1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA HÓA
Nghiên cứu chiết tách, xác định thành phần hóa học
trong dịch chiết lá ngải cứu ở quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC GVHD: Th.S Trần Đức Mạnh
3’,5’-dimethoxylflavone),… Các chất này có khả năng ức chế rất tốt sự tăng trưởng
của các tế bào ung thư vú và ung thư cổ tử cung, kháng khuẩn, kháng viêm. Ngoài
ra, các thành phần trong lá ngải cứu còn được sử dụng để chữa kinh nguyệt không
đều, khí hư, động thai, băng huyết, đau bụng, đau dây thần kinh, thấp khớp, dưỡng
da, trị mụn,….
Tại Việt Nam cũng đã có các công trình nghiên cứu như “Khảo sát thành
phần hóa học cây ngải cứu (Artemisia vulgaris L.)” (Nguyễn Thị Thảo Ly,
10
- Trị mụn, mẩn ngứa:
Lấy lá ngải cứu tươi giã nát, đắp lên mặt, làm liên tục như vậy một thời gian
sẽ có làn da trắng sáng hồng. Với trẻ em thường hay bị rôm sảy thì lấy lá ngải cứu
xay nát rồi lọc lấy nước cho trẻ tắm.
- Đau thần kinh tọa, nhức buốt khớp xương, đau đầu hoa mắt:
Lấy ngải cứu rửa sạch, giã nát, thêm mật ong, vắt lấy nước uống.
- Cảm cúm, ho, đau cổ họng, đau đầu, đau dây thần kinh: Lấy ngải cứu, lá
khuynh diệp, lá bưởi (hoặc quýt) nấu với nước. Uống mỗi lúc khát, liên tục trong 3
– 5 ngày.
1.3.2. Các nghiên cứu dược học về ngải cứu [1], [5], [7], [13], [14]
Từ xa xưa, nhân dân các nước vùng Đông Nam Á cũng như Trung Quốc,
Nhật Bản đã biết dùng lá ngải cứu để điều trị một số bệnh.
Ngày nay, các nhà khoa học cũng tiến hành nghiên cứu và phát hiện thêm
một số đặc tính quý báu nữa.
- Làm tăng cơ bắp và tăng cường sức khỏe: trong thành phần ngải cứu có chứa
glucose, absinthine, tannin, axit malic, azulene và cadinene.
- Giúp tăng sức lực mạnh mẽ, sát khuẩn, trị tiêu chảy, hạ sốt, điều hòa kinh
nguyệt hữu hiệu bởi trong thành phần ngải cứu chứa vitamin B
Eupafoline. Các chất này là những flavonoid có hoạt tính mạnh, có tác dụng chống
viêm, làm giảm sự tăng sinh các tế bào gây chết. Chúng có tác dụng hiệp đồng với
thuốc hóa dược trị ung thư tiazofurin trên các tế bào ung thư biểu mô buồng trứng
của người. Có thể dùng liều tiazofurin thấp hơn trong liệu pháp kết hợp, do đó làm
giảm các tác dụng không mong muốn. Bốn flavonoid này cũng làm tăng tác dụng
của thuốc hóa dược trị ung thư carboxytriazol trên tế bào ung thư biểu mô vú người
và làm tăng hoạt tính chống tăng sinh các tế bào gây hại của thuốc hóa dược
busulfan.
- Giảm thiếu máu: các chất chiết xuất từ lá ngải cứu ức chế sự tạo thành cụm
tế bào bạch cầu, cải thiện lưu lượng máu một cách đáng kể.
- Chống bệnh giun xoắn: bệnh giun xoắn có thể gây ra tiêu chảy, sốt, phù
quanh hốc mắt và viêm cơ ở người. Nghiên cứu về các chất chiết xuất của methanol
với lá ngải cứu cho thấy tỷ lệ ấu trùng đã giảm một lượng lớn trong hệ thống đường
ruột người.
- Chống tăng huyết áp: huyết áp cao là một trong những nguyên nhân dẫn đến
chứng xơ vữa động mạch, khiến gia tăng nguy cơ bị đau tim và đột quỵ. Nghiên cứu
cho thấy các chất chiết xuất của nước và cloroform với lá ngải cứu có khả năng
chống tăng huyết áp nhưng không đáng kể.
12
- Tác dụng chống oxy hóa: trong ngải cứu chứa nhiều loại chất chống oxy hóa
như glutathione (chất chống oxy hóa mạnh nhất), vitamin C, superoxide dismutase;
các chất này ngăn chặn hoặc làm chậm quá trình oxy hóa các chất khác bằng cách
khử đi các gốc tự do, kìm hãm quá trình oxy hóa. Kết quả cho thấy ngải cứu là một
nguồn tiềm năng của chất chống oxy hóa tự nhiên.
- Tác dụng chống co giật: trong một nghiên cứu dịch chiết từ lá và thân ngải
cứu với nước cho thấy các chất chiết xuất này giúp trì hoãn việc khởi phát các cơn
Hình 1.5. Dược phẩm hỗ trợ bổ huyết, điều kinh
Hình 1.6. Mặt nạ dưỡng da
- Công dụng: chữa động thai, giảm đau
thấp khớp.
Hình 1.7. Canh cá rô ngải cứu
Hình 1.8. Trứng gà cuộn ngải cứu
Hình 1.9. Gà tần ngải cứu
Hình 1.10. Cháo gà ngải cứu
15
1.3.7. Một số cây thuốc khác thuộc họ Cúc (Asteraceae) [8], [11], [12]
1.3.7.1. Ké đầu ngựa (Xanthium strumarium Lin.)
- Đặc điểm: cây ké đầu ngựa mọc hoang ở nhiều
nơi, tên Hán là Thương nhĩ tử. Loại cho quả to bằng
ngón chân cái gọi là ké ông mới thật tốt.
- Thành phần hóa học: có nhiều iod và vitamin C
(đặc biệt trong lá chứa 47 mg/100g lá). Quả non có nhiều
glucoza, sintosterol. Trong các phần trên mặt đất của cây
ké chứa hỗn hợp alcaloid được coi là độc tố. Hạt có một
chất gây độc cho gia súc, trong đó có hydroquinon,
cholin và một chất thứ ba độc hơn chưa xác định được.
- Công dụng: chữa các bệnh ngoài da (mụn nhọt,
chốc lở, tổ đỉa, mày đay, phong), viêm xoang mũi, thấp khớp, bướu cổ đơn thuần,
bệnh ung thư (ung thư mũi, ung thư não).
1.3.7.2. Sài đất (Wedelia calendulacea Les.)
- Đặc điểm: là một loài cỏ sống dai, mọc bò. Thân
. Hàm lượng tinh
dầu trong cây cao nhất vào lúc cây ra hoa đầu
tiên, có thể đạt tới 0,16%.
- Công dụng: tinh dầu mần tưới có tác dụng
xua đuổi côn trùng: mạt gà, bọ chét, bọ chó, rệp.
Mần tưới còn được dùng làm thuốc điều kinh,
chữa lở loét.
1.3.7.4. Thanh cao hoa vàng (Artemisia annua L.)
- Đặc điểm: còn có tên là thảo cao, ngải
si, ngải hôi, ngải đắng, ; là cây thảo, gốc hóa
gỗ, sống lâu năm, cao 1,5 – 4 m, toàn thân có
mùi thơm nhẹ. Lá mọc cách, phiến lá xẻ lông
chim, có lông mềm bao phủ. Mỗi cành nhỏ có
3 – 7 cụm hoa.
- Thành phần hóa học: chủ yếu là
artermisinin.
- Công dụng: chất artemisinin trong thanh cao hoa vàng có tác dụng diệt ký
sinh trùng sốt rét thể vô tính trong hồng cầu. Ngoài ra, chất này cũng có khả năng
tiêu diệt tế bào ung thư vú và tế bào bạch cầu bị bệnh.
1.3.7.5. Cứt lợn (Ageratum conyzoides L.)
- Đặc điểm: còn gọi là cây hoa ngũ sắc, cây hoa
ngũ vị, cỏ hôi; là một loài cây nhỏ, mọc hoang, thân có
nhiều lông nhỏ, mềm; cao khoảng 25 – 50 cm, thường
mọc hoang. Lá mọc đối xứng hình trứng hay ba cạnh,
Hình 1.13. Mần tưới
Hình 1.14. Thanh cao hoa vàng
Hình 1.15. Cứt lợn
17
- Công dụng: chữa cảm sốt, ho, đầy bụng khó tiêu; chữa mắt kéo màng, bụng
đau, ho lâu ngày, ngạt mũi, tức ngực, cảm gió, cấm khẩu.
Hình 1.16. Bạch truật
Hình 1.17. Đại bi
18
1.3.7.8. Hồng hoa (Carthamus tinctorius L.)
- Đặc điểm: còn gọi là hồng lam hoa, phiên hồng
hoa, mạt trích hoa; là cây thảo cao hơn 1 m, thân nhẵn.
Lá mọc so le, mặt lá trơn màu xanh sẫm, gân chính giữa
lồi cao. Cụm hoa gồm nhiều hoa nhỏ, màu đỏ cam, đẹp,
họp lại thành gù hình đầu. Quả bề hình trứng có 4 cạnh
lồi. Mùa hoa tháng 6 – 8, mùa quả tháng 8 – 9.
- Thành phần hóa học: ethyl acetate, benzene,
pent-1-en-3-ol, 3-hexanol, 2-hexanol, 2-hexenal, 3-
methyl butyric acid, methylbutyric acid, p-xylene,
phenyl acetaldehyde, terpinen-4-ol, verbenone, decanal,
1-tetradecene, galatose, b-sitosterol, palmitic acid.
- Công dụng: trị sưng tấy do chấn thương, té ngã; trị hành kinh đau bụng; đề
phòng để khỏi bị lên đậu mùa.
1.3.7.9. Cải cúc (Chrysanthemum coronarium L.)
- Đặc điểm: còn gọi là cúc tần ô, rau cúc, rau tần ô; được nhập trồng ở nhiều
nơi khắp nước ta làm rau ăn. Có nhiều giống trồng khác nhau; ta thường trồng
giống cây lùn, cao không quá 70 cm; là cây thảo sống hằng năm. Lá ôm vào thân,
xẻ lông chim hai lần với những thuỳ hình trứng hay hình thìa không đều. Cụm hoa
ở nách lá, các hoa ở mép màu vàng sẫm, các hoa ở giữa đầu màu vàng lục, thơm.
Mùa hoa vào tháng 1 – 3.
cỏ mực còn được sử dụng để xăm mình. Ngoài
những tác dụng trên cây cỏ mực còn được dùng
để trị bệnh viêm xoang rất hiệu quả.
CHƢƠNG 2
NGUYÊN LIỆU VÀ CÁC PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Hình 1.20. Cỏ mực
20
2.1. Nguyên liệu, dụng cụ, hóa chất
2.1.1. Thu gom nguyên liệu
- Cây ngải cứu được hái từ quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (hình 2.1).
- Tên khoa học: Artemisia Vulgaris L., thuộc họ Cúc (Asteraceae).
- Các tên gọi khác: Motherwort, Maiden wort, Mugwort (Anh), Cordon de S.
Jose (Tây Ban Nha), Armoise commune (Pháp),…
2.1.2.1. Thiết bị - dụng cụ
Hình 2.1. Một số hình ảnh về cây, lá và hoa ngải cứu
21
- Bộ chiết soxhlet
- Máy đo quang UV – VIS (Đài khí tượng thủy văn khu vực Trung Trung Bộ,
660 Trưng Nữ Vương, TP. Đà Nẵng)
- Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS (Đài khí tượng thủy văn khu vực
Trung Trung Bộ, 660 Trưng Nữ Vương, TP. Đà Nẵng)
- Máy đo sắc kí khí kết hợp với khối phổ GC – MS (Trung tâm kỹ thuật đo
lường chất lượng II, 2 Ngô Quyền, TP. Đà Nẵng)
- Tủ sấy, lò nung, phễu Buchner, cân phân tích, cốc thuỷ tinh, bếp điện, bếp
cách thuỷ, cốc sứ, bình hút ẩm, giấy lọc,… (Phòng thí nghiệm Hóa phân tích, Hóa
hữu cơ – Khu D, trường Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng)
2.1.2.2. Hóa chất
- Dung môi hữu cơ:
Etanol 96
0
: C
2
H
5
OH, có M= 46,07 g/mol; t
0
nc
= -114,3
0
W(%)
(%)W
5
1
TB
Trong đó:
m
1
: khối lượng cốc sứ (g)
m
2
: khối lượng bột lá ngải cứu (g)
m
3
: khối lượng cốc sứ và mẫu sau khi sấy (g)
n: số lần xác định W%
22
2.2.1.2. Xác định hàm lượng tro: Phương pháp phân tích trọng lượng
- Nguyên tắc: Dựa trên nguyên tắc tro hoá hoàn toàn mẫu bằng cách nung mẫu
trong lò nung ở nhiệt độ 500
0
– 600
0
Trong đó:
m
1
: khối lượng cốc sứ (g)
m
2
: khối lượng bột lá ngải cứu ban đầu (g)
m
4
: khối lượng cốc sứ và mẫu sau khi tro hóa (g)
n: số lần xác định % tro
2.2.1.3. Xác định hàm lượng một số kim loại nặng:
- Phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử.
- Tro thu được sau khi nung đem hòa tan trong dung dịch HNO
3
loãng, định
mức bằng nước cất và xác định hàm lượng kim loại bằng phương pháp đo phổ hấp
thụ nguyên tử.
- Phép đo phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) được thực hiện như sau:
Hoá hơi mẫu phân tích đưa về trạng thái khí. Mục đích của quá trình này là
tạo ra được đám hơi các nguyên tử tự do từ mẫu phân tích. Có thể nguyên tử hoá
mẫu phân tích bằng ngọn lửa hoặc bằng kỹ thuật nguyên tử hoá không ngọn lửa.
Đây là giai đoạn quan trọng nhất và có ảnh hưởng đến kết quả của phép đo AAS.
23
Chọn nguồn tia sáng đơn sắc có bước sóng phù hợp với nguyên tố cần phân - Cơ sở lý thuyết của phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử là định luật
Lamber – Beer: Khi bức xạ đơn sắc đi qua dung dịch chứa chất hấp thụ thì cường
độ bức xạ ló ra khỏi dung dịch giảm càng mạnh nếu càng nhiều phân tử hấp thụ
năng lượng bức xạ. Sự giảm cường độ phụ thuộc vào nồng độ chất hấp thụ và độ
dài đoạn đường mà bức xạ đơn sắc đi qua.
Định luật Lamber – Beer được biểu diễn bởi phương trình sau:
lC
I
I
D lg
0
Trong đó:
I
0
: cường độ ánh sáng tới
I: cường độ ánh sáng sau khi đi qua dung dịch
C: nồng độ dung dịch (mol/l)
l: bề dày lớp dung dịch (cm)
: hệ số tắt phân tử, phụ thuộc vào bản chất của dung dịch màu,
bước sóng của tia bức xạ đi qua và nhiệt độ
D: mật độ quang (hay độ hấp thụ ánh sáng của dung dịch)
2.2.3.1. Chiết đơn giản, một lần
Đun nóng hợp chất với dung môi trong bình cầu có sinh hàn hồi lưu, lọc
nóng hoặc để lắng cho trong rồi chắt.
2.2.3.2. Chiết đơn giản, nhiều lần
Nói chung, muốn làm cho quá trình chiết lặp đi, lặp lại nhiều lần ta nên dùng
những bộ dụng cụ công tác tự động. Những bộ công cụ như vậy bao gồm một bình
cầu, một thiết bị chiết và một ống sinh hàn hồi lưu. Dung môi ở trong bình cầu được
làm bốc hơi từng phần, dung môi ngưng tụ nhỏ vào mẫu được chiết đựng trong một
cái túi bằng giấy lọc và sau đó lại chảy vào bình. Trong quá trình đó cấu tử cần tách
được làm giàu thêm trong dung môi.
- Thiết bị chiết Soxhlet (hình 2.2)
Phương pháp này được Soxhlet đưa ra năm 1879, được sử dụng như một ví
dụ của phương pháp chiết liên tục áp dụng để chiết chất lỏng từ thực phẩm.
Trong phương pháp này, mẫu được làm khô, được nghiền thành những mẫu
nhỏ và đặt trong bọc bằng xenlulozơ dễ thấm. Sau đó cho vào bộ chiết soxhlet gồm
một bình cầu, một thiết bị chiết và một sinh hàn hồi lưu. Bình cầu được đun nóng,
dung môi bay hơi rồi được ngưng tụ bằng ống sinh hàn, chuyển thành dạng lỏng và
nhỏ giọt vào ống chiết chứa mẫu. Ống chiết được thiết kế có một ống xi-phông đặt
ở bên cạnh sao cho khi dung môi bao quanh mẫu vượt quá khuỷu trên của ống xi-
phông, nó sẽ chảy tràn qua rồi từ từ chảy xuống trở lại vào bình cầu đang sôi.