ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
------------------------------
SẺN THU THẢO
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƢỞNG, PHÁT TRIỂN
MỘT SỐ GIỐNG CHÈ MỚI THỜI KỲ KIẾN THIẾT CƠ BẢN
TẠI ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Đại học chính quy
Chuyên ngành
: Trồng trọt
Khoa
: Nông học
Khoá học
: 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
: 2011 – 2015
Giảng viên hƣớng dẫn : TS. Dƣơng Trung Dũng
Thái Nguyên, năm 2015
LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự
hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của ngƣời khác.
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập ở giảng đƣờng đại học đến nay, em
đã nhận đƣợc rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn
bè. Đồng thời quá trình học tập giúp cho em đƣợc trực tiếp cọ sát với công việc
sản suất nông nghiệp để từ đó vững vàng hơn trong công tác sau này.
Xuất phát từ yêu cầu về đào tạo và thực tiễn. Đƣợc sự đồng ý của ban chủ
nhiệm khoa Nông học, trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số
giống chè mới được trồng tại mô hình trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên”. Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa
Nông học-Trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái nguyên đã cùng với tri thức và
tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong
suốt thời gian học tập tại trƣờng. Và đặc biệt em xin chân thành cảm ơn
Thầy giáo Ts. Dƣơng Trung Dũng – Giảng viên Khoa Nông học – Trƣờng
ĐH Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tâm hƣớng dẫn để em hoàn thành bài
khóa luận tốt nghiệp này. Nếu không có những lời chỉ dạy của thầy thì em
nghĩ bài thu hoạch của em rất khó có thể hoàn thiện đƣợc.
Bài khóa luận đƣợc thực hiện trong khoảng thời gian ngắn, kiến thức của
em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ. Do vậy, không tránh khỏi những
thiếu sót, em rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp quý báu của
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Đợt sinh trƣởng tự nhiên ............................................................ 13
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Ý nghĩa
KHKT
Khoa học kỹ thuật
KTCB
Kiến thiết cơ bản
ĐHNL
Đại học Nông Lâm
TCN
Tiêu chuẩn ngành
CT
2.4.1. Phƣơng pháp bố trí và sơ đồ thí nghiệm ........................................................24
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..........................................28
3.1. Ảnh hƣởng của điều kiện khí hậu thời tiết .......................................................28
3.2. Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh trƣởng, phát triển của một số giống chè
mới tại trƣờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên ......................................................30
3.2.1. Đặc điểm hình thái cây chè ............................................................................30
3.2.2. Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trƣởng, yếu tố cấu thành năng suất, chất
lƣợng của một số giống chè mới thời kỳ KTCB. ......................................................38
3.2.3. Nghiên cứu diễn biến tình hình sâu hại. ........................................................41
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .........................................................................44
4.1. Kết luận ..............................................................................................................44
42. Đề nghị ................................................................................................................45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................46
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm có
nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, sinh trƣởng phát triển tốt trong
điều kiện khí hậu nóng ẩm. Tuy nhiên, nhờ sự phát triển của khoa học, kỹ
thuật, cây chè đƣợc trồng ở nơi khá xa với nguyên sản của nó.
Cây chè đƣợc phát hiện và sử dụng đầu tiên ở Trung Quốc. Đến nay,
ngành chè có bƣớc phát triển rộng lớn với hơn 60 quốc gia sản xuất chè, tập
trung chủ yếu ở các nƣớc Châu Á và Châu Phi. Sản phẩm từ cây chè đang
đƣợc sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dƣới nhiều công dụng khác nhau
nghiệp, sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Sản xuất chè cho
thu nhập chắc chắn, ổn định góp phần quan trọng trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá Nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp
nông thôn vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam. Do vậy, Việt Nam
có chủ trƣơng phát triển chè trên cả hai hƣớng: Ổn định diện tích, thay thế
giống chè cũ bằng các giống chè chọn lọc, trồng các nƣơng chè theo kỹ thuật
thâm canh, gắn với công nghệ và kỹ thuật chế biến mới, tạo sản phẩm chè
chất lƣợng cao, an toàn, đáp ứng yêu cầu thị trƣờng tiêu thụ.
Trong sản xuất nông nghiệp, giống có vai trò rất quan trọng trong việc
nâng cao năng suất, sản lƣợng và chất lƣợng sản phẩm. Giống đƣợc coi là
tiền đề của sản xuất, là tƣ liệu không thể thay thế trong sản xuất nông
nghiệp. Đối với sản xuất chè, giống chè lại càng có ý nghĩa quan trọng trong
thâm canh tăng năng suất, chất lƣợng sản phẩm. Chè là cây lâu năm, trồng
một lần cho thu hoạch nhiều lần, trong thời gian dài từ 40-50 năm, đầu tƣ
trồng chè cao hơn nhiều lần so với các cây trồng ngắn ngày khác. Không thể
phá đi trồng lại hàng năm đƣợc. Mọi quyết định đúng đắn hay sai lầm về
3
giống chè sẽ có ảnh hƣởng đến sự phát triển của vƣờn chè trong thời gian rất
dài. Do vậy ở tất cả các nƣớc trồng chè, giống chè tốt là biện pháp đƣợc
quan tâm hàng đầu, đƣợc coi là khâu đột phá nhằm nâng cao sản lƣợng và
chất lƣợng chè.
Thái Nguyên đƣợc biết đến không những là cái nôi của chiến khu Việt
Bắc mà còn nổi tiếng với những dòng chè nhƣ Tân Cƣơng, Sông Cầu, Đại
Từ… Ngày nay, sản phẩm chè Thái Nguyên đã có thƣơng hiệu chính thống,
đƣợc nhà nƣớc bảo hộ. Tại Đại hội Đảng bộ lần thứ XVI đã chỉ rõ cây chè
là mũi nhọn để phát triển kinh tế, xây dựng đề án phát triển sản xuất, chế
biến tiêu thụ chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Nhu cầu mở rộng diện tích
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu đề tài nhằm củng cố lại cho sinh viên những kiến thức đã
học và làm quen dần với công việc thực tế.
Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin của sinh viên trong
quá trình điều tra nghiên cứu.
Có kết luận một cách chính xác về khả năng sinh trƣởng phát triển của một
số giống chè. Theo đó đề tài cũng xem nhƣ là một tài liệu tham khảo cho
ngƣời trồng chè và sinh viên các khóa tiếp theo.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Đánh giá, lựa chọn giống chè phù hợp điều kiện sinh thái giới thiệu
cho sản xuất tại Thái Nguyên.
5
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1.1. Cơ sở khoa học
Cây chè thuộc ngành hạt kín (Angiospermac) lớp hai lá mầm
(Dicotyledonae) bộ chè (Theales), họ chè (Thease), chi chè (Camellia), loài
(Sinensis), tên khoa học là Camillia Sinensis (L) O. Kuntze, đƣợc phân làm 4
thứ chè khác nhau (Colen Stuart - 1919). Đó là thứ chè Trung Quốc lá nhỏ
(Camellia Sinensis var bohea), thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis
var macrophylla); thứ chè Ấn Độ (Camellia Sinensis var. Assamica) và chè
Shan (Camellia Sinensis var. Shan). Mỗi thứ chè có đặc điểm hình thái:
Thân, cành, lá, búp khác nhau, có khả năng cho năng suất, chất lƣợng khác
nhau, có yêu cầu sinh thái khác nhau và phạm vi phân bố khác nhau.
Hiện nay chè đƣợc phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rất khác
ƣơm. Những vấn đề trên là cơ sở thực tiễn quan trọng của đề tài.
2.2. Tình hình sản xuất, nghiên cứu chè trên thế giới và trong nƣớc
2.2.1. Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới
2.2.1.1. Những kết quả nghiên cứu về giống chè
Công tác chọn tạo giống trong chè có vai trò rất quan trọng. Việc chọn
lọc, lai tạo giống mới không chỉ quyết định tới khả năng cho năng suất mà,
chất lƣợng mà còn ảnh hƣởng tới khả năng mở rộng địa bàn, chính vì vậy
công tác nghiên cứu chè đƣợc quan tâm từ rất sớm.
Năm 1905, trạm nghiên cứu chè đầu tiên đƣợc thành lập trên đảo Java
(Indonexia). Đến năm 1913, Cohen Suart đã phân biệt các giống chè dựa
trên hình thái, nghiên cứu sinh lý của sự ra hoa, kết quả, xác định đƣợc
những dấu hiệu đầu tiên của xự lựa chọn với những tƣơng quan cơ bản của
các yếu tố cấu thành năng suất.
Các nƣớc có thành tựu nổi bật trong việc lựa chọn giống mới là:
Theo Nguyễn Văn Toàn và cs (1994) [18]: In donexia bắt đầu trồng
chè vào năm 1964 nhƣng không thành công, đến năm 1872 mới thành công
trên giống Asam nhập từ Srilanka. Đến nay Indonexia là một trong năm
nƣớc có diện tích trồng chè lớn trên thế giới, 20 năm trở lại đây họ đã tích
7
cực chọn tạo giống mới cao sản và năm 1988 đã có các dòng chè vô tính
GMB-1, GMB-2, GMB-3, GMB-4, GMB-5 có sản lƣợng cao.
Ấn Độ là nƣớc đứng thứ hai thế giới về diện tích chè nhƣng lại là
nƣớc đứng đầu thế giới về sản lƣợng chè. Có đƣợc thành tích trên do Ấn Độ
luôn quan tâm đến công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới vào sản xuất.
Theo PGS Đỗ Ngọc Quý và cs (2000) [14] thì từ những năm 50 của
thế kỷ 20 Ấn Độ đã thành công trong việc chọn ra 110 giống chè tốt trong
đó có 102 giống chè đƣợc nhân giống bằng phƣơng pháp vô tính. Đến năm
cây chè
* Những nghiên cứu về chu kỳ phát triển cá thể cây chè của các nhà
khoa học cho thấy: chè có 2 chu kỳ phát triển là chu kỳ phát triển lớn và chu
kỳ phát triển nhỏ.
Chu kỳ phát triển lớn hay chu kỳ phát dục cá thể thì chia thành 5 giai
đoạn ( Theo tác giả Trung Quốc):
- Giai đoạn phôi thai ( giai đoạn hạt giống): Đƣợc tính từ khi tế bào
trứng thụ tinh bắt đầu phân chia, hình thành cho tới khi chín.
- Giai đoạn cây con: Đƣợc tính từ khì hạt chè nảy mầm cho đến khi
cây chè ra hoa, kết quả lần đầu. Giai đoạn này kéo dài 1 - 2 năm.
- Giai đoạn cây non: Đƣợc tính từ khi chè ra hoa, kết quả lần đầu tiên
khi cây chè định hình ( có bộ khung tán ổn định). Giai đoạn này kéo dài 2 –
3 năm.
- Giai đoạn chè lớn ( giai đoạn chè kinh doanh, sản xuất): Đƣợc tính
từ khi cây chè có bộ tán ổn định bƣớc vào giai đoạn kinh doanh, thu hoạch
búp tới khi có thể thay tán mới. Giai đoạn này kéo dài từ 30 – 40 năm hoặc
lâu hơn.
- Giai đoạn chè già cỗi (hết giai đoạn kinh doanh, sản xuất): Đƣợc tính
từ khi chè có biểu hiện thay tán lá đến khi chè già và chết.
Chu kỳ phát triển nhỏ (chu kỳ phát triển hang năm): Tính từ khi mầm
chè bắt đầu phân hóa sau đốn cho đến khi mầm chè ngừng sinh trƣởng. Nó
gồm 2 quá trình phát triển song song đó là quá trình sinh trƣởng sinh dƣỡng
và sinh trƣởng sinh thực.
- Quá trình sinh trƣởng sinh dƣỡng: Bao gồm sinh trƣởng búp, cành và
sinh trƣởng rễ.
- Quá trình sinh trƣởng sinh thực: Là quá trình hình thành trồi hoa, nở
hoa, thụ phấn, và kết hạt.
9
10
khí bình quân cho thấy số ngày cho 1 đợt sinh trƣởng biến động từ 30 – 45
ngày vào mùa hè và 70 – 160 ngày vào mùa đông.
* Nghiên cứu về sinh trƣởng búp chè trong điều kiện không đốn và có
đốn thì tác giả K.M Djemukhatde (1982) [4] cho rằng: trong điều kiện để
giống hay không đốn thì các mầm chè đƣợc phân hóa trong vụ thu và vụ
đông sẽ hình thành búp trong vụ xuân. Trong khi đó nƣơng chè có đốn thì sự
phân hóa mầm chè chủ yếu bắt đầu sinh trƣởng muộn hơn một số ngày so
với nƣơng chè để giống hay không đốn.
* K.M Djemukhatde (1948) đã nghiên cứu về mỗi quan hệ giữa búp
chè và năng suất đã cho thấy: Tƣơng quan giữa số lƣợng búp trên một đơn vị
diện tích là tƣơng quan chặt r = 0,965 0,004.
* Nghiên cứu mối quan hệ giữa lá chè và năng suất chè của K.E
Bakhotatde (1971) đã chỉ các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè nhƣ
sau: Màu sắc, kích thƣớc lá, cấu tạo giải phẫu lá.
Lá có màu vàng có lợi cho các chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa.
Lá có màu cafe có lợi cho các chỉ tiêu về sinh lý.
* I.G.Kerkatde (1080) đã nghiên cứu về hình dạng lá chè dựa trên góc
nghiêng của lá: Góc lá tối ƣu cho quang hợp là 45 độ.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu chè trong nước
2.2.2.1. Những kết quả nghiên cứu về giống chè
Năm 1918, Trạm nghiên cứu chè đầu tiên ở Việt Nam đƣợc thành lập,
từ đó công tác nghiên cứu chè đƣợc tiến hành rộng rãi và sâu sắc hơn. Theo
Dupasquer - 1923 , đến năm 1923, Việt Nam đã trồng đƣợc 10.368 ha chè
đầu tiên với giống chè là Trung Du, Shan và Atxam (Ấn Độ), đã thu thập
đƣợc tập đoàn gồm: 43 giống chè trong đó chủ yếu là chè Trung Quốc lá to
[8]. Bên cạnh việc điều tra, thu thập các giống, Trạm chè Phú Hộ cũng tiến
hành nhập các giống từ nhiều nƣớc. Từ năm 1918 - 1927 đã thu thập 13
kết nƣớc ta và quyết định số 43/1979/QĐ/TTg của chính phủ đến nay đã thu
thập thêm đƣợc một số giống chè đặc sản của Đài Loan, Trung Quốc nhƣ:
Phúc Vân Tiên, Keo Am Tích, Long Vân, Bát Tiên, Kim Tuyên, Vân
Sƣơng…Là cơ sở pháp lý quan trọng và cũng là cơ hội cho ngành chè tiến
hành một cuộc cách mạng trong nghiên cứu và sản xuất thông qua chƣơng
trình nhập khẩu giống.
12
Bảng 1.1 Thống kê các giống chè mới và diện tích
đã áp dụng trong sản xuất
Stt
Tên giống
chè
Năm công nhận giống
Diện tích áp dụng
1
PH1
Quốc gia 1986
2vạn ha, trồng tại các tỉnh trồng chè.
2
LDPH2
Khảo nghiệm 1994
2000ha tại Phú Thọ, Nghệ An, Hà
Tĩnh.
7
Kim Tuyên
Khảo nghiệm 2003
1000ha tại Lâm Đồng, Lạng Sơn.
Phú Thọ, Hà Tây, Yên Bái, Sơn La.
8
Bát Tiên
Khảo nghiệm 2003
800ha tại Sơn La, Tuyên Quang,
Lâm Đồng, Yên Bái.
9
Thúy Ngọc
Khảo nghiệm 2003
15ha, tại Phú Thọ, Nghệ An, Thái
Nguyên, Yên Bái.
13
Hùng Đỉnh
Bạch
Khảo nghiệm 2003
10h,tại Phú Thọ, Thái Nguyên,
Nghệ An, Yên Bái.
14
Cây Chè
Shan đầu
dòng
Khảo nghiệm 2003
1000ha, tại Yên Bái, Hà
Giang, Sơn La, Lào Cai,
Điện Biên, Lai Châu.
Tổng
500ha tại Phú Thọ, Tuyên Quang,
Thái Nguyên
1,5vạn ha tại các tỉnh trồng chè.
Giai đoạn hiện
Thời kỳ
hoạt động
Thời kỳ
tiềm sinh
Đợt
Sinh trƣởng
Sơ đồ 1.1: Đợt sinh trưởng tự nhiên
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) [8] cho thấy: Trong năm chè
có 3 - 5 đợt để sinh trƣởng, điều kiện thâm canh cao có thể có tới 8 - 9 đợt
sinh trƣởng. Thời gian hình thành một đợt sinh trƣởng dài hay ngắn phụ
thuộc vào giống, tuổi cây, điều kiện đất đai, khí hậu, chế độ canh tác.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Kính (1979) [8] nghiên cứu về mối quan
hệ giữa búp và sản lƣợng thì sản lƣợng chè quyết định bởi 2 yếu tố: Mật độ
búp và trọng lƣợng búp. Mật độ búp liên quan tới sản lƣợng của chè.
Tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994)[17] khi nghiên cứu về sinh trƣởng
búp chè và sản lƣợng chè đã cho rằng: Tổng số búp/cây có mối tƣơng quan
14
thuận không chặt với sản lƣợng, là yếu tố ổn định, vì thế số búp/cây có ý
nghĩa với sản lƣợng.
Tác giả Đỗ Văn Ngọc (1991) khi nghiên cứu về hệ số diện tích lá cho
rằng: Hệ số diện tích lá và mật độ búp có quan hệ thuận với nhau từ tháng 5
– 12. tác giả Nguyễn Văn Toàn (1994)[17] cũng có kết luận tƣơng tự và hệ
trong những quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn nhất thế giới với tốc độ
năng suất trung bình từ năm 1990 đến nay là 55% theo sau là Srilanka 45%,
Trung Quốc 35%, Indonesia 31%. Năm 1991 năng suất chè trung bình trên
thế giới là 1,12 tấn/ha, đến năm 2004 năng suất trung bình đã tăng 1,3 tấn/ha
(Nguyễn Hữu Khải, 2005) [7].
Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè trên thế giới từ năm 2005-2013
đƣợc thể hiện ở bảng 1.2:
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè thế giới từ năm 2005-2013
2007
Diện tích
(10.000ha)
288,839
Năng suất
(tạ/ha)
138,674
Sản lƣợng
(1000 tấn)
400,545
2
2008
299,218
141,452
477,121
6
2012
351,738
143,145
503,496
7
2013
352,122
151,809
534,552
STT
Năm
1
(Nguồn: Theo FAOSTAT, 2015)[24]
2007
2008
2009
2010
2011
2012
Trung Quốc 953,66
1.047,34 1.183,00 1.257,34 1.375,80 1.467,46 1.640,31 1.714,90
Turkey
217,54
201,86
206,16
1.100,27 198,60
235,00
221,60
314,10
399.00
377,91
369,40
Sri Lanka
317,20
310,80
305,22
318,47
290,00
282,30
327,50
330,00
Việt Nam
132,52
150,10
Nhật Bản
100,00
91,80
94,10
94,10
86,00
85,00
82,10
85,90
Bangladesh 57,58
58,00
58,50
59,00
59,50
nhất với 1.714,90 nghìn tấn, tiếp đó là Ấn Độ với sản lƣợng là 1.000 nghìn
17
tấn. Việt Nam đứng thứ 6 về sản lƣợng trong tổng số 10 nƣớc có sản lƣợng
chè lớn trên thế giới năm 2012.
Qua số liệu bảng 1.3 cho thấy, hai nƣớc có diện tích và sản lƣợng chè
cao nhất là Ấn Độ và Trung Quốc, cũng là hai nƣớc có khả năng tiêu thụ chè
lớn nhất thế giới. Các nƣớc còn lại nhƣ Anh, Mỹ, Canada ... sẽ là thị trƣờng
tiềm năng cho những nƣớc xuất khẩu chè.
Sản xuất chè trên thế giới tập trung chủ yếu ở Châu Á. Trong số 10
nƣớc dẫn đầu về sản lƣợng (chiếm khoảng 90% ổng sản lƣợng trên thế giới)
thì có tới 7 nƣớc Châu Á. Trong những năm qua, diện tích trồng chè thế giới
tăng không đáng kể nhƣng năng suất chè có sự cải thiện vƣợt bậc nên sản
lƣợng vẫn gia tăng. Trong khi đó chè đang bị cạnh tranh gay gắt từ các loại
đồ uống khác nên giá chè có xu hƣớng giảm từ năm 1998-1999 đến nay
(Nguyễn Hữu Khải, 2005) [7].
2.4. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam
Ở nƣớc ta có lịch sử phát triển chè lâu đời từ năm 1939 Việt Nam đã
là một trong những nƣớc xuất khẩu chè của thế giới, sau hơn 20 năm phát
triển kể từ khi nƣớc nhà thống nhất cả nƣớc có hơn 7,5 vạn ha chè trong khi
đó diện tích chè thu hoạch là 5,5 vạn ha, tổng sản lƣợng búp chè tƣơi đạt
198.000 tấn tiêu dùng trong cả nƣớc hơn 21000 tấn với tổng giá trị là 450 tỉ
đồng. Những con số này đã phần nào nói lên chè có một vị trí quan trọng
trong nền kinh tế nƣớc nhà. [5]
Cây chè hiện nay đƣợc phân bố trên địa bàn 40 tỉnh thành trong cả
nƣớc, tập chung chủ yếu ở những vùng chè trọng điểm nhƣ: Thái Nguyên,
Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Yên Bái…[1]
Ngành chè Việt Nam thừa hƣởng sự ƣu đãi của thiên nhiên và xã hội.