Nghiên cứu về tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em ở việt nam và đề ra giải pháp phòng tránh vấn nạn này - Pdf 39

Nghiên cứu về tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam và đề ra
giải pháp phòng tránh vấn nạn này.
Nguyễn Thị Thu*
Tóm tắt
Qua việc tìm hiểu cập nhật những thông tin thường nhật trên báo, đài, tivi, internet
và một số nghiên cứu có liên quan về tình hình buôn bán phụ nữ và trẻ em cũng nhiều
nguồn thông tin khác như trong các buổi họp dân phố, mít tinh địa phương, các khóa học
ngoài giờ lên lớp về vấn nạn buôn bán trẻ em. Bài viết đã nêu bật lên thực trạng tình hình
buôn bán phụ nữ và trẻ em tại Việt Nam, từ đó đề ra các giải pháp phòng chống, khắc
phục và hạn chế vấn nạn trên trong nhân dân.
Từ khóa: Tội phạm, tình hình tội phạm, buôn bán, phụ nữ, trẻ em, buôn bán phụ nữ,
buôn bán trẻ em, buôn bán phụ nữ và trẻ em tại Việt Nam.
1. Giới thiệu

Đi đôi với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, xã hội ngày càng phát triển đã cung cấp
đầy đủ các phương tiện vật chất, đã hộ trợ phục vụ đăc lực nhu cân của con người. Song
song đó chúng ta cũng không thể phụ nhận ràng cũng vì xã hội ngày càng phát triển dẫn
đế sự phân cấp, phân chia giàu nghèo, thì trong xã hội ngày càng ngày càng các vấn nạn,
các tệ nạn xã hội. Nổi bật trong số đó là vấn nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em – một vấn đề
gây bức xúc và nhức nhối của toàn đảng, toàn dân, toàn quân và của toàn xã hội. Số
lương buôn bán phụ nữ trẻ em ngày càng gia tăng và nhân rộng với nhiều hình thức, thủ
đoạn của tội phạm. Theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tháng 6 năm 2005 đã báo cáo rằng
“Việt Nam là một trong những nước cần chú ý vì có tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em
Việt Nam sang Trung Quốc, Hongkong, Macao, Malaysia, Đài Loan và Cộng Hoà Czech
để làm công việc mãi dâm”. Theo thông tin mới nhất trên báo công an TP Hồ Chí Minh
trong 2 năm 2005 – 2006 cà nước phát hiện 568 vụ, 993 đối tượng buôn bán phụ nữ, trẻ
em. Trong số 1.518 nạn nhân, số phụ nữ bị lừa bán ở lứa tuổi từ 18 đến 35 chiếm đa số,
gồm 511 vụ với 882 đối tượng tham gia. Trong cà nước cho đến nay, theo thống kê, có
5746 phụ nữ, trẻ em được đưa vào danh sách chính thức bị bán ra nước ngoài là ; và 7940
phụ nữ, trẻ em vắng mặt lâu ngày tại địa phương bị nghi là đã bị bán.



của

tội

phạm:

+ Hành vi của tội phạm là hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội.
Biểu hiện về mặt khách quan: Gây thiệt hại cho xã hội , hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các
quanhệ



hội



mức

độ

đáng

kể.

Tội phạm nguy hiểm có tính khách quan: Phụ thuộc vào công cụ, phương tiện gây án,
cách

thức


tội

phạm

đã

gây

ra,

Tính

chất

mức

độ

lỗi

+ Tính có lỗi của tội phạm: Nhận thức được hành vi nguy hiểm hay không nguy hiểm ,
gây thiệt hại hay không thiệt hại, khả năng gây thiệt hại như thế nào... nhưng vẫn thực
hiện.
+ Tính trái pháp luật hình sự: Mọi hành vi phải được BLHS quy định là tội phạm thì mới


tội

phạm.


2.2.1 Lý thuyết tiến hóa
Theo thuyết tiến hóa muôn loài của Darwin (1809-1882) vật chất không ngừng
vận động và phát triển, đã thúc đảy xã hội ngày càng tiến hóa, tiến triền lên một bước
ngoặc mới. Cũng chính vì đó làm cho xã hội ngày càng phát triển, nảy sinh nhiều vấn đề
trong xã hội, xuất hiện cạnh tranh, đoạt lợi lẫn nhau, ai cũng muốn làm giàu, dẫn đến xuất
hiện một số người luôn muốn đạt lợi cho mình mà không từ thủ đoạn phi phát, trái đạo
nghĩa, nhân văn. Một trong những thủ đoạn đó có cướp của, giết người, buôn bán người
trái phép.
Qua thuyết tiến hóa của Darwin cho ta thấy được nguồn gốc và nguyên nhân phát
triển trong suy nghĩ và hành động của tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em.
2.2.2 Lý thuyết kiểm soát xã hội
Theo từ điển bách khoa vi.wilipedia cho biết “Kiểm soát xã hội là sự bố trí các
chuẩn mực, các giá trị cùng những chế tài để ép buộc việc thực hiện chúng. Sự kiểm soát
sẽ làm cho hành vi của các cá nhân, các nhóm vào các khuôn mẫu đã được xã hội thừa
nhận là đúng, cần phải làm theo. Kiểm soát xã hội, sẽ dùng các chế tài tiêu cực đẩy các
hành vi lệch lạc vào khuôn phép hay vào một trật tự” [6].
Chức năng của kiểm soát xã hội nhằm tạo ra điểu kiện cho sự bền vững nhắm duy
trì ổn định trật tự xã hội.
Theo nghiên cứu của tác giả Talcott Parsons (1902-1979) đã đưa ra ba công cụ
chính để kiểm soát xã hội: Một là sự cô lập hoàn toàn, hai là sự hạn chế giao tiếp, quan3
chế. Ba là sự cải tạo phục hồi. Đồng nghiên cứu về lĩnh vực kiểm soát xã hội tác giả


Crocbie đã đưa ra bốn dạng kiểm soát không chính thức: Một là lợi ích xã hội về dân chủ,
cơ hội thăng tiến. Hai là sự trừng phạt. Ba là sự thuyết phục. Bốn là xác định lại chuẩn
mực.
Trong kiểm soát ở phạm vi, lĩnh vực tội phạm học ta có kiểm soát xã hội đối với
tội phạm (hay kiểm soát không chính thức) là hình thức kiểm soát thông qua các tổ chức,
quan hệ xã hội như: Cộng đồng dân cư, tổ chức xã hội, tôn giáo, tổ chức giáo dục, gia
đình... và bằng các giá trị xã hội như: Phong tục, tập quán, truyền thống, tiêu chuẩn, niềm

Nhóm lợi ích là một trong các động lực cơ bản thúc đẩy phát triển xã hội. Ảnh
hưởng của nhóm lợi ích có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Mức độ và khả năng ảnh hưởng
của nhóm tới định hướng phát triển của quốc gia phụ thuộc vào chất lượng thể chế của
mỗi quốc gia. Ý chí của nhóm lợi ích, thậm chí có thời điểm là ý chí của số đông cũng có
thể gây tổn hại tới sự phát triển bền vững của xã hội [9]
Thông qua lý thuyết nhóm lợi ích, giúp chúng ta hiểu rõ được cá loại nhóm lợi ích
đặc biệt là lợi ích cá nhân và lợi ích của một nhóm nào đó đã ham muốn vụ lợi cho riêng
bản thân và một nhóm của mình đã thực hiện hành vi mất hết đạo lý – buôn bán phụ nữ
trẻ em. Qua đó giúp chính quyền và nhân dân hiểu rõ được những đối tượng và nhóm cá
biệt thường có hoạt động bất thường, phi pháp để có biện pháp phòng chống và cưỡng
chế các đội tượng này, góp phần hạn chề vấn nạn trên.
3. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
3.1 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu có sản được thu thập công bố từ trước ( Nguồn
tài liệu thứ cấp ).
3.2. Tổng quan tài liệu
Như chúng ta đã biết từ khi nhà nước được xây dựng thì luật bảo vệ con người
được hình thành, một trong số đó có phụ nữ và trẻ em. Phụ nữ có vai trò rất quan trong
việc lao động sản xuất góp phần vào kinh tế đất nước, đặc biệt có vai trò quan trọng trong
việc đảm đang việc nhà: vừa là người vợ kiên trung, giữ dìn hạnh phúc gia đình, và đặc
biệt đảm đang trách nhiệm hết sức quan trong - giúp duy trì giống nòi của đất nước. Còn
trẻ cũng có vai trò hết sức quan trong trong xã hội. Trẻ em là mầm móng, trụ cột, chủ
nhân tương lai của đất nước, lớp người kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc, thúc đẩy phát


triển kin tế đất nước. Chính vì lý do trên phụ nữ và trẻ em ngày càng trở lên quan trọng,
là nguyên khí của quốc gia và được xã hội quan tâm bảo vệ. Vì thế ngày nay vấn nạn
buôn bán phụ nữ và trẻ em đã và đang là vấn đề nổi cợm, gây nhức nhối cho các nhà lãnh
đạo, gây xôn xao dư luận toàn xã hội. Hiện nay trên thế giới và trong nước có rất nhiều

buộc tội buôn bán người [11]. Theo tạp chí Vietnam News 19-05-2005 đưa ra năm 2005,
cảnh sát đã bắt giữ một nhóm người để lừa khoảng 40 phụ nữ và bán chúng vào tệ nạn
mại dâm cho các đại lý gần biên giới Trung Quốc ở phía Bắc. Một số tờ báo tạp chí khoa
nước ngoài khác đã thông tin về những hình phạt nghiên trọng đối với vấn nạn buôn bán
trẻ em ở Việt Nam. Như theo tạp chí Deutsche Presse-Agentur 17 December 2003 cho
biết Đỗ Thị Đạo và Lê Thị Đẹp đã bị kết án tại Vũng Tàu với tổng số là 20 năm tù cho
phụ nữ buôn từ miền Nam Việt Nam để miền Nam Trung Quốc để làm nghề mại dâm.
Thay vì tìm việc làm cho 18 phụ nữ trong các cửa hàng, hai người phụ nữ bán những 18
phụ nữ là gái mại dâm. Theo tạp chí Borneo Bulletin 19/06/2001 báo cáo Ngày 10 tháng
sáu năm 2001, ba người phụ nữ Việt được trialed để bán thiếu nữ để thịt thương nhân ở
Trung Quốc cho ít nhất là 50USD một cái đầu. Văn Thị Ken, 48, Di Thị Thanh, 63 tuổi
và Hoàng Thị Hiền, 20 bị cáo buộc bán năm cô gái between15 tuổi và 18 đến một người
trung gian ở Trung Quốc vào tháng ba năm đó. Ba phụ nữ bị bắt giữ tại biên giới của
cảnh sát, nhưng năm cô gái, tất cả từ Dân tộc Lu, vẫn mất tích vào 6 -2011 [12] .
4. Kết quả nghiên cứu
4.1 Thực trạng về tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em hiện nay.
4.1.1 Số lượng tội phạm tham gia buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam
Tình hình buôn ban phụ nữ và trẻ em ngày càng phức tạp, với nhiều thành
phần buôn bán phụ nữ và trẻ em ngày càng tăng, với nhiều hình thức thủ đoạn dụ sỗ, lừa
đảo, bắt ép,… Chính phủ cho biết trong năm 2013 đã có 697 nghi can mua bán người bị
bắt giữ, 512 bị cáo bị đưa ra xét xử theo các điều của Bộ luật Hình sự, và 420 tội phạm
mua bán người đã bị tuyên có tội và bị kết án, giảm so với số tội phạm năm 2012 (490
đối tượng) [13]. Theo báo cáo của bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình buôn bán
nười ở Việt Nam 2015 cho biết Năm 2014, Chính phủ đã bắt giữ 685 nghi can mua bán
người, và truy tố 472 người (trong đó có 346 người bị truy tố theo Điều 119 và 126 người
bị truy tố theo Điều 120), và đã kết án 413 bị can, với mức án chủ yếu từ 3-15 năm tù,


giảm đôi chút so với số 420 bị can bị kết án trong năm 2013 [14]. Theo báo công an
thành phố Hồ Chinh Minh số ra 22/4/2007 cho biết: Từ năm 1998 đến nay (9 năm) cả

nữ và trẻ em được đưa vào danh sách chính thức bị bán ra nước ngoài là ; và 7940 pụ nữ
và trẻ em vắng mặt lâu ngày tại địa phương bị nghi là đã bị bán. Theo thống kê của Liên
Hợp Quốc nạn buôn bán người hiện nay lớn gấp 10 lần về quy mô so với nạn buôn nô lệ
vào thế kỷ 19 và đang là vấn đề nhức nhối của toàn cầu. Ước tính, hằng năm có khoảng 4
triệu người, phần lớn là phụ nữ, trẻ em bị buôn bán. Riêng ở khu vực Đông Nam Á có
khoảng 200-250.000 phụ nữ và trẻ em trở thành nạn nhân của các băng nhóm tội phạm.
4.1.3 Độ tuổi nạn nhân của tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
Trong vấn nạn về tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em hiện nay, thì các tội
phạm thực hiện mọi thủ đoạn không bỏ qua tượng nào chúng có khả năng lợi dụng, dụ dỗ
thực hiện hành vi trao đổi mua bán để vụ lợi cá nhân ở mọi lứa tuổi. Song qua nhiều tin
tức báo cáo ta thấy lứa tuổi phụ nữ và trẻ em bị lợi dụng trao đổi mua bán nhiều nhất ở độ
tuổi 16 – 25 (đối với phụ nữ), độ tuổi 10 – 16 (đối với trẻ em). Theo nghiên cứu về “Vấn
đề nạn nhân của tội phạm mua bán phụ nữ ở Việt Nam” của ThS. Nguyễn Văn Hương
cho biết: ở An Giang trong 60 trường hợp phụ nữ bị mua bán (từ 1998 – 2005) thì đều
nhận thấy rằng 60 phụ nữ này đều ở độ tuổi từ 16 đến 25 tuổi, trong đó có 31,67% ở độ
tuổi 16; 28,3% ở độ tuổi 17; 13,3% ở độ tuổi 18; 8,3% ở độ tuổi 19; 6,67% ở độ tuổi 20;
từ 21 đến 25 tuổi có 8 phụ nữ (13,3%). Một điều tra khác ở tỉnh Quảng Ninh (từ
tháng 1/1998 đến 3/2005) có 47 phụ nữ (sinh sống trên địa bàn tỉnh này) bị bán ra
nước ngoài trong đó có 32 phụ nữ ở độ tuổi từ 16 đến 30 (68%), 9 phụ nữ từ trên 30 đến
45 tuổi (19,2%), 6 phụ nữ trên 45 tuổi (12,8%). Nghiên cứu 337 phụ nữ bị mua bán từ
140 bản án hình sự sơ thẩm chúng tôi nhận thấy có 207 phụ nữ ở độ tuổi từ 16 đến 20
(61,4%), 90 phụ ở độ tuổi từ 21 đến 25 (26,7%) và 40 phụ nữ từ 26 tuổi trở lên
(11,9%) [16].
Theo báo công an thành phố Hồ Chí Minh số ra 22/4/2007 trong 2 năm 2005 -2006, cả
nước phát hiện 568 vụ, 993 đối tượng phạm tội buôn bán trẻ em, trong 1518 nạn nhân, số
trẻ em tử 10 tưởng đến 16 tuổng chiếm đa số. Qua thống kê trên cho ta thấy lứa tuổi phụ
nữ và trẻ em bị lừa đảo dụ dỗ có tuổi đời rất trẻ, đây chính là hồi chuông báo động khẩn


cấp đến toàn đảng, toàn dân trong công tác phòng ngừa tội phạm, đồng thời nâng cao dân

Lợi dụng sự nhẹ dạ cả tinh của phụ nữ và trẻ em, các tội phạm thự hiện hành động
như cho mượn nợ, hăm dọa, bắt cóc bằng thuốc gây mê rồi chuyển đi. Do trình độ
dân trí thấp lê họ kém hiểu biết và dẽ dàng bị dụ dỗ bằng lời ngon, tiếng ngọt. Tại
Việt Nam, vấn nạn này đang có chiều hướng gia tăng. Những phụ nữ trẻ chưa


chồng, trình độ học vấn thấp và hầu như không có thông tin đều là những đối
tượng có nguy cơ bị lừa gạt cao. Các nạn nhân thường bị lừa sang Trung Quốc,
Campuchia, Đài Loan, Hong Kong, Malaysia và Thái Lan. Hành vi lừa gạt, câu
móc của bọn tội phạm rất tinh vi. Ngoài thủ đoạn dụ dỗ phụ nữ đi làm xa, lấy
chồng ngoại, bọn lừa đảo còn “sáng tạo” ra những chiêu thức mới như qua hình
thức du học, lao động xuất khẩu, du lịch.
4.2 Nguyên nhân trở thành nạn nhân của tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em
Có rất nhiều nguyên nhân trở thành nạn nhân của tội phạm buôn bán phụ
nữ và trẻ em nhưng xét cho cùng đều xoay quan 2 nguyên nhân chính là nguyên nhân chủ
quan và nguyên nhân khách quan.
4.2.1 Nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân trở thành nạn nhân của tội phạm chủ yếu là do yếu tố chủ quan của
người bị hại, như do suy nghi nông cạn chưa chính chắn, thấy lợi ích trước mắt lên dễ bị
dụ dỗ. Theo tin tức thường nhật ta thấy rằng nạn nhân của tội phạm, những phụ nữ trẻ em
đã số là những người có trình độ dân trí thấp và ở những nơi vùng xâu vùng xa, vùng dân
tộc miền núi, khó khăn cho việc đi lại và học tập. Một trong những nguyên nhân nữa là
trình độ văn hóa thấp. Trong báo cáo 298/BCA (C11) ngày 13/10/2005 giử Thủ Tướng
Chính phủ có nhận định “Phần lớn phụ nữ bị mua bán có trình độ văn hóa thấp” [17].
Theo báo cáo số 43/BCA của văn phòng thường trực Ban chỉ đạo 130/CP còn nêu rõ:
“Về trình độ văn hoá của phụ nữ và trẻ em trở thành nạn nhân của tội phạm buôn bán:
không biết chữ chiếm 26%, học cấp 1- cấp 2 chiếm 71%, cấp 3 chiếm 3%...”[18].
4.2.2 Nguyên nhân khách quan
Ngoài nguyên nhân chủ yêu là yếu tố chủ quan để trở thành nạn nhân của tội
phạm,thì nguyên nhân khách quan cũng ảnh hưởng lớn khiến phụ nữ và trẻ em trở thành

Theo chuyên đề nghiên cứu “Trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt” của sinh viên Nguyễn Thị
Bích cho biết: “ Không ít các gia đình mà bố mẹ chỉ biết chu cấp vật chất đầy đủ cho con
cái mà thiếu sự quan tâm, dạy dỗ. Nhiều trường hợp con cái bỏ nhà đi mấy ngày bố mẹ
mới biết. Những bậc phụ huynh này, có người vì quá ham mê kiếm tiền hoặc mải mê với
những thú vui ích kỷ mà quên mất rằng con trẻ, nhất là trong hoàn cảnh xã hội phức tạp


như ngày nay, rất cần có sự che chở, yêu thương, quan tâm, dạy đỗ của bố mẹ. Qua đó ta
nhận thấy sự quan tâm dạy dỗ của gia đình là rất quan trọng, đó chính là cái nôi hình
thành và phát triển nhân cách của một con người. Qua đây giúp cảnh tỉnh cách bậc phụ
huynh, dù có phải bận rộn, lam lũ nhiều đi chăng nữa, cũng cần phải giành thời gian,
không gian cho con cái mình, để hoàn thiện nhân cách họ, giúp họ khỏi xa lánh vào vòng
tay của tội phạm.
4.3 Biện pháp phòng tránh tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em
4.3.1 Từ phía nhà nước, cơ quan chức năng, chính quyền
4.3.1.1 Thực hiện chương trình giáo dục phổ cập, nâng cao dân chí
Tục ngữ có câu “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng” đó chính là hồi chuông
báo động cần tìm tòi học hỏi của con người về đường đi nước bước của đối phương thì
mới giành được thắng lợi, trong thời nay cũng vậy việc nâng cao dân chí là hết sức quan
trọng và cấp bách, đặc biệt trong việc tìm hiểu tình hình, phạm vi và thủ đoạn của tội
phạm nói chung, tội phạm buôn bán phụ nữ nói riêng. Vì thế nhà nước, các cấp chính
quyền cần chủ trương đẩy mạnh công tác giáo dục trong toàn dân, ít nhất là phải xóa bỏ
phổ cập lớp 9, đặc biệt là quan tâm đến phụ nữ và trẻ em – những con người nhỏ bé yếu
đuối, dễ bị dụ dỗ. Việc nâng cao dân trí đặc biệt quan trọng với họ giúp họ có những kiến
thức nhận biết cơ bản về các vấn đề tệ nạn, nhận ra kẻ tốt người xấu để tránh xa.
4.3.1.2 Thực hiện chương trình hành động quốc gia
Với mứ độ nguy hiểm, phứ tạp và gây nhiều bức xúc dư luận trong xã hội của tội
phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em như ngày nay, vì thế nhà nước, đảng bộ và chính quyền
cấp thực hiện cấp bách các chương trình hành động quốc gia để giải quyết những vấn đề
về tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em ở trong và ngoài nước.

emgiai đoạn II ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam. Dự án Phòng ngừa buôn bán phụ nữ và
trẻ em của ILO cũng hợp tác với Quĩ Cứu trợ Nhi đồng Anh, Dự án Liên minh các Tổ
chức LiênHợp Quốc (UNIAP), Tổ chức Di dân Quốc tế (IOM) và các tổ chức quốc tế
khác vận động cho sự tham gia tư vấn của trẻ em đối với các quyết định chính sách về
phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em.
4.3.2 Từ phía nhân dân


Đối với công tác phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em không chỉ là
sự vận động của nhà nước các cấp chính quyền, mà cần vận động sức mạnh của toàn dân.
Vì nhân dân có lực lượng hùng hậu, đông đúc bố trí khắp cả nước bao trùm cả những nơi
các tên tội phạm thực hiện hành vi phạm tội của mình, vì thế nhà nước cần kết hợp và
dựa vào sức mạnh của nhân dân để đấu tranh hiệu quả hơn. Nhà nước cần phổ biến mức
độ ngguy hiểm của tội phạm nói chung – tội phạm buôn bạn phụ nữ và trẻ em nói riêng
đề người dân hiểu và ra sứ tố cáo tội phạm một cách mạnh mạnh mẽ và quyết liệt hơn.
5. Kết luận

Tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em đã và đang là vấn nạn nhức nhối của toàn
đảng, toàn dân và toàn xã hội, nó để lại hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, hệ lụy cho xã hội:
gia đình tan tác, cha mẹ mất con cái, vợ chồng lìa đôi và đặc biệt để lại vết thương xót xa
về mặt tinh thần: phụ nữ bị mất nhân phẩm, chịu đắng cay, tuổi nhục, trẻ em mất tự do,
mất đi vòng tay ấm áp yêu thương từ gia đình,…
Với việc nguyên cứu đề tài “tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em ở Việt
Nam và đề ra giải pháp phòng tránh vấn nạn này” đã làm rõ về bộ mặt tổng quan tình
hình, mức độ nguy hiểm của tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em. Để từ đó thúc đẩy
trách nhiệm vận động toàn đảng toàn dân giải quyết vấn nạn này. Qua nghiên cứu đề tài
trên nhóm mong muốn cung cấp một vấn để khẩn quan, bức xúc về tội phạm buôn bán
phụ nữ và trẻ em. Đông thơi mong muốn góp một phần vào sự vận động nhân dân trong
nước và quốc tế nên án phòng chống vấn nạn đặc biệt nghiêm trọng này, để mong lại bầu
trời tự do, bình yên, hạnh phục cho những người phụ nữ và trẻ em chưa, đã và đang trở

[18] Ban chỉ đạo chương trình 130/CP, số 380/BCA (VPTT130/CP) ngày
21/12/2005
[19] Thanh Nguyên, Báo động về tình trạng nghiện internet ở giới trẻ, Sống
khỏe.vn, 5/4/2015.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status