LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá nhận
thức của người dân về biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của
chúng tới hoạt động khai thác hải sản trên địa bàn
Phường Bạch Đằng - Thành phố Hạ Long - tỉnh Quảng
Ninh” là công trình nghiên cứu của bản thân và chưa từng được
công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào.
Các số liệu và kết quả trình bày trong khóa luận hoàn toàn
trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm với cam đoan này của tôi!
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2016
Sinh viên
thực hiện
Nguyễn Thị Thu
Trang
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quãng thời gian bốn năm học tập và rèn luyện tại
Học viện Nông nghiệp Việt Nam, bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc
nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám đốc Học viện, khoa Môi
trường cùng toàn thể các thầy, cô giáo đã luôn quan tâm, giúp
MỤC LỤC
4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH
: Biến đổi khí hậu
ĐBSH
: Đồng bằng sông Hồng
GDP
: Tổng sản phẩm quốc nội
GG
: Gió giật
IMHEN
: Viện Khoa học Khí tượng thủy văn và Môi
trường
IPCC
: Ngân hàng thế giới
: Xoáy thuận nhiệt đới
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
6
DANH MỤC CÁC HÌNH
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, cùng với tốc độ phát triển kinh tế
mạnh mẽ, con người đang phải đứng trước những thách thức lớn
về các vấn đề môi trường, đặc biệt là vấn đề biến đổi khí hậu
(BĐKH). Đây là một trong những vấn đề nóng bỏng nhất trên
phạm vi toàn cầu trong giai đoạn hiện nay, được các quốc gia
và vùng lãnh thổ vô cùng quan tâm.
Trong báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ủy ban liên Chính phủ
về BĐKH (IPCC) được công bố tháng 2 năm 2007, nhiệt độ trung
bình toàn cầu trong giai đoạn từ 1906 - 2005 đã tăng khoảng
0,74°C. Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng lên 0,31m
trong 100 năm gần đây. Trong những năm qua, nhiều nơi trên
ngập chìm trong nước biển. Nếu điều này xảy ra thì ước tính sẽ
có khoảng 40 triệu người hay gần một nửa dân số Việt Nam sẽ
bị chịu tác động trực tiếp (Ngân hàng Thế giới, 2007).
Quảng Ninh là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng, sẽ có
khoảng 10% diện tích đất ven biển của tỉnh bị ngập lụt (Quảng
Ninh có 9 huyện, thị xã, thành phố ven biển, trong đó có 8 xã
dưới mực nước biển); khoảng 5% chiều dài quốc lộ, trên 6%
chiều dài tỉnh lộ, gần 4% chiều dài đường sắt, trên 9% dân số bị
ảnh hưởng. Dự báo giai đoạn 2020-2100, mực nước biển tỉnh
Quảng Ninh sẽ dâng từ 7-64cm so với giai đoạn 1980-1999, khi
đó tổng diện tích bị ngập của tỉnh Quảng Ninh là 125,27km 2.
Phường Bạch Đằng là một trong những nơi khai thác hải sản
nên ảnh hưởng của sự thay đổi thời tiết, khí hậu tới cuộc sống
và hoạt động kinh tế là rất lớn. Nhằm tìm hiểu nững tổn thương
mà cư dân trên địa bàn đã phải chịu do biến đổi khí hậu gây ra
từ đó đưa ra những giải pháp nhằm thích ứng và giảm thiểu tác
động của BĐKH tới đời sống và hoạt động khai thác hải sản, tôi
thực hiện đề tài: “Đánh giá nhận thức của người dân về
9
biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của chúng tới hoạt động
khai thác hải sản trên địa bàn phường Bạch Đằng –
thành phố Hạ Long – tỉnh Quảng Ninh.”
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá nhận thức về biến đổi khí hậu trong khai thác hải
sản của người dân tại địa bàn nghiên cứu.
- Đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong
khai thác hải sản của người dân.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức và khả năng
v.v... Các giá trị số thống kê thông dụng là số trung bình, số
min, số max, tần số, tần suất và độ biến động,...
Như vậy, khí hậu phản ánh giá trị trung bình nhiều năm
của thời tiết và nó thường có tính chất ổn định theo những chu
kỳ tự nhiên, ít thay đổi. Trên trái đất, chu kỳ khí hậu tự nhiên là
biến đổi mùa, khí hậu mỗi vùng ngoài những đặc điểm chung
theo từng đới thì chúng còn chịu sự chi phối riêng của gió mùa
khu vực. Tuy nhiên, tất cả những đặc điểm chung và riêng đều
duy trì tính ổn định thời gian. Hàng năm, thời tiết thường biến
động xung quanh giá trị trung bình đặc trưng của vùng khí hậu
đó (Đoàn Văn Điếm và cộng sự, 2012).
Thời tiết cực đoan, khí hậu cực đoan
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ủy ban liên Chính
phủ về biến đổi khí hậu của IPCC (2007) định nghĩa “hiện tượng
thời tiết cực đoan” và “hiện tượng khí hậu cực đoan” như sau:
12
- Hiện tượng thời tiết cực đoan: là hiện tượng hiếm ở một
nơi cụ thể khi xem xét phân bố thống kê của nó. Định nghĩa
“hiếm” ở đây có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng hiện
tượng thời tiết cực đoan thông thường được hiểu là tần suất
xuất hiện của nó nhỏ hơn 10%. Theo định nghĩa này, những đặc
trưng của thời tiết cực đoan có thể thay đổi tùy từng khu vực
mà đặc trưng cho khu vực đó, nó phụ thuộc vào các yếu tố địa
lý tự nhiên, bức xạ, địa hình v.v…
(ví dụ sử dụng các phương pháp thống kê) diễn ra trong một
thời kỳ dài thường là một thập kỷ hoặc lâu hơn. BĐKH đề cập
đến bất cứ biến đổi theo thời gian, có hay không theo sự biến
đổi của tự nhiên do hệ quả các hoạt động của con người.”
Nhìn chung, các định nghĩa, khái niệm có đôi chút khác
nhau song nội dung chính vẫn đồng quan điểm với nhau, đó là
sự thay đổi của trạng thái khí hậu trong khoảng thời gian dài, có
liên quan đến con người. Như vậy, ta có thể hiểu một cách đơn
giản: “BĐKH là sự biến đổi theo một xu thế nào đó dẫn tới các
đặc trưng thời tiết dần dần trở nên khặc nhiệt hơn hoặc ôn hòa
hơn, theo thời gian nó không trở lại xung quanh trị số khí hậu
trung bình nữa.”
1.1.2. Biểu hiện của biến đổi khí hậu
Theo nghiên cứu của Uỷ ban liên Chính phủ về biến đổi khí
hậu (IPCC, 2007) BĐKH thường có một số biểu hiện sau đây:
-
Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung.
-
Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi
trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất.
-
Sự dâng cao mực nước biển do băng tan dẫn tới sự ngập úng
của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển.
-
đổi quỹ đạo quay của trái đất.
(1) Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt trời gây ra sự
thay đổi năng lượng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi
nhiệt độ bề mặt trái đất. Cụ thể là từ khi tạo thành mặt trời đến
nay gần 4,5 tỷ năm, cường độ ánh sáng mặt trời đã tăng lên
hơn 30%. Như vậy có thể thấy với khoảng thời gian khá dài như
vậy thì sự thay đổi cường độ ánh sáng mặt trời là không ảnh
hưởng đáng kể đến BĐKH.
(2) Sự xuất hiện các Sunspots làm cho cường độ tia
bức xạ mặt trời chiếu xuống trái đất thay đổi, nghĩa là năng
lượng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề
mặt trái đất.
15
(3) Núi lửa phun trào: Khi một ngọn núi lửa phun trào
sẽ phát thải vào khí quyển một lượng cực kỳ lớn khối lượng
sulfur dioxide (SO2), hơi nước, bụi và tro vào bầu khí quyển.
Khối lượng lớn khí và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trong
nhiều năm. Các hạt nhỏ được gọi là các sol khí phản chiếu lại
bức xạ mặt trời trở lại không gian, vì vậy chúng có tác dụng
làm giảm nhiệt độ lớp bề mặt trái đất.
(4) Đại dương: Các đại dương là một thành phần chính
của hệ thống khí hậu. Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớn
nhiệt trên khắp hành tinh. Thay đổi trong lưu thông đại dương
có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của
CO2 vào trong khí quyển.
(5) Thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất: Trái đất quay
quanh Mặt trời với một quỹ đạo. Trục quay có góc nghiêng
Theo báo cáo đánh giá lần 4 của IPCC (2007), sau một loạt các
nghiên cứu được thực hiện, kết quả chỉ ra rằng hoạt động con
người đóng góp vào 90% nguyên nhân gây ra BĐKH.
-
Và trong báo cáo đánh giá lần thứ 5, phần 1 của IPCC (2013) kết
luận rằng hoạt động con người đóng góp vào 95% nguyên nhân
gây ra BĐKH.
Có rất nhiều bằng chứng khoa học cho thấy tồn tại mối
quan hệ giữa quá trình tăng nhiệt độ trái đất với quá trình tăng
nồng độ khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển, đặc
biệt trong kỷ nguyên công nghiệp (UNDP, 2008). Trong suốt gần
1 triệu năm trước cách mạng công nghiệp, hàm lượng khí CO 2
trong khí quyển nằm trong khoảng từ 170 - 280ppm. Hiện tại,
con số này đã tăng cao hơn nhiều và ở mức 387ppm và sẽ còn
tiếp tục tăng với tốc độ nhanh hơn nữa (Ngân hàng Thế giới,
2010). Chính vì vậy, sự gia tăng nồng độ khí CO2 trong khí
quyển sẽ làm cho nhiệt độ trái đất tăng và nguyên nhân của
vấn đề biến đổi khí hậu là do trái đất không thể hấp thụ được
hết lượng khí CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính khác đang
dư thừa trong bầu khí quyển (UNDP, 2008).
Đánh giá khoa học của IPCC cho thấy, việc tiêu thụ năng
lượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuất
17
năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng v.v...
đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phá
rừng nhiệt đới khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9%,
(1)
Sự nóng lên toàn cầu
Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của IPCC công bố tháng 9 năm
2013 đã có những kết luận chính như sau:
- Sự nóng lên của hệ thống khí hậu trái đất hiện này là một
điều chắc chắn và đã được minh chứng rõ ràng thông qua số
liệu quan trắc năm 1950, ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ
không khí và đại dương ấm lên, diện tích băng tuyết đang thu
hẹp và mực nước biển tăng lên.
- Nhiệt độ trung bình trái đất tăng từ cuối thế kỷ 19. Trong
30 năm gần đây, nhiệt độ bề mặt trái đất ấm hơn so với các
thập kỷ trước, và những thập kỷ đầu thế kỷ 21 là ấm nhất.
- Xu thế tăng nhiệt độ trong chuỗi số liệu 110 năm (1901 2012) là 0,89°C và khoảng 0,72°C giai đoạn 1951 - 2012. trong
đó riêng ở Bắc cực nhiệt độ đã tăng 1,5°C, gấp đôi tỷ lệ tăng
trung bình toàn cầu.
- Nhiệt độ tăng tổng cộng trung bình giữa giai đoạn 1850 1900 với giai đoạn 2003 - 2012 là 0,78°C [0,72 - 0,85] °C và
nhiệt độ tăng tổng cộng trung bình giữa giai đoạn 1850 - 1900 với
giai đoạn 1986 - 2005 là 0,61°C [0,55 - 0,67] °C . Khi hoàn thành
tính toán số liệu nhiệt độ các vùng trong giai đoạn dài nhất (1901 2012) cho thấy nhiệt độ bề mặt trái đất đang ấm dần lên (Hình
1.1).
19
Hình 1.1. Thay đổi nhiệt độ bề mặt giai đoạn 1901 - 2012
(Nguồn: IPCC,
2013)
(2) Biến đổi của lượng mưa
Băng tan và nước biển dâng
Khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên, lượng mưa tại các khu vực
khác nhau đang thay đổi; các vùng biển ấm lên, băng tại các
cực đang tan ra và mực nước biển đang dâng lên (UNDP, 2008).
Tại hội nghị quốc tế về BĐKH họp ở Bruxen (Bỉ), các báo
cáo khoa học cho biết, ở Bắc cực, khối băng dày 2 dặm đang
mỏng dần và đã mỏng đi 66cm. Ở Nam cực tình trạng tương tự
cũng diễn ra nhưng với tốc độ chậm hơn và những núi băng ở
Tây Nam cực đổ sụp. Các nhà khoa học phát hiện trong hai mùa
hè năm 2007 và 2008, lượng băng bao phủ ở hai cực đã xuống
tới mức thấp nhất kể từ lần vệ tinh ghi được những hình ảnh
đầu tiên vào 30 năm trước (IPCC, 2007).
Số liệu vệ tinh cho thấy, trong giai đoạn 1979 - 2012, diện
tích băng biển trung bình hàng năm ở Bắc cực đã thu hẹp
khoảng 3,8% /thập kỷ, riêng mùa hè giảm 9,4 - 13,6%/thập kỷ.
Diện tích cực đại của lớp băng phủ ở Bắc bán cầu giảm 13,5 14,7%/thập kỷ trong giai đoạn 1979 - 2012. Còn ở Nam cực,
diện tích băng biển đã thu hẹp với tỷ lệ trung bình là 1,5%/thập
kỷ trong giai đoạn 1979 - 2012 (IPCC, 2013).
21
Các nhà khoa học về BĐKH toàn cầu và nước biển dâng
cho thấy, đại dương đã nóng lên đáng kể từ cuối thập kỷ 1950.
Các nghiên cứu từ số liệu quan trắc trên toàn cầu cho thấy, mực
nước biển trung bình toàn cầu trong thời kỳ 1961 - 2003 đã tăng
với tốc độ trung bình khoảng 1,8 ± 0,5mm/năm so với mức độ
gia tăng trung bình của thế kỷ 20 là 1,7 ± 0,5mm/năm, trong
đó, đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0,42 ± 0,12mm và tan
Vào giữa thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở phía Bắc
có mức tăng phổ biến từ 2,0 đến 2,3 oC và ở phía Nam từ 1,8 đến
1,9oC. Đến cuối thế kỷ, mức tăng từ 3,3 đến 4,0 oC ở phía Bắc và
từ 3,0 đến 3,5oC ở phía Nam. Nhìn chung, nhiệt độ phía Bắc
tăng cao hơn phía Nam.
Hình 1.3. Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (°C) trong 50 năm qua
(Nguồn: IMHEN, 2010)
Nhiệt độ cực trị có xu thế tăng so với trung bình thời kỳ
1986-2005 ở tất cả các vùng của Việt Nam. Theo kịch bản, đến
cuối thế kỷ 21, nhiệt độ tối cao trung bình năm có xu thế tăng
23
từ 1,7 đến 2,7oC, tăng cao nhất là khu vực Đông Bắc, Đồng
Bằng Bắc Bộ; thấp nhất là khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
Trong khi đó, nhiệt độ tối thấp trung bình năm vào cuối thế kỷ
có xu thế tăng từ 1,8 đến 2,2oC. Xu thế chung của nhiệt độ cực
đại và cực tiểu là tăng, tốc độ tăng của nhiệt độ cực tiểu nhanh
hơn so với nhiệt độ cực đại, phù hợp với xu thế chung của biến
đổi khí hậu toàn cầu (Bảng 1.1)
Bảng 1.1. Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua
ở các vùng khí hậu của Việt Nam
(Nguồn: IMHEN, 2010)
(2)
Về lượng mưa
Theo Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt
•
Theo kết luận trong nghiên cứu của Trần Thục, Huỳnh Thị Lan
Hương, Đào Minh Trang (2012): Số liệu mực nước đo đạc từ vệ
tinh từ năm 1993 đến 2010 cho thấy xu thế tăng mực nước biển
trên toàn biển Đông là 4,7mm/năm, phía Đông của biển Đông
25