1
M C L C
Trang
M U
1. t vn .
2. Nhim v nghiờn cu.
PHN I : TNG QUAN
1.1. c im thc vt trong cõy h cỳc (Asteraceae).
1.2. Thc vt h chi Artemisia L.
1.3. Thnh phn húa hc ca nhng thc vt chi Artemisia L
1.3. 1. Tinh du.
1.3. 2. Secquitecpenoit.
1.3.2.1. Germacranolit.
1.3.2.2. Eudesmanolit.
1.3.2.3 Guaianolit .
1.3. 3. Cỏc hp cht axetylen.
1.3. 4. Cumarin.
1.3. 5. Flavonoit.
1.4 . Cây ngải cứu
1.4.1. Đặc điểm thực vật học
1.4.2. Thành phần hóa học
2
PHẦN II :
THỰC NGHIỆM
2.1.Hoá chất - dụng cụ - thiết bị máy móc
2.1.1.Hoá chất .
thực vật phong phú và đa dạng , đặc biệt là cây cho tinh dầu.
Theo c tớnh ca cỏc nh thc vt hc, Vit Nam cú khong 12.000
loi cõy trong ú khong 3.200 loi c s dng lm thuc v 600 loi cõy
cho tinh du (phõn b trong 244 h thc vt) nhng cha c iu tra v
4
nghiên cứu một cách có hệ thống về thành phần hóa học cũng như dược lý.
Chúng ta đều biết hệ thực vật của mỗi quốc gia được coi như là một trong
những nguồn tài nguyên quý giá. Khác với tài nguyên hóa thạch (các loại
quặng, khoáng vật, dầu mỏ, khí đốt . . . ), giá trị vô tận của tài nguyên sinh học
là ở chỗ nó có thể tái tạo (tái sinh) được, biết bảo vệ và sử dụng hợp lý tài
nguyên này thì nó sẽ không bị cạn kiệt, mà trái lại nó sẽ có khả năng làm phong
phú thêm về lượng và chất đểđáp ứng nhu cầu đời sống của con người. Tuy
vậy ở nước ta hiện nay diện tích rừng tự nhiên (nguyên sinh) bị suy giảm,
nguồn tài nguyên thực vật đang đứng trước nguy cơ bị suy giảm nghiêm trọng
về số lượng và loài, trong đó có nhiều cây thuốc.
Trong hệ thực vật Việt Nam, các cây họ Cúc rất phong phú và đa dạng
với 336 loài trong đó có 96 loài được dùng làm thuốc chữa bệnh nên được rÊt
nhiều người quan tâm.
Cây Ngải cứu (Artemisia vulgaris.L) thuộc họ Cúc, mọc hoang ở nhiều
nơi trong nước ta, ngoài ra còn thấy mọc ở nhiều nước khác ở châu Á, ch©u Âu
Ở Nghệ An c©y Ngải cứu mọc hoang ở các nơi đất hơi ẩm ướt, ven
đường, bãi hoang hoặc được trồng xung quanh nhà. Nhưng cho đến nay thành
phần hóa học của tinh dầu cây ngải cứu chưa được nghiên cứu cụ thể. Vì vậy để
5
góp phần vào việc nghiên cứu tinh dầu ngải cứu chúng tôi chọn đềtài: "Nghiên
khác nhau. Theo De Candolle chi này được chia thành 4 phân chi (chi nhỏ
hơn)là: Abrotanum, Absinthium, Seriphidium và Dracunculus. Tuy nhiên thời
gian gần đây có người cho rằng chỉ có 2 phân chi là Dracunculus và Artemisia
(với phân chi Artemisia bao gồm 3 phân chi trước đây:Abrotanum, Absinthium,
Seriphidium). Một cách chia khác xuất phát từ đề nghị của Rydbergn chuyển
các phân chi của De Candolle thành các chi nhá và thêm vào một chi mới:
Tridentatae được tách ra từ một phần của dòng Seriphidium. Đến bây giờ việc
phân loại cũng chưa được thống nhất.Đểphân loại thực vật chi Artemisia một
cách rõ ràng ,ta cần dựa vào thành phần hóa học của chi này.
Sau đây là một số loài cây thuộc chi Artemisia có ở Việt Nam đã, đang
và cần được nghiên cứu gồm :
1. A. absinthium L. (Ngải đắng)
2. A. annua L. (Thanh cao hoa vàng).
3. A. apiacca
9
4. A. carvifolia Wall (Thanh hao)
5. A. capillaris Thumb
6. A. vulgaris L. (Ngải cứu).
7. A. vulgaris L. var vulgatissima Bess. (Ngải dại).
1.3.Thành phần hóa học của những thực vật chi Artemisia.
[15],[16],[17],[18]
Trong số những loài thuộc chi Artemisia được nghiên cứu về thành phần
hóa học đã phát hiện nhiều loại chất khác nhau, nhưng các hợp chất
secquitecpen lacton được coi là đặc trưng cho các thực vật của chi này. Ngoài
ra tinh dầu, hợp chất phenolic, đặc biệt là flavonoit, cumarin và các dẫn xuất
axêtylen cũng rất phổ biến trong chi Artemisia.
camphe
1,78
artemisia alcohol
2,67
sabinen
1,1
terpinen-4-ol
2,27
ß-pinen
0,44
geranyl axetat
1,01
ß-myrcen
4,38
α -cubeben
ß-cubeben
5,59
α -cadinen
0,63
*A. vulgaris var Indica( W illd) maxim chứa 0, 2% tinh dầu với
thành phần hóa học chính là: ß-caryophylen (24,1%), ß-cubeben(12%) (thành
phần chính), butylfuran, α - pinen, camphen, 1-octen-3-ol, ß-pinen, myrxen, α phelandren, α-tecpinen, ß-xymen, 1,8 - xineol, 2-metyl-2-octen-4-on,
tecpinolen, linalol, campho, trans-pinocarveol, carvon, bocnyl axetat, geranyl
format, α - elemen, α -copaen, ß-elemen, α - humulen, α - muurolen, γ -
12
elemen, γ - muurolen, β -farnesen, α - cadinen, calamen, β - cadinen, nerolidol,
spathulenol, caryophylen oxit, α - và δ - cadinol…
1.3. 2. Secquitecpenoit.
Trong chi Artemisia thì secquitecpen nhiều và đa dạng hơn so với
monotecpen trong đó secquitecpen lacton có một vai trò quan trọng.
Trong tất cả các tecpenoit thì secquitecpenoit có nhiều loại khung cacbon
nhất (200 khung), nhưng số lượng khung cacbon thuộc loại secquitecpen thì
không nhiều trong đó chủ yếu là bốn khung cacbon sau đây: germacran ( I),
eudesman(II), guaian(III) và pseudo-guaian (IV).
13
(I)
- Germacrolit(1E,4E)
(A)
- Melampolit (1Z, 4E)
(B)
- Heliangolit (1E, 4Z)
(C)
- cis, cis - Germacrodienolit (1Z, 4Z)
(D)
Một cấu trúc khác có thể là đồng phân liên kết đôi của (B).
(E)
Những cấu trúc trans – 12, 6 – lacton sau ®©y là trường hợp đúng cho 57
trong số 64 germacrenolit của chi Artemisia.
Axit germacran chưa được tìm thấy trong chi này.
(A)
(B)
(C)
(5)
Germacran-12,
(6)
8-olit
cũng
6α
được tìm thấy trong số loài của chi
A ,nhưng không đa dạng bằng trans-12, 6-lacton . Tất cả chúng đều có 1 nhóm
-hydroxyl.
Thí dụ: argentiolit (7) và spiciformin (8) .
17
(7)
(8)
1.3.2.2. Eudesmanolit
Khung Eudesman được chuẩn hoá trực tiếp từ khung Germacran bằng cách
tạo vòng olephin vì khung eudesmanolit chứa 2 vòng nên không có khả năng
tạo đồng phân hình học ở vị trí liên kết đôi, nó có thể có đồng phân lập thể
(quang học) tại nguyên tử C-4, C-8 và C-11. Hai dạng của vòng lacton đều thấy
xuất hiện tương ứng với eudesman - 12, 6-olit (F) và eudesman-12, 8 - olit
(G).
-12, 8-olit (I) (4 chất)
(H)
(I)
với 125 guaianolit được phát hiện trong chi Artemisia hầu hết chúng là trans12, 6 - lacton, chỉ có 4 guaian -12, 8-olit. Guaianolit phổ biến trong tất cả các
cây của chi Artemisia (Trừ những cây thuộc phân chi Seriphidium).
Xét về cấu trúc thì Guaianolit trong Artemisia không có nhiều đặc điểm
đặc biệt , đáng chú ý nhất là andalucin (14) và cloroklotzchin (15) được tách
từ A. klotzchiana bởi vì chúng là 2 halogenlacton duy nhất được tìm thấy trong
chi này.
20
(14)
(15)
Một trường hợp đặc biệt khác của khung guaian là những chất đimeguaianolit đó là với những hợp chất chứa C 30 được tạo thành do sự đime hoá
của 2 phân tử guaianolit .Với 12 chất đã được tách ra từ 4 loài, trong đó có
nhiều chất trong A. absinthium và A. sieversiana. Thí dụ: absinthin (16).
(16)
Ngoài ra còn có 2 chất dime - guaianolit được sinh ra từ 2 loài A.
anomala và A. leucodes. Phản ứng liên kết 2 phân tử guaian thường và phản
ứng Đinxơ-Anđơ (Diels-Alder)
1. 3. 3. Các hợp chất axetylen .
H3CO
HO
O
19
O
CH3
GlcO
O
20
O
22
scopolin(20 ) có thể được tìm thấy ở nhiều họ thực vật, thì đặc trưng nhất đó là
những cumarin – tecpen ete
Thí dụ: laccinartin(21) và artanin(22 ) trong đó phần tecpen là iso propenyl
(cumarin-hemitecpen ete). Các cumarin khác có gốc secquitecpen không vòng
hoặc một vòng như scopofarnol ( 23), tripartol (24).
OCH3
O
O
O CH
3
H
O
OCH
3
HO
23
24
Những loại cumarin-tecpen ete này thường xuất hiện chỉ ở một số loài
trong chi Artemisa .Các cumarin-secquitecpen ete lại có trong rễ của cây
23
A. abrotanum .Trong số 49 cumarin đã được tìm ra có hai chất có cấu tạo tương
đối khác so với cấu trúc chung của các coumarin, đó là pimpinellin (25) và
dihydro cumarin (26 ) ®îc tách từ A. compacta.§©y lµ c¸c iso cumarin.
Isocumarin có cấu trúc giống cumarin nhưng nguồn gốc sinh vật lại hoàn
toàn khác. Cumarin thường bắt nguồn từ axit sikinic (C 7H10O5) còn iso cumarin
lại thường bắt nguồn từ poli keticle, ngoài ra có một vài iso cumarin có nguồn
gốc từ sự đóng vòng của poli axetylen.
1. 3. 5. Flavonoit.
Flavonoit là một chỉ tiêu phân loại rất tốt trong tông Anthemideae. Các
flavon apigenin, luteolin và các dẫn xuất của chúng là những hợp chất phổ biến
rộng rãi nhất trong tông này, nhưng các flavonoit isorhamnetin, kaempferol
OCH3
(27)
(26)
Những dẫn xuất flavon và flavonol rất phổ biến trong chi này và thường tồn tại
dưới dạng liên kết glycozit. Ví dụ: isoetin 5’-glucozit ( 29 ). Trong các hợp chất
OH
H CO
3
OGlc
OH
O
OH
O
HO
OH
OH O
(28)
OH O
(29)
Theo Đỗ Tất Lợi, cây Ngải cứu cha đợc nghiên cứu cụ thể, chỉ biết trong ngải
cứu có tinh dầu và tanin. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là 1,8 xineol và