KỊCH NGUYỄN HUY THIỆP từ góc NHÌN THI PHÁP THỂ LOẠI - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

TRẦN THỊ HÀ

KỊCH NGUYỄN HUY THIỆP
TỪ GÓC NHÌN THI PHÁP THỂ LOẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

TRẦN THỊ HÀ

KỊCH NGUYỄN HUY THIỆP
TỪ GÓC NHÌN THI PHÁP THỂ LOẠI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2015


LỜI CẢM ƠN

nguồn gốc một cách rõ ràng.
Công trình nghiên cứu này của tôi cũng chưa được công bố trên bất cứ
phương tiện thông tin đại chúng nào.
Tôi xin cam đoan những điều trên là sự thật. Tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Người viết

Trần Thị Hà


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................ 3
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................ 6
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 7
5. Cấu trúc luận văn .......................................................................................... 7
6. Đóng góp của luận văn .................................................................................. 7
NỘI DUNG................................................................................................9
CHƢƠNG 1: NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA KỊCH NGUYỄN HUY THIỆP
CHO SÂN KHẤU KỊCH VIỆT NAM........................................................... 9
1.1. Vài nét khái quát về lịch sử phát triển nền kịch Việt Nam ....................... 9
1.2. Đóng góp của kịch Nguyễn Huy Thiệp cho nền kịch Việt Nam ............. 21
1.2.1. Nguyễn Huy Thiệp – Tài năng lao động nghệ thuật................... 21
1.2.2. Đóng góp của kịch Nguyễn Huy Thiệp ....................................... 23
CHƢƠNG 2: NHÂN VẬT KỊCH ................................................................. 24
2.1. Vài nét về nhân vật kịch ............................................................................ 24
2.2. Nhân vật trong kịch Nguyễn Huy Thiệp ................................................... 26
2.2.1. Nhân vật của cuộc sống đời thường............................................. 27
2.2.2. Nhân vật lưỡng diện ..................................................................... 32

Đọc những sáng tác của ông có thể nhìn thấy “một cõi người ta” xù xì, gân
guốc, góc cạnh, lẫn lộn giữa tốt và xấu, thật và giả, đen và trắng, cao thượng
và thấp hèn với những con người có suy nghĩ, hành động và đời sống nội tâm.
Cái thế giới ấy thể hiện một cách nhìn rất thật và sâu sắc của nhà văn về con
người. Ngay từ những sáng tác đầu tay như: Tướng về hưu, Không có vua,
Kiếm sắc, Những ngọn gió Hua Tát, Chút thoáng Xuân Hương… nhà văn
Nguyễn Huy Thiệp đã khiến giới dư luận trong và ngoài nước tốn không biết
bao nhiêu giấy mực, người khen, kẻ chê, người say đắm, kẻ hững hờ… Nhà
phê bình Phạm Xuân Nguyên còn chủ sự cả một tập “Đi tìm Nguyễn Huy
Thiệp” trong đó có rất nhiều ý kiến phê bình của nhiều tên tuổi có uy tín như
Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Đức Hiểu, Greg Lockhart, Lại Nguyên Ân… Trong
cuốn sách này tác giả Phạm Xuân Nguyên từng khẳng định: “Xưa nay tôi
chưa thấy có một nhà văn nào vừa xuất hiện đã gây được dư luận, càng viết
dư luận càng mạnh, truyện chưa ra thì người ta đã kháo nhau, truyện đăng
rồi thì gặp nhau bình phẩm, bàn tán, chốn văn phòng cũng như chốn vỉa hè,
đâu đâu cũng kháo chuyện. Văn đàn thời kì đổi mới đã thêm phần khởi sắc,
náo động càng thêm náo động bởi những cuộc tranh luận, cả tranh cãi xung
quanh sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp” [36, tr.7].
Hay tác giả Nguyễn Hữu Hồng Minh trong bài viết của mình cũng khẳng định
Nguyễn Huy Thiệp là “người trời”: “... Tôi cũng mong muỗn Nguyễn Huy
Thiệp cần phải chết đi! Bởi lẽ từ khi ông xuất hiện, văn đàn không có nhân


2
vật nào đáng kể nữa! Tôi cho rằng Thiệp là người trời. Sự có mặt của ông
trong làng văn chương hiện nay là một biến thiên của trời đất, vũ trụ, nó là
duyên nghiệp không phải muốn là được. Bởi ông viết cái gì cũng hay, cũng
quyến rũ. Cái hay của một bậc thức giả thâm thúy, thâm nho và thay mặt
thượng đế để đánh thức một phía tối nào đó trong tâm hồn chúng ta. Ông đã
rắc sáng vào vết thương, vào sự tối tăm của mê lộ, một hành trình của kiếp

Tiến sĩ Greg Lockhart, trường Đại Học Sydney cuả Autralia đã viết về
Nguyễn Huy Thiệp trục tiếp bằng tiếng Việt: “Theo tôi, đây là một tác giả có
tài năng ngang tầm với những nhà văn xuất sắc quốc tế. Vì thế tôi nghĩ rằng
tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp là một đóng góp cho văn học thế giới hiện
đại. Đây là những lí do để dịch Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng Anh” [36, tr.115].
Không chỉ hướng ngòi bút của mình vào thể loại truyện ngắn mà Nguyễn
Huy Thiệp còn thử nghiệm ngòi bút của mình ở cả thể loại tiểu thuyết, phê
bình văn học, kịch bản văn học. Nếu truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đã
đem đến một đời sống thực sự sôi động, hấp dẫn cho văn học vào những năm
80 của thế kỉ trước thì kịch bản văn học của ông lại không được độc giả chú ý
đến nhiều. Phải chăng thể loại truyện ngắn đã hút hết tinh hoa, tâm lực của
ông trước đó hay sự nổi danh của các tác phẩm của các tác giả kịch gia khác
đã làm lu mờ đi giá trị tác phẩm của ông? Câu hỏi đó đặt ra nhưng không phải
dễ để tìm thấy câu trả lời. Xuất phát từ thực tiễn trên tôi quyết định chọn đề
tài nghiên cứu: “Kịch Nguyễn Huy Thiệp từ góc nhìn thi pháp thể loại”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mỗi người cầm bút khi khẳng định mình thường không chỉ thể hiện tài năng ở
một lĩnh vực mà luôn muốn trải nghiệm, làm mới mình ở nhiều lĩnh vực khác
nhau. Và trong chặng đường sáng tác của mình khi đã đạt đến đỉnh cao ở một
thể loại họ lại tìm những mảnh đất mới ở những thể loại khác để thử sức và
khẳng định năng lực sáng tạo của mình. Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn cũng
không nằm ngoài quy luật đó.


4
Có thể nói, trong văn học thời kì đổi mới Nguyễn Huy Thiệp là một trong
những cây bút tiêu biểu nhất và có những đóng góp to lớn cho văn đàn văn
học Việt Nam.Với nhiều cách tân táo bạo và một lập trường dân chủ hóa gần
như triệt để, Nguyễn Huy Thiệp đã gây xôn xao dư luận trong một thời gian
dài. Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp trở thành mảnh đất màu mỡ hứa hẹn

nhận diện mình một cách khách quan hơn, đồng thời mở đường cho phong
cách kịch hiện đại chưa thực sự xuất hiện trong truyền thống văn học và nghệ
thuật của chúng ta: Đặt vấn đề với con người về con người qua ngôn ngữ đối
thoại, trong cái xung đột sâu xa cực độ và cực điểm của chính mình, phát sinh
từ môi trường tạo tác. Đó là bi kịch thảm thương và khốc liệt nhất trong mỗi
chúng ta và chỉ có nghệ thuật kịch trường mới và có thể phô diễn trước công
chúng một cách khách quan, minh mẫn và tàn nhẫn” [71, Internet].
Hay PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp – Viện trưởng Viện Văn học “xem “Vong
Bướm” là trò chơi nghệ thuật đầy ngẫu hứng nhưng công phu của Nguyễn
Huy Thiệp”.
Lý giải việc chuyển sang viết cả thể loại kịch bản văn học, Nguyễn Huy
Thiệp từng chia sẻ với BBC Việt Ngữ trong “Chuyến đi thăm Pháp” trên
trang Website: www:dactrung.com”: “Tôi coi nghề viết văn còn là một việc
gian khổ, phải bắt đầu như một học trò thành công trong một số truyện ngắn
của mình. Và trong bài viết gần đây, tôi cũng đã nói rằng tôi vẫn viết truyện
ngắn như một tác phẩm cổ điển không mang tính thời sự trước mắt mà người
ta có thể đọc đi, đọc lại. Một mặt khác tôi coi nó như một bài tập trongvăn
chương mà thôi, rồi chuyển sang các thể loại khác. Tôi viết kịch, tiểu luận và
cả tiểu thuyết, một phần nó tùy thuộc vào nội tâm của tôi và những vấn đề mà
tôi đặt ra nữa. Theo tôi ở xã hội Việt Nam để có thể phát triển một nền văn
học toàn diện thì đòi hỏi tất cả các nhà văn đều phải cố gắng, không chỉ
trong một thể loại mà ở tất cả các thể loại” [71, Internet].
Như vậy nói về kịch Nguyễn Huy Thiệp có thể thấy tuy hiệu quả và
sự thành công ở thể loại này vẫn chưa được như sự mong đợi nhưng sự ra đời


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu

Nguyễn Huy Thiệp (Nhà xuất bản Trẻ 2012), gồm kịch bản các vở:
Hoa sen nở ngày 29 tháng 4
Còn lại tình yêu


7
Cái chết đƣợc che đậy
Nhà Ôsin
Đến bờ bên kia
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đi sâu vào tìm hiểu về kịch của Nguyễn Huy Thiệp từ góc độ thi
pháp thể loại, tôi chủ yếu sử dụng phương pháp khảo sát, phương pháp thống
kê, phương pháp luận phân tích tác phẩm, phương pháp tiểu sử, phương pháp
xã hội học và các phương pháp liên ngành khác.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mục lục và tài liệu thảm khảo,luận văn của tôi gồm ba
phần: mở đầu, nội dung, kết luận.
Trong phần nội dung tôi tập trung vào 4 chương chính:
Chương 1: Vị trí của kịch trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy
Thiệp
Chương 2: Nhân vật kịch.
Chương 3: Kết cấu và xung đột kịch.
Chương 4: Ngôn ngữ kịch.
6. Đóng góp của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích bước đầu giúp độc giả thấy được
những đóng góp của kịch Nguyễn Huy Thiệp với sân khấu kịch Việt Nam,
đồng thời thấy được đặc điểm kịch của Nguyễn Huy Thiệp dưới góc nhìn thi
pháp thể loại.
Thực hiện luận văn này, tôi muốn đóng góp một chút công sức cho công tác
nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam đương đại về cây bút Nguyễn Huy

thành bộ phận của một cộng đồng thống nhất của thế giới.Quá trình này bắt
đầu vào cuối thế kỷ XIX và mạnh lên vào đầu thế kỷ XX, được đánh dấu bởi
cao trào yêu nước, và mặt khác là phong trào vì văn hóa mới mà sau này biến
thành công cuộc hiện đại hóa văn hóa.
Nền văn hóa và nghệ thuật mới trong nước Việt Nam thuộc địa đã nảy sinh và
phát triển tích cực nhờ có nhu cầu của giai cấp tư sản, giới trí thức thanh niên,
học sinh và sinh viên, những thợ thủ công tức là những tầng lớp xã hội và giai
cấp hình thành trong những thành phố vào thời ấy.
Trước thế kỉ XX, nghệ thuật sân khấu Việt Nam tồn tại được với hai thể loại
sân khấu âm nhạc truyền thống là tuồng và chèo. Tuy nhiên vào thời kì đó đã
bắt đầu quá trình cải cách để thích ứng với điều kiện xã hội nửa phong kiến và
thuộc địa. Chính thời kì này ở Việt Nam đã xuất hiện những thể loại sân khấu
mới là cải lương và kịch nói. Sự ra đời của sân khấu kịch nói xuất phát từ
mong muốn giới thiệu sân khấu phương Tây với khán giả Việt Nam của các
nghệ sĩ.Trong bối cảnh nền văn hóa cũ không còn được chấp nhận, tính chất
biệt lập lịch sử của truyền thống Việt Nam bị phá vỡ thì sự hội nhập với nền
văn hóa thế giới đã tạo ra cơ sở để thay thế những thể loại văn học, để xây


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
10
dựng một nền văn hóa phục hưng, độc lập mà bộ phận quan trọng của nó là
kịch nói.
Kịch nói là loại hình sân khấu trình bày bằng hành động và đối thoại của các

tình cảm, không thể hiện được những vẫn đề về tâm lý, đạo đức và thói quen
thưởng thức của người nông dân vùng nông thôn. Khi chưa có kịch nói,người
nông dân ở vùng nông thôn cũng như các trí thức, quan lại phong kiến ở cung
đình và các tầng lớp kẻ chợ chỉ biết có tuồng, chèo, cùng xem một loại hình
nghệ thuật như nhau. Đến thời kì này, xã hội đã tạo ra thế đối lập giữa văn
minh đô thị và văn mình vùng nông thôn. Kịch nói trở thành nhu cầu riêng,
món ăn riêng, thỏa mãn “gu” thưởng thức riêng của người thành thị. Một lớp
công chúng mới, nam mặc comple, nữ mặc áo tân thời đến nhà hát xem kịch
bên cạnh những bà đầm, những me Tây, những sân khấu tráng lệ, ánh đèn rực
rỡ. Trong khi đó vùng nông thôn vào những tháng ngày nông nhàn, những
buổi tiệc tùng đình đám, nỗi đam mê vẫn là những pho Tuồng đồ như : Sơn
hậu, Tam nữ đồ vương, Phụng Nghi Đình…, những vở Tuồng đồ như
Nghêu, Sò, Ốc, Hến; Trương Đồ Nhục…, những tích chèo thâu đêm suốt
sáng như Quan âm Thị Kính, Trương Viên, Lưu Bình Dương Lễ… Khán
giả trung thành vẫn là những người răng đen hạt huyền, áo nâu chân đất,
những trai tráng lực điền, những nàng “môi cắn chỉ” và cả những người “ăn
no rồi lại nằm khoèo, nghe tiếng trống chèo bế bụng đi xem”.Trong khi đó,
kịch nói đã từng bước từ thú chơi tài tử của những trí thức tân học dần trở
thành một bộ môn kịch nghệ thuật thu hút cả những nghệ sĩ, những nhà văn
có tên tuổi, chiếm lĩnh số đông khán giả thành thị, tạo thiết cả một phong trào
làm thay đổi hẳn tập quán thưởng thức, mang đến cho đời sống đô thị sinh
hoạt văn hóa nghệ thuật mới. Trong tương quan này, kịch nói nhân danh cái
mới, đại diện cho những lực lượng mới. Sự ra đời của nó là một bước đi của
đô thị so với vùng nông thôn trong tiến trình Âu hóa cũng như trong tiến trình
hiện đại hóa.


Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai

các vở bi kịch cổ điển Pháp để đưa lên sân khấu tuồng. Thời kì này người ta
thường hay nhắc đến các vở tuồng như: Tây Nam đắc bằng(1916), và Tượng
kì khí xa của Hoàng Cao Khải; Đông A Song phụng(1916) của Hoàng Tăng


13
Bí. Đó là những vở tuồng viết theo lối tuồng cổ nhưng khác ở chỗ đã có sự
phân chia thành từng cảnh và sân khấu được bài trí theo kiểu sân khấu Pháp.
Song, ngay cả điều đó vẫn không mở cho tuồng một triển vọng khả quan
trước những thay đổi xô bồ của hiện thực.
Trên lĩnh vực chèo cũng diễn ra tình trạng tương tự. Suốt nhiều năm trong
lịch sử, âm nhạc, và các làn điệu, trình thức, điệu thức của chèo từng hấp dẫn
bao nhiêu thế hệ công chúng. Vậy mà vào thời kì này, chèo dường như cũng
trễ nải, phờ phạc trước làn sóng Âu hóa và trước sức tấn công vô cùng mạnh
mẽ của các loại hình nghệ thuật khác.Từ năm 1907 trở đi “Chèo văn minh”
được khởi xướng bằng một số cải cách về lớp lang, phông cảnh và phục trang
sân khấu. Năm 1914, Hội Sán Nhiên thành lập Sán Nhiên đài. Lần đầu tiên, từ
sàn diễn sân đình, chèo được đưa lên sân khấu. Cấu trúc vở diễn được chỉnh
lý, sắp xếp lại. Yếu tố thời gian và không gian vốn ước lệ trong chèo cổ đã
được xác định rõ hơn. Nhưng rút cục, những thay đổi theo hướng “văn minh”
đó vẫn chưa giành được sự mến mộ của công chúng thị dân, của các bà, các
cô, các cậu đang háo hức quay cuồng trong nhịp sống, nhịp yêu đương mới.
Nhất là từ những năm hai mươi trở đi, khi nghệ thuật cải lương ở các tỉnh
miền Nam du nhập ra Bắc thì “Chèo văn minh” lại càng thưa thớt, vắng
khách.Trước nguy cơ đó, nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghị (1883-1954) lại cải tiến
chèo và lấy tên là “Chèo cải lương. Với loại chèo này, ông và các đồng sự
chủ trương chỉ giữ lại những đặc trưng cơ bản nhất của chèo cổ, tước bỏ
những yếu tố lai tạp từ tuồng, bổ sung, dung nạp những hình thức diễn xướng
và các làn điệu dân ca chủ yếu trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, khai thác triệt
để yếu tố hài trong chèo cổ, phát triển lên thành những màn diễn độc lập.

nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Hơn hẳn các loại hình nghệ thuật truyền thống,
kịch có khả năng đáp ứng nhu cầu mỹ cảm không chỉ của tầng lớp trí thức
Tây học mà còn của đại đa số công chúng đô thị, từ người bình dân đến các
tầng lớp công chức ăn lương, nhất là học sinh, sinh viên. Với những lợi thế
của mình, kịch thể hiện được những vấn đề gay cấn, bức bối, những xung đột
đạo đức, tâm lý đầy kịch tính trên bình diện gia đình và xã hội.
Trong khi giải quyết những xung đột của đời sống tâm lý xã hội, kịch cho
thấy mặt trái của quá trình Âu hóa, của lối sống tư sản, vừa cho thấy những
cản trở của tâm lý, đạo đức cũ trên con đường tiến hóa. Về mặt ngôn ngữ,
kịch nói sử dụng chữ Quốc ngữ, văn chương trong sáng, giản dị, gần với khẩu
ngữ thông dụng hàng ngày. Vì vậy,nó được công chúng mới tiếp nhận như
một “mốt” nghệ thuật thời thượng.


15
Dẫn đến sự ra đời của kịch, ngoài nhu cầu khách quan trên đây còn phải kể
đến hoạt động báo chí và hoạt động dịch thuật của các trí thức Tây học. Cùng
với việc Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh dịch, đăng các vở hài kịch và bi
kịch của Molie, Cooc – nây, Marrivo như: Người bệnh tưởng, Trưởng giả
học làmsang, Người biển lận, Lôi xích, Hòa Lạc, Chàng ngốc hóa khôn vì
tình…trên các báo : Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí… người pháp
đã hoàn thành việc xây dựng ở các thành phố lớn các nhà hát kiểu Tây phục
vụ cho việc diễn Kịch. Có thể nói, hoạt động báo chí và nhà hát những thập
niên đầu thế kỉ là bà đỡ mát tay cho sự sinh thành của kịch nói, là tiền đề vật
chất nuôi dưỡng nó.
Sau sự hiện diện của các vở kịch trên Đông Dương tạp chí, ngày 25/4/1920,
tại sân khấu Nhà hát lớn thành phố Hà Nội, Hội khai trí Tiến Đức đã lần đầu
tiên mở màn cho một vở kịch nói trình diễn trước khán giả Hà Nội bằng vở
kịch Người bệnh tưởng của Molie. Mặc dù là một vở kịch dịch và phần đông
khán giả là người Pháp, nhưng sự kiện này đã thôi thúc những người tâm

thời cho kịch nói cũng như sân khấu âm nhạc,đó là Vũ Đình Long, Nguyễn
Hữu Kim và những tác giả khác.Phạm vi hoạt động của các nhóm kịch nói
vào thời kỳ này rất hạn chế. Phong trào kịch nói chủ yếu tập trung ở hai thành
phố chính của miền Bắc Việt Nam là Hà Nội và Hải Phòng, sau đó có thể kể
tới những tỉnh lỵ như Thanh Hoá, Nam Định… Còn ở miền Nam, trên thực tế
kịch nói không phát triển nhiều.Vào thời kỳ đó, công chúng thích xem nhiều
nhất những vở kịch của các tác giả như: Vũ Đình Long (Tây sương tấn Kịch,
Toà án lương tâm), Nguyễn Hữu Kim (Bạn và vợ, Một người thừa, Toàán
âm phủ), Vi Huyền Đắc (Uyên ương, Hoàng Mộng Điệp, Hai tối hôn
nhân), Nam Xương (Chàng ngốc,Ông Tây An Nam), Tương Huyền (Nặng
nghĩa tớ thầy)… Vào cuối những năm 1920, phong trào kịch nói phát triển ồ
ạt, nhiều nhóm và ban kịch (kể cả không chuyên nghiệp) đã được thành lập.
Từ 1930 – 1945 kịch nói phát triển trong điều kiện hình thành bối cảnh văn
hoá, gắn với cải cách kịch nói và sự trưởng thành của văn học kịch dân tộc ở
Việt Nam. Chính phong trào sân khấu trong nước đã thúc đẩy sự phát triển
của nền văn học kịch. Quá trình này tiếp diễn trong vòng 15 năm, và trên thực
tế sự hình thành của nền văn học kịch Việt Nam nói chung trùng hợp với
những khuynh hướng phát triển của nền văn học mới và đương đại trong
nước. trong khi đó phải nhấn mạnh rằng không phải những tác phẩm kiệt tác
của sân khấu cổ điển phương Tây, mà chính là những vở kịch bình thường về
đề tài xã hội của các tác giả Việt Nam đã tạo nên một bước ngoặt và cải cách


17
thực sự trong lĩnh vực sân khấu dân tộc. Vào thời điểm ấy, trong nền văn hoá
dân tộc Việt Nam đã có những biến đổi quan trọng như sau:
- Một hệ thống hiện đại của thể loại văn và thơ bắt đầu hình thành trong nền
văn học.
- Một khuynh hướng mô tả hiện thực cuộc đời của những người thực tế, đã
phổ biến rộng rãi.

Đoàn Phú Tứ (Mơ hoa, Cuối mùa).
Những xu hướng cách tân trong sân khấu kịch nói trước hết thể hiện trong
hoạt động sáng tác của nhóm Tinh hoa và những vở kịch của nhà soạn kịch
Đoàn Phú Tứ.
Vào thời điểm ấy ở Việt Nam xuất hiện kịch thơ. Đây là một hiện tượng mới
trong sân khấu dân tộc. Người khởi xướng thể loại mới này là nhà thơ Huy
Thông. Ông coi lịch sử và nhân vật lịch sử là nguồn cảm hứng để sáng tác.
Huy Thông là tác giả những tác phẩm nổi tiếng như Anh Nga ,Tiếng địch
sông Ô, Tần Hồng Châu, Kinh Kha, Lòng hối hận.
Hai nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp và Hàn Mặc Tử cũng sáng tác kịch thơ.
Trong những năm đại chiến thứ II, các tác giả Việt Nam đã soạn nhiều vở
kịch về đề tài lịch sử: Phan Khắc Khoang (Trần Can, Lý Chiêu Hoàng), Vũ
Hoàng Chương (Vân Muội, Trương Chi), Vi Huyền Đắc (Kinh Kha), Thao
Thao (Quán biên thuỳ, Duy tân), Nguyễn Huy Tưởng (Vũ Như Tô)…
Dần dần, ngoài những nhà soạn kịch chuyên nghiệp, nhiều nhà văn, nhà thơ,
tác giả trẻ tuổi (sinh viên, trí thức) cũng bị cuốn vào quá trình sáng tác kịch
nói.
Sân khấu kịch nói từng bước một biến thành một bộ phận của quá trình văn
học chung ở Việt Nam, còn bản thân kịch nói đã trải qua những giai đoạn
nhất định trong sự phát triển tư tưởng và nghệ thuật của nó.
Nếu trong những năm 1920 kịch nói đề cập đến những vấn đề có tính chất xã
hội lớn (bảo vệ đạo lý cũ, thoát ly lễ giáo phong kiến, phê phán xã hội đương
đại), thì giai đoạn tiếp theo trong quá trình phát triển của mình (những năm
1930 – 1945), kịch nói về đại thể trùng hợp với hoàn cảnh văn học chung
trong nước, tức là bao gồm đồng thời ba khuynh hướng: lãng mạn, hiện thực


19
phê phán, yêu nước – cách mạng. Trong khi đó, một số tác giả cùng một lúc
thuộc về các khuynh hướng khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status