- 1 -
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
KHOA HÓA
NGHIÊN CỨU CHIẾT TÁCH XÁC ĐỊNH THÀNH
PHẦN HOÁ HỌC TRONG DỊCH CHIẾT LÁ LỐT
Ở HUYỆN HOÀ VANG - ĐÀ NẴNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC
Sinh viên thực hiện : Trƣơng Đình Xuân Tịnh
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS Võ Kim Thành
Lớp : 08CHD
- 2 -
MỞ ĐẦU
1.2.4. Một số thành phần hóa học trong cây lá lốt:
Theo một số tài liệu, các hợp chất có trong cây lá lốt có thể là các ancaloit,
flavonoit và tinh dầu. Trong lá và thân chứa các alcaloit và tinh dầu có thành phần chủ
yếu là beta-caryophyllen, rễ chứa tinh dầu có thành phần chính là benzylaxetat.
a) Ancaloit:
Khái niệm: Ancaloit là những hợp chất hữu cơ có chứa dị vòng nitơ, có tính
bazơ, thường gặp ở trong nhiều loài thực vật có nhiều trong các cây họ Cà, họ Thuốc
phiện, vv. Trong thực vật, ancaloit thường tồn tại ở dạng muối của các axit (vd. axit
nitric, malic, sucxinic) và đôi khi còn tìm thấy trong một vài loài động vật.
Đặc biệt, ancaloit có hoạt tính sinh lý rất cao đối với cơ thể con người và động vật,
nhất là đối với hệ thần kinh. Với một lượng nhỏ có ancaloit là chất độc gây chết người
nhưng lại có khi nó là thần dược trị bệnh đặc hiệu.
Bảng 1.1. Một số ancaloit có N ở dị vòng
Tên cấu trúc
Công thức
Hợp chất ví dụ
Pyrol
N HPyrolidin
N
H
Hygrin
N
CH
3
Cocain
Pyrrolizidin
N
Retronecin
N
H
CH
2
-OH
HO
Quinolizidin
NLupinin
N
CH
2
-OH
Indol
N
H
Serotonin
N
3
HO
CH
3
O
CH
3
O
OH
Becberin
N
(+)
OCH
3
OCH
3
O
H
2
C
O
Purin
N
N
N
N
-
N
-
Morphin
N-CH
3
HO
O
HO
Acridon
N
O
CH
3
Acborinin
N
O
CH
3
OCH
3
OCH
3
OHb) Flavanoid:
Khái niệm: Flavonoid (hay bioflavonoids) là một nhóm hợp chất rất thường
Tác dụng sinh học:
Trước hết, các chất flavonoid là những chất oxy hóa chậm hay ngăn chặn quá
trình oxy hóa do các gốc tự do, có thể là nguyên nhân làm cho tế bào hoạt động khác
thường. Các gốc tự do sinh ra trong quá trình trao đổi chất thường là các gốc tự do
như OH
•
, ROO
•
(là các yếu tố gây biến dị, huỷ hoại tế bào, ung thư, tăng nhanh sự lão
hoá,…).
Các flavonoid còn có khả năng tạo phức với các ion kim loại nên có tác dụng
như những chất xúc tác ngăn cản các phản ứng oxy hoá mà. Do đó, các chất flavonoid
có tác dụng bảo vệ cơ thể, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, tai biến mạch, lão hoá, thoái
hoá gan, tổn thương do bức xạ.
Những nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra những tác động của thực phẩm giàu
flavonoid với những nguy cơ về tim mạch như huyết áp cao. Flavonoid làm bền thành
mạch, được dùng trong các trường hợp rối loạn chức năng tĩnh mạch, giãn hay suy
yếu tĩnh mạch, trĩ, rối loạn tuần hoàn võng mạc…
Epicatechin
Quercetin
- 15 -
- Flavonoid còn có tác dụng chống độc, làm giảm thương tổn gan, bảo vệ chức
năng gan.
c) Saponin :
Khái niệm: Saponin là một nhóm glycosid lớn, gặp rộng rãi trong thực vật,
cũng có trong một số động vật như hải sâm, cá sao. Tiền tố “sapo” có nghĩa là xà
phòng (vì tạo bọt như xà phòng).
Một số tính chất :
Tác dụng sinh học:
- Saponin là hoạt chất chính trong các dược liệu chữa ho như viễn chí, cát cánh,
cam thảo, thiên môn, mạch môn
- Một số dược liệu chứa saponin có tác dụng thông tiểu như rau má, tỳ giải, thiên
môn, mạch môn,
- Saponin có mặt trong một số vị thuốc bổ như nhân sâm, tam thất và một số cây
thuộc họ nhân sâm khác.
- 17 -
- Saponin làm tăng sự thấm của tế bào; sự có mặt của saponin sẽ làm cho các hoạt
chất khác dễ hoà tan và hấp thu, ví dụ trường hợp digitonin trong lá Digital.
1.2.5. Tính chất của một số chất có trong cây lá lốt:
Beta-caryophyllen:
Công thức phân tử: C
15
H
24
Khối lượng phân tử: 204,36
Công thức cấu tạo:
H
40
O
Khối lượng phân tử: 296,54
Công thức cấu tạo:
Tính chất: không tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ.
Gamma-sitosterol
Công thức phân tử: C
29
H
50
O
Khối lượng phân tử: 414,707 Công thức cấu tạo:
Tính chất: Không tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ.
1.3. Các phƣơng pháp kỹ thuật:
1.3.1.Các phƣơng pháp chiết:
Phương pháp chiết là phương pháp lấy chất từ hỗn hợp bằng dung môi để tách
biệt, cô và tinh chế các cấu tử có trong hỗn hợp thành cấu tử riêng. Có thể chiết từ hỗn
hợp dung dịch hay từ chất rắn.
1.3.1.1. Chiết ngấm kiệt
THILEPAPE cho những mục tiêu khác nữa, như chiết chất lỏng với
dung môi nặng hoặc nhẹ để xác định lượng nước được cất loại trong
hỗn hợp đẳng phí.
* Dụng cụ chiết SOXHLET
Dụng cụ chiết SOXHLET chỉ khác ống THILEPAPE ở chỗ có thêm một ống xi-
phông đặt ở bên cạnh, chỉ để dung dịch chiết chảy vào bình khi nào mức chất lỏng
- 20 -
trong ống chiết đạt được khủy trên của ống xi-phông. Chất được chiết cần có tỷ khối
lớn hơn là dung môi.
1.3.2. Phƣơng pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC – MS)
1.3.2.1. Phƣơng pháp sắc ký khí (GC)
Sắc ký khí là một trong những phương pháp quan trọng nhất hiện nay dùng để
tách, định lượng, xác định cấu trúc các chất, đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong
nghiên cứu các hợp chất hữu cơ.
Pha động trong GC là chất khí nên chất phân tích cũng phải được hoá hơi để
đưa vào cột sắc ký, thường hoá hơi dưới 250
0
C.
Pha tĩnh có thể là chất rắn được nhồi vào cột hay 1 màng film mỏng bám lên
trên bề mặt chất mang trơ, hoặc có thể tạo thành một màng mỏng bám lên mặt trong
của thành cột (cột mao quản).
Tuỳ thuộc vào bản chất pha tĩnh chia thành hai loại sắc ký khí :
Sắc ký khí rắn (gas solid chromatography – GSC): Chất phân tích được hấp
phụ trực tiếp trên pha tĩnh là các tiểu phân rắn.
Sắc ký khí lỏng (gas liquid chromatography – GLC): Pha tĩnh là một chất
lỏng không bay hơi.
Phương pháp này chỉ được giới hạn với chất có thể bốc hơi mà không bị phân
huỷ hay là trong khi phân huỷ cho sản phẩm phân huỷ xác định dưới thể hơi.
Có 2 loại kĩ thuật phân tích:
gian lưu ta có thể xác định được tên chất và đo diện tích mỗi pic ta xác định được
thành phần mỗi chất trong hỗn hợp.
1.3.2.2. Phƣơng pháp khối phổ (MS)
Nguyên tắc của phương pháp khối phổ là dựa vào chất nghiên cứu được ion
hoá trong pha khí hoặc pha ngưng tụ dưới chân không bằng những phương pháp thích
hợp thành những ion (ion phân tử, ion mảnh…) có số khối khác nhau, sau đó những
ion này được phân tách thành những dãy ion theo cùng số khối m (chính xác là theo
cùng tỷ số khối trên điện tích ion, m/e) và xác suất có mặt của mỗi dãy ion có cùng tỉ
số m/e được ghi lại trên đồ thị có trục tung là xác suất có mặt (hay cường độ), trục
hoành là tỉ số m/e gọi là khối phổ đồ.
Phổ khối lượng được ghi lại dưới dạng phổ vạch hay bảng, trong đó cường độ
các vạch được đo bằng phần trăm so với đỉnh có cường đọ cao nhất. Đỉnh ion phân tử
thường là đỉnh cao nhất, tương đương với khối lượng phân tử của hợp chất khảo sát.
Phổ khối lượng không những cho phép xác định chính xác phân tử lượng, mà
căn cứ vào các mảnh phân tử tạo thành, ta cũng suy ra được cấu trúc phân tử. Xác suất
tạo thành mảnh phụ thuộc vào cường độ liên kết trong phân tử cũng như vào khả năng
bền hoá các mảnh tạo thành nhờ các hiệu ứng khác nhau. Các mảnh có độ bền lớn sẽ
ưu tiên tạo thành, các liên kết yếu nhất dễ bị đứt nhất. Có những mảnh có khối lượng
đặc trưng gọi là mảnh chìa khoá, chúng cho phép phân tích các phổ khối lượng dễ
dàng.
1.3.2.3. Phƣơng pháp sắc ký khí ghép khối phổ (GC – MS)
Hình 1.8. Sơ đồ thiết bị sắc ký khí ghép khối phổ
- 23 -
0
)
vào bước sóng. Nhờ máy vi tính, bộ tự ghi còn có thể chia ra cho ta những số liệu cần
thiết như λ
max
cùng với giá trị độ hấp thụ A (D).
- 24 -
Cơ sở của phương pháp phân tích quang phổ
tuân theo định luật Lambe-Bia
A=lg(I/I
0
)= εlC
Trong đó :
A: là độ hấp thụ ( hay là mật độ quang)
C: là nồng độ chất tan (mol/l)
l: là bề dày cuvet đựng mẫu (cm).
ε: là hệ số hấp thụ mol đặc trưng cho cường độ
hấp thụ của chất nghiên cứu .
1.3.4. Phƣơng pháp hấp thụ nguyên tử (AAS)
1.3.4.1. Đặc điểm của phổ AAS
Nếu ta chiếu một chùm tia sáng có bước sóng xác định vào đám hơi nguyên tử
thì các nguyên tử tự do sẽ hấp thụ các bức xạ có bước sóng ứng đúng với những tia
bức xạ mà nó có thể phát ra được trong quá trình phát xạ. Phổ sinh ra trong quá trình
này gọi là phổ hấp thụ nguyên tử.
Nghiên cứu một sự phụ thuộc cường độ một số vạch phổ hấp thụ của một
nguyên tố vào nổng độ C của nguyên tố đó trong mẫu phân tích, người ta nhận thấy
trong vùng nồng độ C nhỏ, mối quan hệ giữa cường độ vạch phổ hấp thụ và số
nguyên tử của nguyên tố tuân theo định luật Lămbe-Bia: D= εlC.
1.3.4.3. Trang thiết bị của máy quang phổ hấp thụ nguyên tử
Nguồn đơn sắc: là nguồn phát ra chùm bức xạ đơn sắc của nguyên tố cần phân
tích, nguồn này sẽ chiếu vào đám hơi nguyên tử tự do và nó phải thõa mãn các yêu
cầu sau:
Nguồn phát ra tia bức xạ đơn sắc phải là các tia bức xạ nhạy của nguyên tố
phân tích. Chùm tia phát xạ phải có cường độ ổn định, lặp lại được nhiều lần đo khác
nhau trong cùng điều kiện và phải điều chỉnh được để có cường độ cần thiết cho mỗi
phép đo.
Phải tạo ra được chùm tái phát xạ thuần khiết, chỉ bao gồm một số vạch nhạy
của nguyên tố phân tích, phổ nền của nó phải không đáng kể.
Phải có cường độ cao nhưng bền theo thời gian.