-1-
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA HÓA
NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH VÀ XÁC ĐỊNH THÀNH
PHẦN HÓA HỌC TRONG DỊCH CHIẾT CÂY RAU MÁ
HUYỆN HÒA VANG – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC
GVHD: ThS Võ Kim Thành
SVTH : Hồ Thị Thu Trang
Lớp : 08CHD
-2-
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ xa xưa, trong quá trình đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật, để bảo vệ cuộc
sống, con người đã biết sử dụng nguồn thực vật và cả động vật làm các bài thuốc chữa
bệnh có giá trị.
Ngày nay, việc dùng các loại thuốc có nguồn gốc thiên nhiên ngày càng được ưa
rau má huyn Hòa Vang Thành ph ng.
2. Mục đích nghiên cứu
Xác định một số chỉ tiêu hóa lý của rau má.
Khảo sát một số điều kiện chiết tách thích hợp.
Xác định thành phần hóa học, công thức cấu tạo của một số cấu tử chính trong
dịch chiết rau má.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tƣợng nghiên cứu
Cây rau má thu hái vào buổi sáng sớm tháng 3 tại huyện Hòa Vang – Thành phố
Đà Nẵng.
b. Phạm vi nghiên cứu
Cây rau má được trồng và thu hái tại Đà Nẵng
Nguyên liệu rau má tươi và khô
-4-
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
a. Nghiên cứu lý thuyết
Thu thập, tổng hợp các tài liệu, tư liệu, sách báo trong và ngoài nước có liên quan
đến đề tài.
Trao đổi kinh nghiệm với các chuyên gia, thầy cô giáo và đồng nghiệp.
b. Phƣơng pháp thực nghiệm
Phương pháp hóa học xác định một số chỉ số hóa lý của nguyên liệu.
Phương pháp vật lý: quang phổ hấp thụ phân tử để khảo sát điều kiện chiết, sắc ký
khí ghép khối phổ GC – MS xác định một số cấu tử chính trong dịch chiết.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
a. Ý nghĩa khoa học
Cung cấp những thông tin khoa học về điều kiện chiết tách, xác định thành phần
hóa học của dịch chiết rau má ở Đà Nẵng.
Cung cấp những thông tin, tư liệu làm cơ sở cho việc nghiên cứu sau này.
b. Ý nghĩa thực tiễn
soát sinh đẻ. Nổi tiếng nhất trong số loài cây dùng cho việc này là loài Thì là khổng lồ đã
tuyệt chủng: A ngụy (chi Ferula hay cụ thể là loài Ferula tingitana).
Một số loại cây đáng chú ý của Họ Hoa tán:
Anethum graveolens - thì là
Anthriscus cerefolium - hồi cần
Chi Angelica - bạch chỉ
Apium graveolens - cần tây
Carum carvi - ca rum
Centella asiatica - rau má
Conium maculatum - độc cần
Foeniculum vulgare - tiểu hồi
hương
Cuminum cyminum - thì là Ai Cập
Daucus carota - cà rốt
Eryngium - chi nhựa ruồi biển
Myrrhis odorata - điềm một dược
Pastinaca sativa - củ cải vàng
Petroselinum crispum - mùi tây
Coriandrum sativum - mùi Tàu
Pimpinella anisum - tiểu hồi cần
Levisticum officinale - cây cần núi
-6-
1.2. Tổng quan về cây rau má
Rau má là loại rau dại mọc tương đối phổ biến ở các vùng đất nhiệt đới đặc biệt là
ở Châu Á. Nó được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: Tích tuyết thảo (Trung
Quốc), Phanok (Lào), Trachiek – Kranh (Campuchia), Gotu – Kola (Sri Lanka), Pegagan
(Indonesia), Takip – Kohol (Philippine), Bua – Bok (Thái Lan)…
/ lứa. Mỗi năm có thể thu hoạch 7 –
10 lứa.
1.2.3. Đặc điểm hình thái
Thân rau má gầy và nhẵn, thuộc loại thân bò lan, màu xanh lục hay lục ánh đỏ, có
rễ ở các mấu. Nó có các lá hình thận, khía tai bèo rộng 2 – 5 cm, màu xanh với cuống dài
và phần đỉnh lá tròn, kết cấu trơn nhẵn với các gân lá dạng lưới hình chân vịt. Các lá mọc
ra từ cuống dài khoảng 5 – 20 cm. Bộ rễ bao gồm các thân rễ, mọc thẳng đứng có màu
trắng kem và được che phủ bằng các lông tơ ở rễ
Hoa rau má có màu từ ánh hồng tới đỏ, mọc thành các tán nhỏ, tròn gần mặt đất.
Mỗi hoa được bao phủ một phần trong 2 lá bắc màu xanh. Các hoa lưỡng tính này khá
nhỏ (nhỏ hơn 3mm), với 5 – 6 thùy tràng hoa. Hoa có 5 nhị và 2 vòi nhụy, quả có hình
Hình 1.5. Cây rau má
-8-
mắt lưới dày đặc. Quả của nó chín sau 3 tháng. Toàn bộ cây, bao gồm cả rễ thường được
thu hái thủ công.
1.2.4. Một số loại rau má
a. Rau má lá sen
Tên khoa học: Hydrocotyle bonariensis
Mô tả
Rau má thân mọc bò, có rễ ở mấu.
Lá mọc so le hoặc tụ tập nhiều lá trên
mấu, lá hơi tròn, có khía tai bèo, rộng 2-
3cm, cuống dài 3-5cm, phiến lá xanh,
toàn cây khi tươi có mùi hăng, vị đắng.
Lá đài nhọn có màu lục, ra hoa từ đầu
mùa xuân đến mùa thu.
Quả hình bầu dục, dày 1,5- 2mm,
rộng 2,5- 3 mm, đáy và đỉnh có khía
sống lưng và phần bên gân nổi rõ.
tròn hay khía tai bèo, cuống lá dài, hơi có
lông, lá kèm mỏng, hình tròn hay hình trái
xoan.
Cụm hoa ở nách đối diện với lá, thường đơn độc to hơn lá, cuống tán dài hơn cuống
lá, nhẵn hay có lông dài, cuống hoa ngắn. Bao chung có lá bắc nhỏ hình trái xoan, khi
nguyên mang khía răng ở gốc, quả khi chín hình tròn, có màu đen, mang vòi ngắn.
Phân bố và sinh thái
Cây mọc trên đất ẩm, gần khe suối trong rừng, núi cao. Ra hoa vào mùa thu. Ở nước
ta thường gặp ở Cao Bằng, Sơn La, Hòa Bình vào đến KonTum.
1.2.5. Thành phần hóa học
Một số nghiên cứu cho thấy thành phần hóa học của rau má rất phong phú (bảng
1.1). Ngoài ra rau má còn chứa Sterol, Saponin, Flavonol, Saccharide, Magnesium,
Hình 1.8. Rau má dại
-10-
Manganese, Potassium, Zinc, các loại vitamin B
2
, B
3
, B
6
và K. Tùy theo khu vực trồng
hoặc mùa vụ thu hoạch mà tỉ lệ các hoạt chất trong rau má có thể sai khác nhau.
Toàn bộ cây rau má đều chứa tinh dầu, dầu béo. Chất béo chủ yếu là Glyceride của
các loại acid: Oleic, Linoleic, Lignoceric, Palmitic và Stearic. Trong rau má còn chứa
một lượng Alkaloid Hydrocotylin, chất đắng Vellarin và đặc biệt là Glycoside
Asiaticoside. Lượng Asiaticoside này khi thủy phân cho Asiatic acid và Glucose,
Rhamnose. Hàm lượng Asiaticoside trong mô rau má theo từng bộ phận khác nhau sẽ
chiếm tỷ lệ khác nhau.
Trong thành phần hóa học của cây rau má, nhóm Saponin hay còn gọi là
Asiaticoside kích thích hệ reticuloendothelial nên sức miễn nhiễm của cơ thể được
mạnh hơn. Asiaticoside giúp tế bào da chống oxy hóa, phát triển mô liên kết, nên làm
mạnh tế bào da, mô da căng trẻ và giúp cho vết mổ, vết loét mau lành.
Trong kết quả nghiên cứu của Boiteau và cộng sự (2001), tác dụng của
Asiaticoside được tìm thấy đó là tiềm năng làm giảm trầm cảm ở chuột. Những thử
nghiệm được tiến hành trên chuột và những kết quả cho thấy rằng Asiaticoside có thể có
hoạt động giống như chất chống trầm cảm, giúp chuột hoạt động, nhận và xử lý thông tin
nhanh hơn.
Nghiên cứu của Mahato (2000) và cộng sự đã thí nghiệm tác dụng của
Asiaticoside trên chứng bệnh sưng phù và viêm khớp. Asiaticoside có trong dịch chiết đã
làm giảm bớt bàn chân phình của chuột thử nghiệm. Kiểm tra hoạt dịch tại điểm viêm
khớp trên chân chuột cho thấy sự thoái hóa sụn khớp do sự tăng sản sinh những tế bào
viêm ở chuột được ức chế bởi Asiaticoside. Cơ chế tích cực của Asiaticoside cố thể liên
quan đến việc ngăn chặn sự tăng nhanh của bạch cầu.
Một thành phần khác không kém phần quan trọng trong tác dụng sinh học của rau
má chính là Madecassoside. Hoạt chất này cũng là một loại triterpene glycoside chiếm
phần lớn trong rau má, có tác dụng chữa lành vết thương và ngăn ngừa hình thành sẹo lồi.
Một nghiên cứu khoa học ở Trung Quốc cho thấy cơ chế tác dụng của Madecassoside
-12-
liên quan chặt chẽ đến việc ức chế sự gia tăng quá mức của các nguyên bào sợi da và làm
chết các tế bào nguyên sợi sẹo lồi.
Trong các nghiên cứu lâm sàng, Madecassoside đã chứng minh cho da cũng như các
đặc tính chống lão hóa trên da. Nó nghĩ rằng nó làm việc theo nhiều cách bao gồm:
Kiểm soát tình trạng viêm
Kích thích tổng hợp collagen I và III
Giảm hoạt động của các enzym (ma trận Metallo protein MMP) đóng góp vào sự
phân hủy của ma trận của da hoặc khung
Collagen là một trong các thành phần chính của lớp hạ bì da. Collagen tôi đóng một
vai trò quan trọng trong việc chữa lành vết thương và Collagen III được sản xuất bởi các
3,70
6
Vitamin B
1
mg%
0,15
7
Calcium
mg%
2,29
8
Phosphorus
mg%
2,00
9
Iron
mg%
3,10
10
β – carotene
mg%
1,30 -13-
1.2.6. Tác dụng dƣợc lý và công dụng của rau má
Trong dân gian, rau má được sử dụng tương đối phổ biến: dùng cả lá và dây tươi
giã nát, xay lấy nước cốt để uống hoặc nấu chín làm rau trong bữa ăn hằng ngày…. Ngoài
sống được thoải mái trong một môi trường lành mạnh. Khám phá quan trọng này mang
lại giải thưởng Nobel về Y năm 1998 cho 3 giáo sư Hoa Kỳ R. Furchgott, L. Ignarro và
F. Murad.
Trong tuần hoàn huyết, những hoạt chất của rau má có tác dụng cải thiện vi tuần
hoàn ở các tĩnh mạch, mao mạch, bảo vệ lớp áo trong của thành mạch và làm gia tăng
tính đàn hồi của mạch máu. Do đó rau má cũng thường được dùng trong các chứng tăng
áp lực tĩnh mạch ở các chi dưới. Trong thực tế người ta thường uống dịch rau má để trị
các bệnh về tĩnh mạch như sa tĩnh mạch hoặc sưng phù ở chân.
Nhiều nghiên cứu cho thấy các hoạt chất nằm ở trong chất xơ (Cellulose) của rau
má, nếu chúng ta chỉ giã vắt lấy nước, bỏ phần bã thì sẽ mất đi các hoạt chất này. Một số
công trình khác còn cho thấy các chất xơ có thể “kéo” Cholesterol ra khỏi cơ thể nên
cũng có tác dụng rất tốt với tim mạch, vì vậy nếu ăn các loại rau có nhiều chất xơ sẽ giúp
cơ thể đào thải dần lượng Cholesterol ra khỏi cơ thể.
Đối với da
Cơ chế và bằng chứng lâm sàng về việc kích thích sự tổng hợp collagen, thúc đẩy
sự hình thành tế bào da, giúp nhanh liền vết thương đã được nhiều tác giả đề cập.
Do tác dụng vào tuần hoàn và làm tế bào da vững mạnh nên rau má cũng được
ứng dụng làm kem bôi mặt ở Pháp để làm bớt những vết nhăn cho nét mặt được trẻ trung.
Theo nhiều công trình nghiên cứu và kết quả lâm sàng đều cho thấy dịch chiết rau má có
khả năng kích hoạt các tiến trình sinh học trong việc phân chia tế bào và tái tạo mô liên
kết giúp vết thương chóng lành và mau lên da non.
Hiện nay các chế phẩm từ rau má đã được sử dụng rất đa dạng dưới nhiều hình
thức thuốc tiêm, thuốc bột, thuốc mỡ để điều trị tất cả các chứng bệnh về da như vết
bỏng, vết thương do chấn thương, do giải phẫu, cấy ghép da, những vết lở loét lâu lành,
vết lở do ung thư, bệnh phong, vẩy nến.
-15-
Đối với bệnh ung thư
Phần dịch chiết chứa các Triterpenoids của rau má được cho là có khả năng tiêu
diệt được các tế bào ung thư loại lymphoma Dalton và Ehrlich, nhưng vẫn chưa xác định
thế kỷ ở Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia nhằm chữa lành vết thương và những bệnh về
da như bệnh vẩy nến và bệnh phong. Ở Ấn độ, rau má còn được gọi là Brahmi hàm nghĩa
một loại dược thảo có thể giúp con người tiến đến sự hoà hợp với tâm thức vũ trụ
(knowledge of the Supreme Reality). Do đó, rau má thường có trong khẩu phần ăn của
những vị thiền sư, những nhà yogi, những nhà thông thái. Trên thực tế, rau má tác dụng
lên hoạt động của hệ thần kinh trung ương, làm giảm căng thắng tâm lý, tăng cường khả
năng tập trung tư tưỡng và giúp cải thiện trí nhớ của người già.
Từ những năm 1940 y học hiện đại đã bắt đầu nghiên cứu tác dụng của rau má.
Người ta cho rằng dịch chiết rau má có hiệu quả tốt với bệnh Alzheimer nhờ vào những
dẫn xuất của chất Asiaticoside có khả năng bảo vệ các tế bào thần kinh khỏi tác động của
các độc tố beta-amyloid.
Theo tập san Société des amis du parc bonatique de Tananarive, năm 1941 và
1942 tại Mangas, người ta đã nghiên cứu dùng rau má chữa hủi tốt hơn chế phẩm của đại
phong thử. Năm 1949, Lythgoe và Trippet cũng đã nghiên cứu tác dụng chữa bệnh phong
của Centelloside, một loại Glycoside có tính chất giống Asiaticoside có trong rau má.
Nghiên cứu của Trung tâm Y tế Đại học Maryland chỉ ra rằng cây rau má có chứa
nhiều Triterpenoid (Asiaticoside, Madecassoside….) giúp tăng cường da và tăng lưu
thông vào vùng da.
Một chương trình phóng sự của đài truyền hình số 9 ở Sydney vào tháng 12/2003
cũng cho biết một số người ở Úc đã chữa khỏi bệnh thấp khớp bằng cách ăn 2 lá rau má
tươi mỗi ngày. Phương pháp này phát xuất từ quyển sách “Arthritis and Paradoxycal
Pennywort” (Bệnh thấp khớp và lá rau má) của ông Russell Maslen.
Nghiên cứu về tác dụng của rau má với bệnh ung thư ghi nhận bột trích tinh rau
má ức chế được sự tăng trưởng của tế bào ung thư nơi thú vật nhờ tác dụng của các
-17-
triterpenenoids liên hệ đến acid Asiatic .Cũng nhờ khả năng chống ung bướu này mà một
loại kem đặc chế ở Nhật Bản đã được dùng để trị ung thư máu (nonlymphatic leukemia).
1.3.2. Trong nƣớc
Rau má là một loại rau rất "lành", có thể ăn hằng ngày, nhưng rau má không chỉ là
Asiaticoside của rau má có tác dụng tương đương với dược phẩm trị phong chính là
Dapsone. Ở nước ta TS. Phan Quốc Kinh và cộng sự đã chiết xuất được Asiaticoside và
acid Asiatic từ rau má Việt Nam.
Hoạt chất Asiaticoside đã được ứng dụng trong điều trị bệnh phong và bệnh lao.
Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam, dù có nhiều nghiên cứu về các tác dụng của rau má, vẫn
chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu việc chiết xuất các hợp chất có hoạt tính sinh
học từ cây rau má nói chung và chất Asiaticoside nói riêng.
1.4. Một số bài thuốc từ rau má
Chữa trúng thử, say nắng, say nóng: Lấy khoảng 100g rau má tươi, rửa sạch, giã
nát, vắt lấy nước, thêm chút muối ăn, quấy đều cho uống. Có thể kết hợp rau má với lá
sen tươi, cỏ nhọ nồi tươi, mỗi thứ 100g, rửa sạch, thái nhỏ, giã nát, vắt lấy dịch, thêm
chút muối ăn, quấy đều cho uống. Ngoài ra có thể dùng rau má dưới dạng chè để giải
nhiệt hàng ngày: rau má, vỏ đậu xanh, đậu ván trắng, mạch môn, mỗi vị 12g, sinh địa 10
g, sa sâm, lá tre (tươi) mỗi vị 8 g, cam thảo 4 g, ngày 1 thang, dưới dạng hãm.
Chữa rôm sẩy, mẩn ngứa: Hàng ngày ăn rau má tươi, hoặc giã nát vắt lấy nước
uống (khoảng 50g rau má tươi với 200ml nước sôi để nguội), nếu trẻ nhỏ, có thể thêm
chút đường hoặc mật ong cho dễ uống.
Chữa mụn nhọt: Rau má và lá gấc mỗi thứ 50g rửa sạch, giã nhỏ, cho ít muối vào
trộn đều, đắp lên chỗ đau rồi băng lại, ngày thay 2 lần và đắp cho đến khi khỏi.
Hạ sốt: Khi bị sốt, nhức đầu, dùng 30g rau má tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nước
sôi để nguội, vắt lấy nước cốt rồi hòa với 10g bột sắn dây, thêm đường uống.
Chữa ho khan, ho lâu ngày, ho thể nhiệt: Rau má tươi 100g, rửa sạch vắt lấy dịch cho
uống; có thể dùng 40g rau má (khô) phối hợp với bạc hà, cóc mẳn, mỗi vị 16g, bách bộ, mạch
môn, mỗi vị 12g, cam thảo 8g. Sắc uống, ngày một thang. Uống liền 1-2 tuần.
-19-
Sốt xuất huyết: Rau má, cỏ nầm trầu, lá huyết dụ, lá cối xay mỗi thứ 20g, cỏ nhọ
nồi sao cháy, sắc đặc, uống ngày 2 lần , mỗi lần một thang.
Hạ huyết áp: Rễ nhàu 16g, rễ kiến cò 12g, lá tre 12g, rễ tranh 12g, rễ cỏ xước 12g,
rau má 16 g. Sắc uống thay nước hằng ngày.
nhuận tràng, nhuận huyết, giải độc và kích thích tiêu hóa.
Hiện nay người ta chế rau má dưới dạng:
Viên nén 0,01g rau má chữa chứng giãn tĩnh mạch, chứng nặng chân do máu tĩnh
mạch chảy chậm về tim. Ngày uống 3 – 6 viên vào bữa cơm.
Thuốc tiêm 1ml chứa 0,02g cao rau má. Cách 1 ngày tiêm bắp một ống phối hợp
bôi thuốc mỡ (1% cao rau má) hoặc dạng bột chứa 2% rau má để chữa các vết bỏng, vết
thương do chấn thương hoặc vết phẫu thuật, các tổn thương da và niêm mạc (mũi, họng).
Tại Việt Nam, tinh rau má tươi đã được Viện Công nghiệp Thực phẩm sản xuất
thành công.
Tác dụng phụ có thể có khi dùng rau má
Trong một số trường hợp, rau má làm tăng lượng Cholesterol và lượng đường
trong máu, vì vậy những người có Cholesterol cao và bệnh tiểu đường nên tránh lạm
dụng sử dụng rau má quá nhiều.
Loại rau này cũng có thể dẫn đến sẩy thai nếu sử dụng trong thời kỳ mang thai. Do
vậy, phụ nữ mang thai và đang cho con bú cũng nên tránh dùng loại rau này.
Rau má có thể tương tác với các thuốc gây buồn ngủ và thuốc chống co giật,
Barbiturat, Benzodiazepin, thuốc mất ngủ, và các thuốc chống trầm cảm Nó cũng có thể
làm giảm hiệu quả của Insulin và thuốc tiểu đường uống khác, cũng như các thuốc hạ
Cholesterol.
Rau má cũng có thể có một tác dụng làm giảm tác dụng an thần khi dùng với các
loại thuốc cảm lạnh và ho, hoặc khi uống rượu. -21-
1.5. Một số sản phẩm rau má trên thị trƣờng
chiết. Sau đó dịch chiết được cô quay chân không và để bay hơi tự nhiên rồi định danh
bằng phương pháp đo GC – MS.
-23- Rau má
Làm sạch,
loại tạp
Sấy khô
(50
0
C)
Xay nhỏ
Bột
rau
má
Chiết
soxhlet
Thời gian:
2h
4h
6h
8h
Dịch
chiết
Đo UV - VIS
Kết quả UV – VIS
Ethanol 90
0
ethanol tuyệt đối
Dịch
chiết
Đo UV - VIS
Kết quả UV – VIS
chọn nồng độ cồn
Ngâm
chiết
Dung môi:
ethylacetate
methanol
ethanol
Dịch
chiết
Đo UV - VIS
Kết quả UV – VIS
chọn dung môi
Chiết
soxhlet
Dịch
chiết
Cô quay
Cao rau
má
Đo GC – MS
Thành phần
hóa học của
2
.
Độ ẩm của mẫu được tính bằng công thức:
Độ ẩm trung bình
Trong đó:
m
1
: Khối lượng chén sứ (g)
m: Khối lượng rau má (g)
m
2
: Khối lượng chén sứ và mẫu sau khi sấy (g)
n: Số lần xác định W(%)
2.3.2. Xác định hàm lƣợng hữu cơ: phƣơng pháp tro hóa mẫu
Để xác định hàm lượng tro và các nguyên tố vô cơ trong cơ thể động vật, thực vật
người ta dùng các phương pháp tro hóa mẫu.
Các mẫu rau má (khối lượng m
2
) đã xác định độ ẩm ở trên tiếp tục được sử dụng
để tro hóa. Các mẫu được đốt trên bếp điện, than hóa sơ bộ, sau đó cho vào lò nung và
W% =
x 100%
Hàm lượng tro trung bình
Trong đó:
m
1
: Khối lượng chén sứ (g)
m: Khối lượng rau má ban đầu (g)
m
3
: Khối lượng chén sứ và mẫu sau khi tro hoá (g)
n: Số lần xác định % tro
Hàm lượng hữu cơ: % hữu cơ = 100% - % tro => % hữu cơ
TB
2.3.3. Xác định hàm lƣợng kim loại nặng
Tro thu được sau khi nung ở trên đem hòa tan trong dung dịch HNO
3
loãng, định
mức bằng nước cất và xác định hàm lượng kim loại bằng phương pháp đo phổ hấp thụ
nguyên tử AAS.
a. Đặc điểm của phổ AAS
Nếu ta chiếu một chùm tia sáng có bước sóng xác định vào đám hơi nguyên tử thì
các nguyên tử tự do sẽ hấp thụ các bức xạ có bước sóng ứng đúng với những tia bức xạ
mà nó có thể phát ra được trong quá trình phát xạ. Phổ sinh ra trong quá trình này gọi là
phổ hấp thụ nguyên tử.
% tro =
(m