BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN HUYỀN ANH
QUAN HỆ LIÊN CÁ NHÂN CHI PHỐI HÀNH ĐỘNG
XIN LỖI, CẢM ƠN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60220102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Vũ Tiến Dũng
SƠN LA, NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn nghiên cứu khoa học của TS.Vũ Tiến Dũng. Các số liệu, kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng có ai công bố trong bất
kỳ một công trình nào khác.
Tác giả
Nguyễn Huyền Anh
LỜI CẢM ƠN
5. Ý nghĩa của luận văn ..................................................................................... 5
5.1. Ý nghĩa lí luận ............................................................................................ 5
5.2. Ý nghĩa thực tiễn ........................................................................................ 6
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu................................................. 6
6.1. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 6
6.1.1. Phương pháp khảo sát, thống kê ............................................................. 6
6.1.2. Phương pháp phân tích ............................................................................ 6
6.1.3. Phương pháp miêu tả............................................................................... 6
6.2. Nguồn ngữ liệu ........................................................................................... 7
7. Cấu trúc của luận văn .................................................................................... 7
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ THUYẾT ................................................................ 8
1.1. Hoạt động giao tiếp và văn hóa ứng xử của người Việt trong hoạt động
giao tiếp ............................................................................................................. 8
1.1.1. Hoạt động giao tiếp ................................................................................. 8
1.1.2. Văn hóa ứng xử trong tương tác của người Việt .................................. 20
1.2. Lí thuyết hành động nói ........................................................................... 23
1.2.1. Khái niệm hành động nói ...................................................................... 23
1.2.2. Điều kiện của một hành động tại lời ..................................................... 24
1.3. Một số khái niệm nền tảng của lí thuyết hội thoại ................................... 25
1.3.1. Hội thoại và một số khái niệm cơ bản................................................... 25
1.3.2. Các nguyên tắc hội thoại ....................................................................... 28
1.4. Quan hệ liên cá nhân chi phối đến việc lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ
trong phát ngôn, diễn ngôn.............................................................................. 30
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ............................................................................... 35
CHƢƠNG 2. QUAN HỆ QUYỀN LỰC VÀ KHOẢNG CÁCH XÃ HỘI
CHI PHỐI ĐẾN VIỆC LỰA CHỌN CÁC YẾU TỐ NGÔN NGỮ
TRONG HÀNH ĐỘNG XIN LỖI ............................................................... 36
2.1. Quan hệ quyền lực chi phối đến việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ trong
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Thống kê số lượng cuộc thoại phân theo kiểu dạng hành động xin lỗi 45
Bảng 2.2: Thống kê nhóm hành động xin lỗi xét trong quan hệ với mục đích
giao tiếp ........................................................................................................... 45
Bảng 2.3: Thống kê số lượng kiểu dạng hành động xin lỗi gắn với yếu tố
quyền lực ......................................................................................................... 47
Bảng 2.4: Thống kê nội dung cuộc thoại hành động xin lỗi gắn với yếu tố
quyền lực ......................................................................................................... 47
Bảng 2.5: Thống kê số lượng các kiểu dạng hành động xin lỗi gắn với yếu tố
khoảng cách ..................................................................................................... 60
Bảng 2.6: Thống kê các nội dung cuộc thoại có hành động xin lỗi gắn với yếu
tố khoảng cách ................................................................................................. 61
Bảng 3.1: Thống kê số lượng cuộc thoại phân theo kiểu dạng hành động cảm
ơn ..................................................................................................................... 69
Bảng 3.2: Thống kê nhóm hành động cảm ơn xét trong quan hệ với mục đích
giao tiếp ........................................................................................................... 70
Bảng 3.3: Thống kê số lượng kiểu dạng hành động cảm ơn gắn với yếu tố
quyền lực ......................................................................................................... 71
Bảng 3.4: Thống kê nội dung cuộc thoại hành động cảm ơn gắn với yếu tố
quyền lực ......................................................................................................... 71
Bảng 3.5: Thống kê số lượng kiểu dạng hành động cảm ơn gắn với yếu tố quan
hệ khoảng cách xã hội ...................................................................................... 83
Bảng 3.6: Thống kê các nội dung cuộc thoại có hành động cảm ơn gắn với
yếu tố khoảng cách xã hội ............................................................................... 83
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
tiếp mà hẹp hơn là hành động xin lỗi, cảm ơn trong các tác phẩm văn chương
vẫn còn những khoảng trống nhất định. Đó chính là lý do để tác giả luận văn
lựa chọn đề tài: “Quan hệ liên cá nhân chi phối hành động xin lỗi, cảm ơn
trong một số tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại”.
2. Lịch sử vấn đề
Trên thế giới, ngành ngữ dụng học ra đời rất sớm. Năm 1938 trong
công trình “Những cơ sở của lý thuyết kí hiệu”, nhà kí hiệu học người Mĩ
Morris lần đầu tiên đã đưa ra lý thuyết ba bình diện khi xem hệ thống kí hiệu
ngôn ngữ với tư cách bộ môn kí hiệu học, đó là: bình diện kết học, bình diện
nghĩa học và bình diện dụng học và đây là thời gian được xem là mốc ra đời
của ngữ dụng học. Mặc dù ra đời khá sớm nhưng phải đến năm 1962 khi cuốn
sách “How to do things with words” của J.L.Austin được xuất bản, lý thuyết
hành động nói ra đời thì ngữ dụng học mới thực sự được các nhà ngôn ngữ
học quan tâm và nó ngày càng được phát triển mạnh.
Trên tinh thần tiếp thu có chọn lọc và có phê phán một số quan điểm
của J.L.Austin, năm 1969, J.Searle đã cho xuất bản cuốn “Speech Acts” thì
đến lúc này, ngữ dụng học thực sự ổn định. Trong cuốn sách của mình,
J.Searle đặc biệt quan tâm đến hành động ngôn trung (Illocutionary act). Theo
ông, hành động ngôn trung là đơn vị giao tiếp bằng lời nhỏ nhất. Ông cho
rằng việc giao tiếp bằng lời cũng chịu sự chi phối của các quy tắc chung thể
hiện qua hành động ngôn trung. Vì vậy hành động ngôn trung là hành động
mà ngữ dụng học cần quan tâm, cần đi sâu nghiên cứu nhất. Đặc biệt, quan hệ
liên cá nhân đã được một số nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước quan
tâm nghiên cứu. R.Brown và A.Gilman đã nghiên cứu quan hệ liên cá nhân
chi phối đến việc sử dụng đại từ xưng hô trong một số ngôn ngữ phương Tây
2
như tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha,... Theo hai nhà nghiên cứu này, ở đâu
kết, biểu thức ngữ vi cam kết và tiếp nhận cam kết” đã đặt hành động ngôn
ngữ trong tương tác hội thoại để nghiên cứu và đã xác lập được biểu thức ngữ
vi, các phát ngôn ngữ vi cho hành động cam kết.
Cùng thời gian này, các tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến, Hà Thị Hải
Yến với đề tài về “Hành động chê, cảm thán” cũng đã xác lập được các biểu
thức ngữ vi và các phát ngôn ngữ vi cho các hành động này”.
Năm 2005 với đề tài luận án Tiến sĩ “Phương thức biểu hiện hành động
lời từ chối, lời cầu khiến trong tiếng Anh” (liên hệ với tiếng Việt), tác giả
Trần Chi Mai đã xác định được các phương thức, phương tiện biểu hiện hành
động từ chối lời cầu khiến trong tiếng Anh và tiếng Việt. Từ đó tác giả đã chỉ
ra nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ này, đồng thời cũng đã đưa
ra sự phân biệt hành động từ chối với một số hành động khác.
Năm 2008, tác giả Hoàng Thị Hồng Vân trong đề tài “Khảo sát hành
động chê và hồi đáp chê trong tác phẩm của Ma Văn Kháng” đã xác định
được biểu thức ngữ vi chê nguyên cấp trong tác phẩm, xác lập được cấu trúc
của biểu thức và phân biệt các biểu thức của hành động chê với một số hành
động khác.
Các nghiên cứu trước đây về quan hệ liên cá nhân mới dừng lại ở tính
lý luận hoặc vận dụng những lí luận đó vào giải thích một vài hiện tượng sử
dụng ngôn ngữ của cá nhân khi tham gia vào hoạt động giao tiếp. Các nghiên
cứu chuyên biệt về quan hệ liên cá nhân chi phối đến các yếu tố ngôn ngữ
trong một hành động ngôn ngữ cụ thể vẫn còn bỏ ngỏ.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn hướng tới mục đích là hệ thống hóa lí luận về quan hệ liên cá
nhân và quan hệ liên cá nhân có tác động như thế nào đến việc sử dụng các
yếu tố ngôn ngữ của hành động xin lỗi, cảm ơn trong tương tác của người Việt.
4
động cảm ơn trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nếu kết quả nghiên cứu của luận văn công bố có tính khả thi thì đây sẽ
là tài liệu tham khảo có ý nghĩa khoa học, bổ sung vào việc giảng dạy Ngữ
dụng học trong nhà trường.
Kết quả nghiên cứu giúp cho mọi người, nhất là nam nữ thanh niên
trong cách ứng xử, đặc biệt là ứng xử bằng ngôn ngữ sẽ tinh tế, lịch sự hơn,
góp phần giúp họ thành công trong mỗi cuộc giao tiếp.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, để giải quyết được một số nhiệm vụ cũng
như công việc đã đề ra, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
6.1.1. Phƣơng pháp khảo sát, thống kê
Phương pháp này được sử dụng để tiến hành khảo sát một số tác phẩm
Văn học Việt Nam hiện đại liên quan đến đề tài và sau đó thống kê lại toàn bộ
nội dung đã được khảo sát. Việc sử dụng phương pháp này giúp cho chúng ta
thống kê được nhiều nguồn dữ liệu một cách chính xác và có hiệu quả; giúp ta
nắm bắt được những vấn đề nào còn khuyết thiếu để từ đó chúng ta tiến hành
bổ sung hoàn chỉnh lại vấn đề.
6.1.2. Phƣơng pháp phân tích
Phương pháp này được người viết sử dụng trong quá trình tìm hiểu
nghiên cứu các tài liệu về hành động xin lỗi, cảm ơn; phân tích mổ xẻ vấn đề
theo nhiều chiều khác nhau để thấy rõ được những biểu hiện của quan hệ liên
cá nhân chi phối hành động xin lỗi, cảm ơn trong một số tác phẩm văn học
Việt Nam hiện đại.
6.1.3. Phƣơng pháp miêu tả
Đây là phương pháp nghiên cứu đặt lời thoại trong những ngữ huống
người khác. Nó là “một hoạt động diễn ra khi ít nhất có hai nhân vật cùng
luân phiên sử dụng cùng một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ để trao đổi với nhau
những nhận thức, những tình cảm và những ý muốn của mình nhằm đạt đến
một mục đích nào đó”. [6;tr.10]. Tâm lí học cũng định nghĩa, giao tiếp là “sự
tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi thông
tin, biểu cảm, kích thích hành động và định hướng giá trị” [5;tr.97]. Nói cách
khác, giao tiếp là quá trình xác lập mối quan hệ người – người, hiện thực hóa
các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác.
Hoạt động giao tiếp có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện khác
nhau như: ngôn ngữ, nét mặt, dáng điệu, cử chỉ… Trong đó, giao tiếp bằng
ngôn ngữ là phổ biến và tiện lợi hơn cả. Không chỉ thế, ngôn ngữ còn là
phương tiện giao tiếp có hiệu quả, nó giúp con người bộc lộ và truyền đạt
được mọi điều trong khi các phương tiện giao tiếp khác có sự hạn chế hơn.
Giao tiếp mang tính chất xã hội. Nó được thể hiện ở việc hình thành và
phát triển trong xã hội và được sử dụng các phương tiện do con người làm ra,
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngoài ra, giao tiếp còn mang tính
cá nhân. Tính cá nhân thể hiện ở nội dung, phạm vi, nhu cầu, phong cách, kỹ
năng,... giao tiếp của mỗi người là khác nhau.
Giao tiếp có chức năng trao đổi, truyền đạt tri thức, kinh nghiệm với
8
nhau. Giao tiếp là nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống con người bởi vì
không ai có thể sống cô độc, lẻ loi mà không cần giao tiếp với người khác.
Mỗi cá nhân vừa là nguồn phát thông tin vừa là nơi tiếp nhận thông tin. Giao
tiếp không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn tạo ra những ấn tượng, những cảm xúc
mới giữa các chủ thể. Trong giao tiếp, mỗi chủ thể tự bộc lộ quan điểm, tư
tưởng, thái độ, thói quen… của mình, do đó các chủ thể có thể nhận thức
được về nhau làm cơ sở đánh giá lẫn nhau. Nó còn có chức năng điều hành
hành vi, giúp nhận thức lẫn nhau, đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá được bản
nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, phương tiện giao tiếp và cách thức
giao tiếp.
- Hoàn cảnh giao tiếp là nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp mang
tính động, thay đổi trong quá trình diễn ra cuộc giao tiếp. Bất kì cái gì muốn
trở thành hoàn cảnh của một cuộc giao tiếp cần phải được nhân vật giao tiếp ý
thức. Nó gồm: hoàn cảnh giao tiếp rộng (hay còn gọi là tri thức văn hoá nền)
bao gồm toàn bộ những hiểu biết về lịch sử, văn hoá, chính trị, kinh tế, tôn
giáo, khoa học, nghệ thuật,... ở thời điểm và không gian trong đó đang diễn ra
cuộc giao tiếp. Tất cả những hiểu biết trên tạo thành tiền giả định bách khoa
và nó được huy động một cách khác nhau tùy theo các nhân vật giao tiếp và
tùy theo từng cuộc giao tiếp cụ thể. Và hoàn cảnh giao tiếp hẹp (thoại trường)
là không gian, thời gian cụ thể mà cuộc giao tiếp diễn ra. Không gian, thời
gian thoại trường có những đặc trưng chung đòi hỏi các nhân vật giao tiếp
phải có những ứng xử phù hợp với nó.
- Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp.
Nhân vật giao tiếp là nhân tố đóng vai trò chủ động, tích cực trong hoạt động
giao tiếp.
- Nội dung giao tiếp là tất cả những yếu tố vật chất, xã hội, văn hoá,...
được nói đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp; hay có thể là những sản
phẩm tinh thần của tư duy con người, có thể là cả những tình cảm, cảm xúc và
10
thái độ của con người đối với điều được nói đến. Xem xét một phát ngôn/diễn
ngôn là đúng hay sai, có nghĩa hay vô nghĩa là phụ thuộc vào thế giới khả hữu
mà diễn ngôn quy chiếu. Theo Đỗ Hữu Châu thì “về nội dung, diễn ngôn có
hai thành tố: nội dung thông tin, bị quyết định bởi tính đúng – sai logic, cũng
là nội dung trí tuệ, hình thành do quan hệ giữa diễn ngôn và hiện thực được
nói tới. Thứ hai là nội dung liên cá nhân bao gồm tất cả các nội dung của diễn
bộc lộ tình cảm, tâm trạng và ước nguyện của con người. Trong giao tiếp, nó
phụ thuộc vào vị trí xã hội của mỗi bên;…
Ví dụ (1):
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
Đan sàng thiếp cũng xin vâng
Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng? [27;tr.47]
Nhân vật giao tiếp là cô gái và chàng trai đang ở độ tuổi lập gia đình.
Hoàn cảnh giao tiếp rộng là văn hóa, nếp nghĩ của người dân Việt ở làng quê
Việt từ xưa tới nay: trai gái tới độ tuổi trưởng thành cần tìm hiểu nhau và lập
gia đình. Bối cảnh giao tiếp hẹp là một “đêm trăng thanh”. Các nhân tố này
biến bài ca dao giống như lời tỏ tình, cầu hôn và lời chấp thuận. Các nhân tố
ấy làm lời chàng trai và cô gái thân mật, trang nhã, đầy ẩn ý, vừa kín đáo, tế
nhị nhất là trong cách bày tỏ tình cảm, vừa nhanh nhạy đáp lại một cách hết
sức khôn khéo, thông minh.
Ở đây lại xin đi sâu tiếp vào nhân tố nhân vật giao tiếp. Nhân vật giao
tiếp là nhân tố đóng vai trò chủ động, tích cực trong hoạt động giao tiếp. Đỗ
Hữu Châu đã định nghĩa về nhân vật giao tiếp như sau: “Nhân vật giao tiếp là
người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo
ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau. Đó là tương tác
bằng ngôn ngữ” [3;tr.15]. Giữa các nhân vật giao tiếp có mối quan hệ liên cá
nhân và quan hệ vai giao tiếp. :
12
- Quan hệ vai giao tiếp là sự phân vai trong cuộc giao tiếp đối với chính
sự phát hay nhận tin. Trong giao tiếp hội thoại các nhân vật cùng có mặt và
thường xuyên chuyển đổi vai cho nhau: mỗi người lúc đóng vai người nói
(viết), lúc đóng vai người nghe (đọc). Nó thường phân thành “vai phát ngôn –
nuối tiếc muộn màng của chàng trai nhưng tỏ ý phàn nàn, trách móc về sự
thiếu chủ động của chàng trai đồng thời nàng cũng bày tỏ cảnh ngộ của mình
đầy thống thiết, xót xa. Khi chàng trai đóng vai người phát tin thì cô gái đóng
vai người nhận tin và ngược lại khi cô gái đóng vai người phát tin thì chàng
trai đóng vai người nhận tin. Như vậy trong cuộc giao tiếp này các nhân vật
giao tiếp có sự chuyển đổi vai giao tiếp cho nhau. Nhờ đó mà cuộc thoại được
diễn ra theo một trình tự logic và cả hai nhân vật đều đạt được đích giao tiếp.
- Quan hệ liên cá nhân:
Trong cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp ngoài quan hệ vai giao tiếp
ra còn có một quan hệ khác cũng không kém phần quan trọng là quan hệ liên
cá nhân. Quan hệ này sẽ giúp cho cuộc giao tiếp được tiến hành thuận lợi theo
chiều hướng tốt hay xấu, thậm chí thất bại. Quan hệ liên cá nhân là “quan hệ
so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật
giao tiếp với nhau” [5]. Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp sẽ xác lập vị thế
giao tiếp cao thấp khác nhau tùy vào địa vị xã hội. Địa vị xã hội có thể do
nhiều yếu tố quyết định như: tuổi tác, chức quyền, nghề nghiệp, trình độ hiểu
biết, kinh nghiệm sống, giai cấp, đồng hoặc khác cảnh ngộ, giàu hoặc nghèo,
xa hay gần thân hoặc sơ,…
Để giao tiếp có hiệu quả thì các nhân vật giao tiếp phải hiểu biết lẫn nhau
về các mặt sau:
+ Hiểu biết về vị thế: Vị thế ở đây được hiểu là vị thế xã hội và vị thế
giao tiếp Nói đến vị thế xã hội là nói các nhân vật giao tiếp ở vị trí nào trong
xã hội. Cao hay thấp? Trên hay dưới? Bình đẳng hay không bình đẳng? Vị thế
xã hội được quy định bởi tuổi tác, chức vụ, nghề nghiệp, giai cấp,... Nói đến
vị thế giao tiếp của nhân vật giao tiếp tức là xem các nhân vật giao tiếp ở vào
14
thế chủ động hay bị động trong điều hành hoạt động giao tiếp. Nhìn chung vị
Ở sơ đồ trên, ta thấy quan hệ liên cá nhân bao gồm quan hệ theo chiều
ngang và quan hệ theo chiều dọc giữa các nhân vật giao tiếp. Đỗ Hữu Châu
gọi mối quan hệ theo chiều ngang là trục khoảng cách hay trục thân cận và
mối quan hệ theo chiều dọc là trục quyền uy hay trục vị thế xã hội.
+ Trục quyền uy: khi giao tiếp các nhân vật giao tiếp sẽ xác lập vị thế
giao tiếp cao thấp khác nhau tùy vào địa vị xã hội. Mà địa vị xã hội có thể do:
tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ hiểu biết, kinh nghiệm sống… mà có. Người ở
vị thế giao tiếp cao có quyền quyết định nội dung giao tiếp. Chẳng hạn, một
cô giáo trẻ khi giảng dạy cho một lớp bồi dưỡng, mặc dù học trò là những
người lớn tuổi hơn nhưng cô vẫn có vị thế giao tiếp cao hơn, vị thế đó do
trình độ hiểu biết và định ước xã hội mà có được.
+ Trục khoảng cách: trục này có hai cực là thân tình và xa lạ với những
mức độ khác nhau. Khi giao tiếp các nhân vật giao tiếp có thể gần gũi mà
cũng có thể xa cách nhau. Và khoảng cách đó có thể được rút ngắn hay kéo xa
ra trong quá trình giao tiếp. Vì hai cực trên trục thân cận đối xứng nhau nên
thông thường trong quá trình giao tiếp nếu người nói dịch gần lại người nghe
thì người nghe cũng dịch lại gần người nói (trừ trường hợp có người không
cộng tác) và ngược lại.
Ví dụ (8): Để hiểu rõ những vấn đề trên chúng tôi xin chỉ ra quan hệ
liên cá nhân trong một bài viết ca dao đối đáp quen thuộc, được nhiều người
yêu mến. Đó là bài viết ca dao “Trèo lên cây bưởi hái hoa”:
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng rồi, anh tiếc lắm thay!
Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
16
17
người ông từng yêu là “em” và xưng “tôi”. Điều này cũng cho thấy vai giao
tiếp đặc biệt của nhà thơ với cô gái. Nhà thơ đứng ở vị trí người thầm yêu
nhưng không được cô gái đáp lại. Quan hệ liên nhân của nhà thơ với cô gái
vừa muốn gần lại vừa xa. Cách gọi “em” muốn kéo gần, nhưng cách xưng
“tôi” lại như làm quan hệ hai người xa cách.
Xuất phát từ sự tương tác, nhất là tương tác về vai giao tiếp, có thể nhận
thấy ít nhất là có hai nhóm khác nhau. Nhóm thứ nhất, xuất phát từ những
hành động hoàn toàn có tính chất tự nguyện từ phía S, thường dễ tạo ra không
khí giao tiếp cởi mở, chan hoà, và đặc điểm dễ thấy là thể diện và vị thế giao
tiếp của người nói, người nghe được đề cao. Nói cách khác, tự bản chất nhóm
này đã hàm chứa sự lịch sự, được cả cộng đồng đánh giá cao theo hướng tích
cực. Thậm chí trong một số trường hợp, chúng có khi được coi là những nhân
tố dùng để cứu vãn hoặc bù đắp thể diện khi có sự bất hoà, có thể kể như cảm
ơn, mời, xin lỗi....Nhóm thứ hai, về bản chất là đi ngược với nhóm thứ nhất.
Chúng dễ đụng chạm đến lợi ích, lãnh địa, thể diện của người khác, kết quả
thường dẫn đến không khí tương tác không được tự nhiên, nếu không khéo
léo có thể dẫn đến sự xung đột, mâu thuẫn, thậm chí dẫn đến những cuộc
tương tác bất thành.
Dựa vào các điều trên, ta có thể xây dựng bảng sau [32]
(chú thích:
VTGT – M: vị thế giao tiếp mạnh;
VTGT – Y: vị thế giao tiếp yếu;
VTGT – NB: vị thế giao tiếp ngang bằng;
CT: chủ động trong cuộc thoại;
MT: mở thoại;
MT (+): chủ động trong mở thoại; MT (-): bị động trong mở thoại;
DT: duy trì, dẫn dắt cuộc thoại;