro thanh khoản theo Basel Committee on Banking Supervision (1997)
xuất phát từ việc ngân hàng không có khả năng gia tăng các khoản mục nguồn vốn
để tài trợ cho việc gia tăng tài sản ngân hàng.
Như Golin (2001) đề cập rằng điều quan trọng để một người quản lý ngân
hàng cần quan tâm đó chính là nguy cơ rủi ro thanh khoản, liệu ngân hàng có đủ tài
sản hiện tại như tiền mặt hay chứng khoán có tính thanh khoản cao, nhằm đáp ứng
nghĩa vụ thanh khoản cho những người gửi tiền, đặc biệt là trong thời điểm kinh tế
Theo Valla và Escorbiac (2006) rủi ro thanh khoản có thể đến từ bên tài sản
nợ hoặc tài sản có, hoặc từ hoạt động ngoại bảng của bảng cân đối tài sản.
Theo Trương Quang Thông (2012) đề cập trong sách Quản trị ngân hàng
thương mại thì có ba nguyên nhân làm cho ngân hàng phải đối mặt với rủi ro thanh
khoản:
Rủi ro thanh khoản xuất phát từ phía nguồn vốn của bảng cân đối kế
toán.
Ngân hàng thiếu ngân quỹ để đáp ứng các nhu cầu chi trả cho những người
gửi tiền, hoặc thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn mà ngân hàng đã vay. Trong
cơ cấu nguồn vốn của một ngân hàng thương mại, thông thường có một tỷ lệ lớn
các nghĩa vụ nợ ngắn hạn như tiền gửi trên tài khoản vãng lai, các khoản tiết kiệm
ngắn hạn, các khoản vay liên ngân hàng, trong đó, một phần là tiền ký thác trên tài
khoản vãng lai được khách hàng rút ra, phần còn lại được xem là ký thác lõi, là
những nguồn vốn ổn định mà họ có thể sử dụng với kỳ hạn dài hơn. Do đó, các nhà
quản trị phải biết cách điều chỉnh các luồng rút vốn ròng.
Rủi ro thanh khoản xuất phát từ phía tài sản của bảng cân đối kế
toán.
Ngân hàng phải giải quyết các nhu cầu giải ngân cho các khoản tín dụng đã
cam kết. Theo đó, ngân hàng phải có tiền giải ngân cho khách hàng vay nợ, khi họ
muốn rút vốn theo nhu cầu và lịch trình đã thỏa thuận, và do đó làm phát sinh cầu
thanh khoản.
Rủi ro thanh khoản xuất phát từ việc thiếu ngân quỹ.
Khi ngân quỹ của ngân hàng thương mại ít, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến
việc giải quyết vấn đề thanh khoản của ngân hàng. Giả sử khi có biến cố nào đó xảy
ra như việc khách hàng vay nợ quá nhiều hoặc khách hàng đến rút tiền quá đông thì
nếu ngân hàng có nguồn vốn điều lệ mạnh sẽ không sợ bị ảnh hưởng khi có những
bất thường xảy ra nhưng đối với các ngân hàng nhỏ, họ sẽ khó để xoay sở kịp thời,
được rút ra quá mức và không dự tính trước. Khi những người rút tiền tăng, luồng
tiền chảy ra khỏi ngân hàng cũng sẽ tăng theo. Nếu số dư tiền mặt không đủ để đáp
ứng các yêu cầu rút tiền thì ngân hàng buộc phải bán khẩn cấp các chứng khoán
thanh khoản như trái phiếu, tín phiếu kho bạc hoặc vay mượn trên thị trường tiền tệ.
Trường hợp nếu người rút tiền tiếp tục tăng, ngân hàng không còn khả năng thanh
11
khoản, không thể vay mượn thêm trên thị trường tiền tệ thì khủng hoảng thanh
khoản sẽ xảy ra, khi đó buộc ngân hàng phải bán các tài sản mà không quan tâm đến
giá. Điều này sẽ làm cho ngân hàng chuyển sang rủi ro mất khả năng thanh toán.
Rủi ro thanh khoản mang tính hệ thống
Khi một ngân hàng không thanh khoản, chuyển thành mất khả năng thanh
toán và buộc phải đóng cửa có thể gây tâm lý lo ngại đối với khách hàng của các
ngân hàng khác. Khách hàng lo sợ ngân hàng nơi mình gửi tiền cũng có thể bị phá
sản nên tìm mọi cách rút tiền ra khỏi ngân hàng đó. Nếu niềm tin của dân chúng bị
lung lay thì trong trường hợp như vậy có thể dẫn đến hàng loạt ngân hàng mất khả
năng thanh toán chỉ trong một thời gian ngắn và khiến cho hệ thống ngân hàng rơi
vào tình trạng hỗn loạn. Sự hỗn loạn của hệ thống ngân hàng có thể chuyển thành
khủng hoảng kinh tế xã hội, chính trị của một quốc gia.
2.4.2 Chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản
Theo Trương Quang Thông (2012 cho rằng việc thiết lập và thực thi các
chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản phải dựa vào việc tổ chức chu đáo công tác
hoạch định cung và cầu thanh khoản; phải hướng tới những giải pháp dự phòng, đối
phó trong các tình huống trạng thái thanh khoản mất cân bằng.
Tùy theo điều kiện, đặc điểm hoạt động, ngân hàng có thể lựa chon các chiến
lược quản trị thanh khoản sau:
Chiến lược quản trị thanh khoản dựa vào tài sản
Theo chiến lược này, ngân hàng sẽ tập trung các hoạt động quản trị vào các
khoản tín dụng ngắn hạn. Khối lượng và thời hạn của các nhu cầu tín dụng dự kiến