BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRIỆU NHƢ ĐOAN
TRƢỜNG NGHĨA CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƢỜI
TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TÀY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
SƠN LA, NĂM 2015
i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
TRIỆU NHƢ ĐOAN
TRƢỜNG NGHĨA CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƢỜI
TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TÀY
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60 22 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Bùi Minh Toán
SƠN LA, NĂM 2015
Triệu Nhƣ Đoan
iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 7
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 7
6. Đóng góp của đề tài....................................................................................... 8
7. Cấu trúc luận văn .......................................................................................... 8
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN .................................................................... 9
1.1. Lý thuyết về trường nghĩa .......................................................................... 9
1.1.1. Khái niệm về trường nghĩa...................................................................... 9
1.1.2. Tiêu chí và cách phân loại..................................................................... 12
1.1.3. Các loại trường nghĩa ............................................................................ 13
1.1.4. Hiện tượng chuyển trường .................................................................... 18
1.2. Quan niệm về thành ngữ, tục ngữ ........................................................... 20
1.2.1. Khái quát về thành ngữ, tục ngữ ........................................................... 20
1.2.2. Phân biệt thành ngữ với tục ngữ ........................................................... 21
1.2.3. Thành ngữ, tục ngữ dân tộc Tày ........................................................... 25
1.3 .Vấn đề nghĩa biểu trưng ........................................................................... 30
1.3.1. Khái niệm nghĩa biểu trưng................................................................... 30
1.3.2. Nghĩa biểu trưng trong thành ngữ, tục ngữ. .......................................... 32
Tiểu kết chương 1............................................................................................ 34
Chƣơng 2: XÁC LẬP TRƢỜNG NGHĨA “BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƢỜI”
TRONG THÀNH NGỮ, TỤC NGỮ TÀY .................................................. 36
3.2.4. Biểu trưng cho sự phân chia giàu nghèo trong xã hội .......................... 85
3.2.5. Biểu trưng cho tâm trạng, tình cảnh thực tại của con người ................. 87
vi
3.2.6 Biểu trưng cho những kinh nghiệm trong xã hội ................................... 89
Tiểu kết chương 3............................................................................................ 99
KẾT LUẬN .................................................................................................. 101
1. Về số lượng của các câu thành ngữ, tục ngữ và các bộ phận cơ thể trong
thành ngư, tục ngữ Tày: ................................................................................ 101
2. Về các tiểu trường trong trường nghĩa bộ phận cơ thể người ................. 101
3. Về tính biểu trưng trong ngữ nghĩa của tục ngữ, thành ngữ của người Tày
....................................................................................................................... 102
4. So sánh đối chiếu với thành ngữ, tục ngữ có chứa từ chỉ bộ phận cơ thể
người trong tiếng Việt ta thấy; ...................................................................... 102
5. Một số nhận xét ......................................................................................... 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 103
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Thống kê số lượng các tên gọi trong các đặc trưng làm cơ sở ....... 39
Bảng 2.2. Thống kê số lượng bộ phận cơ thể trong các trường nghĩa chỉ bộ bộ
phận cơ thể người trong tiếng Việt ................................................................. 42
Bảng 2.3. Tên gọi một số bộ phận trên cơ thể con người theo cách phân chia
đầu/mình/tứ chi ............................................................................................... 43
Bảng 2.4. Tên gọi một số bộ phận trong cơ thể con người ............................. 45
Bảng 2.5. Số lần xuất hiện và tỷ lệ các bộ phận cơ thể trong tục ngữ Tày..... 47
và được sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày của cư dân bản xứ. Song
để biểu thị các khái niệm xã hội, chính trị, pháp lý, khoa học…thì tiếng Tày
phải vay mượn từ tiếng Hán và đặc biệt từ tiếng phổ thông là tiếng Việt. Sự
vay mượn được hình thành trong thực tiễn đời sống nên phù hợp với quy luật,
điều đó đã làm cho tiếng Tày trở nên phong phú, có sức sống mãnh liệt, bền
bỉ trở thành công cụ giao tiếp trong cộng đồng cư dân người Tày xưa và nay.
Vì vậy , việc nghiên cứu tục ngữ dân tộc Tày trước hết là để hiểu rõ hơn về
văn hóa Tày, góp phần giới thiệu và tôn vinh nền văn hóa của dân tộc Tày.
1.2. Tục ngữ, thành ngữ Tày có thể coi là bộ bách khoa thư về cuộc sống
muôn màu muôn vẻ của cộng đồng dân tộc Tày, là bộ phận quan trọng cuả
nền văn hóa Tày. Vì thế thành ngữ, tục ngữ Tày nói riêng cũng như thành
ngữ, tục ngữ Tày nói chung đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều
ngành khoa học khác nhau, đặc biệt là các ngành khoa học xã hội như: Văn
1
hóa, dân tộc học, lịch sử, văn học, ngôn ngữ học. Hiện nay việc nghiên cứu về
tục ngữ, thành ngữ đã đạt nhiều thành tựu lớn. Tuy nhiên, các công trình
nghiên cứu về tục ngữ, thành ngữ của các dân tộc thiểu số, trong đó có dân
tộc Tày còn ít. Cụ thể, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về Trường
nghĩa bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ Tày. Vì vậy có thể cho
rằng việc tìm hiểu về trường nghĩa bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục
ngữ Tày là góp phần khai thác vốn văn hóa của dân tộc Tày ở một bình diện
mới, làm rõ thêm nét đặc sắc của nền văn hóa dân tộc Tày.
1.3. Là người con của dân tộc Tày, sinh ra lớn lên và trưởng thành từ mảnh
đất mà phần đa là người Tày cùng sinh sống, tác giả luận văn thiết tha với
tiếng nói và văn hóa của dân tộc mình, muốn bày tỏ tình yêu dân tộc và tiếng
mẹ đẻ của mình bằng việc tìm hiểu, nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ Tày nơi
chứa đựng nhiều giá trị độc đáo, mang đậm bản sắc riêng của dân tộc. Bên
cạnh đó, tác giả luận văn cũng hi vọng rằng, kết quả nghiên cứu về thành ngữ,
Ngọc Phan đã phân biệt giữa thành ngữ, tục ngữ cụ thể như sau:“Tục ngữ là
một câu, tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý., còn thành ngữ là một phần câu có
sẵn, là một bộ phận của câu mà nhiều người quen dùng, nhưng tự nó không
diễn đạt trọn vẹn” „[50, 31]. Nhiều tác giả đã có công trình nghiên cứu về tục
ngữ như: Nguyễn Lực, Lương Văn Đang.
Cuốn “Tục ngữ Việt Nam” của nhóm tác giả (Chu Xuân Diên, Lương
Văn Đang, Phương Tri), là công trình nghiên cứu công phu về tục ngữ Việt
Nam, Ở công trình này, tác giả đưa ra quan điểm nghiên cứu công phu về tục
ngữ trên hai bình diện, đó là nghiên cứu tục ngữ về mặt xã hội học, tứ c là
nghiên cứu tục ngữ với tư cách là một hiện tượng ý thức xã hội và nghiên cứu
tục ngữ ở bình diện là một hiện tượng ngôn ngữ , tức là nghiên cứu tục ngữ
với tư cách là một đơn vị thông báo có tính nghệ thuật. Từ đó tác giả khẳng
định kho tàng tục ngữ Việt Nam “Là một văn liệu quý giá do nhân dân lao
3
động sáng tạo và tích lũy từ hàng nghìn năm nay, trong đó kết tinh được
những đặc điểm cỏ bản nhất của lối nói dân gian, lối nói dân tộc ” [19,41].
Những năm 90 trở về đây, xuất hiện nhiều cuốn tục ngữ của nhiều tác
giả như: Mã Giang Lân, Châu Nhiên Khanh, hay nhóm tác giả Nguyễn Cừ,
Nguyễn Thị Huế, Trần Thị An, Các công trình của các tác giả này chủ yếu là
sưu tầm, biên soạn , tổng hợp và giới thiệu các công trình nghiên cứu Việt
Nam. Bên cạnh đó có sự xuất hiện nhiều bài viết, luận văn, luận án nghiên
cứu về tục ngữ Việt Nam. Đây chính là cơ sở lí luận, nguồn tư liệu quý giá, là
tiền đề khoa học cho việc nghiên cứu tục ngữ các dân tộc khác trên đất nước
Việt Nam, trong đó có tục ngữ Tày.
2.2 Việc sưu tầm, nghiên cứu tục ngữ, thành ngữ Tày
Tục ngữ Tày đã thể hiện được lối nói của người dân Tày, đây là lối nói
có hình ảnh, có hình tượng gắn liền với tư duy của người Tày và là văn hóa
của người Tày, Đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến giá trị của tục
tục ngữ Tày.
Ngoài ra còn có thêm nguồn tư liệu nữa là trong các luận văn Luận văn
tốt nghiệp Thạc sĩ Phùng Thị Ngọc về đề tài “Trường nghĩa chỉ động vật
trong tục ngữ của người Tày” (2013) Đại học sư phạm Hà Nội; Thạc sĩ Hồ
Ngọc Tân về đề tài “Văn hóa ứng xử của người Tày qua tục ngữ về quan hệ
gia đình xã hội”, (2007, Đại học Sư phạm Thái Nguyên).
Điểm lại quá trình nghiên cứu, sưu tầm tục ngữ Tày từ những năm 70
của thể kỷ trước trở về đây, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề đáng chú ý sau:
Một là: Tục ngữ Tày với tư cách là đơn vị của ngôn ngữ Tày, là một loại
hình trong kho tàng văn chương truyền khẩu của người Tày. Đã từ lâu tục ngữ
Tày đã trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu về tục ngữ Tày được
công bố. Đây là tài sản có giá trị của một cộng đồng dân tộc, là nguồn tư liệu
vô cùng quý hiếm, rất hữu ích cho việc nghiên cứu tiếp theo về tục ngữ Tày.
5
Hai là: Những công trình nghiên cứu trên phần lớn tập trung sưu tầm, giói
thiệu về các đơn vị tục ngữ Tày, trong đó đã có công trình nghiên cứu tục ngữ
Tày về khía cạnh văn hóa ứng xử của người Tày trong quan hệ gia đình và xã
hội. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về trường nghĩa bộ phận cơ
thể người trong thành ngữ, tục ngữ Tày.
Ba là: Dù đã được nhiều tác giả quan tâm, nhưng ý nghĩa của trường
nghĩa các bộ phận cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ Tày vẫn chưa được
chú ý một cách thích đáng. Tìm hiểu, nghiên cứu về trường nghĩa các bộ phận
cơ thể người trong thành ngữ, tục ngữ Tày chính là để khám phá và giới thiệu
về thành ngữ, tục ngữ Tày một cách chi tiết cụ thể hơn, để mọi người thấy rõ
thành ngữ, tục ngữ Tày là nơi tinh túy, đúc kết kinh nghiệm và khả năng sáng
tạo trong tư duy của người Tày, đồng thời thấy được tài năng của tác giả dân
gian trong quá trình sáng tác kho tàng kho tàng văn hóa phi vật thể này.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là trường nghĩa bộ phận cơ thể
người trong thành ngữ, tục ngữ dân tộc Tày.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Chủ yếu dựa vào cuốn “Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu
số việt Nam” (2008, Viện nghiên cứu văn hóa, Hà Nội) và cuốn “Từ điển
thành ngữ- Tục ngữ Dân tộc Tày” (1996, Tác giả Triều Ân, Hoàng Quyết ,
NXB Văn hóa Dân tộc). Ngoài ra còn có tư liệu thống kê tục ngữ, thành ngữ
Tày qua tìm hiểu một số gia đình ở tỉnh Cao Bằng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Lựa chọn phương pháp nghiên cứu là căn cứ vào mục đích và đối
tượng nghiên cứu của đề tài. Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng những
phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
5.1. Thủ pháp thống kê phân loại được sử dụng trong quá trình thống kê và
thu thập tư liệu: Thu thập toàn bộ các đơn vị thành ngữ, tục ngữ Tày có từ
ngữ bộ phận cơ thể người
7
5.2. Phương pháp phân tích ngữ nghĩa, và các thủ pháp quy nạp, tổng hợp
cũng được chúng tôi sử dụng để tìm ra ý nghĩa của các từ ngữ bộ phận cơ thể
người trong thành ngữ, tục ngữ Tày và rút ra những kết luận cần thiết trong
quá trình nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ Tày.
5.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng để làm sáng tỏ những đặc
điểm về cấu trúc hình thức và ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ Tày so với
thành ngữ, tục ngữ Việt.
6. Đóng góp của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Trên cơ sở tư liệu thực tế, luận văn góp phần làm sáng tỏ lý thuyết về
điểm của F.De Saussure: “Giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố
xung quanh quy định”, và “chính phải xuất phát từ cá toàn thể làm thành một
khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng” [7, 243,244] đã thúc đẩy
một cách quyết định sự hình thành nên lý thuyết về các trường. Ở Đức, lý
thuyết về trường gắn liền với tên của các nhà nghiên cứu như: J. Trier và L.
Weisgerber.
Về mặt thuật ngữ, J. Trier không có những cách dùng cố định và cũng
chưa đưa ra được những định nghĩa thật rõ ràng cho những thuật ngữ của
mình. Đọc các tác phẩm của J. Trier, người đọc không có được sự phân biệt
giữa “vùng” với “trường” thật chắc chắn, mà chỉ có thể hiểu theo nghĩa mơ hồ
rằng “trường từ” và “trường khái niệm” theo tác giả là khác nhau. J. Trier cho
rằng: “Trong ngôn ngữ, mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là
quan hệ với các từ trong trường quy định, rằng “trường” là những hiện thực
ngôn ngữ nằm giữa từ (riêng lẻ) với toàn bộ từ vựng, từ quan hệ với toàn bộ
từ vựng cũng như quan hệ với trường của mình”. Theo J. Trier, trường khái
niệm là một hệ thống rộng bao gồm những khái niệm cơ bản có mối quan hệ
9
với nhau, đươc tổ chức lại xung quanh một khái niệm trung tâm. Mỗi trường
khái niệm được các từ phủ lên trên, mỗi từ tương ứng với một khái niệm.
Trường từ vựng là tập hợp các từ phủ lên trên một trường khái niệm.
Sau J. Trier, L.Weisgerber cũng có những quan niệm bổ sung cho lý
thuyết về trường của ông. Theo L.Weisgerber, cần phải tính đến các “góc
nhìn” khác nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hóa
một lĩnh vực nào đó của cuộc sống. Ông thay thế sự phân tích từ bằng sự phân
tích các khái niệm nằm trong “tinh thần” của một ngôn ngữ nào đó. Do vậy,
khả năng thấu hiểu nội dung của từ được thu nhận một cách đầy bí ẩn khi cá
nhân nào đó trưởng thành trong ngôn ngữ mẹ đẻ hoặc phải rất thành thạo
tiếng nước ngoài. Tuy nhiên, theo Đỗ Hữu Châu, quan điểm của
thù của tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập âm tiết tính, từ không biến đổi về hình
thái nên ông ít quan tâm tới trường cấu tạo từ mà quan tâm tới trường từ vựng
– ngữ nghĩa của tiếng Việt. Ông cho rằng, việc phân lập trường nghĩa dựa trên
ý nghĩa của từ, bởi “những quan niệm về ngữ nghĩa của từ sẽ hiện ra khi đặt
các từ (nói cho đúng ra là ý nghĩa của từ) vào những hệ thống con thích hợp.
Nói cách khác, tính hệ thống ngữ nghĩa trong từ vựng thể hiện qua những tiểu
hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ
riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữa những tiểu hệ thống chứa chúng”. Từ đó,
Đỗ Hữu Châu đưa ra quan niệm: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là
một trường nghĩa. Đó là tập hợp đồng nhất với nhau về nghĩa” [6, 171].
Tác giả Đỗ Việt Hùng trong Nhập môn ngôn ngữ học đưa ra quan niệm về
trường nghĩa: “Các đơn vị từ vựng đồng nhất với nhau về nghĩa tập hợp
thành trường nghĩa” [10, 227].
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về trường từ vựng, tuy
nhiên, các nhà nghiên cứu thường dựa trên các quan điểm của các nhà ngôn
ngữ học nước ngoài và căn cứ vào thực tế tiếng Việt để đưa ra các lý thuyết
11
về trường nghĩa. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng các cơ sở lý thuyết
của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở chính.
1.1.2. Tiêu chí và cách phân loại
Theo Đỗ Hữu Châu trong Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, các tiêu chí để
phân lập các trường từ vựng – ngữ nghĩa là tiêu chí ngôn ngữ, bởi lẽ các
trường từ vựng - ngữ nghĩa là các sự kiện ngôn ngữ. Ông cho rằng: “Không
thể bắt đầu sự phận lập bằng các phạm vi sự vật, hiện tượng mà con người có
thể hiểu biết từ ngoài ngôn ngữ, cũng không thể bắt đầu các vùng khái niệm
đã có trong tư duy”. Do vậy, cơ sở để phân lập trường là các ý nghĩa của từ,
tức là những ý nghĩa ngôn ngữ. Có thể, những sự kiện, sự vật, khái niệm lĩnh
hội được nhưng nếu không biểu thị bằng từ thì chúng vẫn không phải là yếu
Tiêu chí thứ bảy: Để xác lập trường liên tưởng, cơ sở để tạo lập là các
nghĩa ngữ dụng của từ trung tâm. Từ trung tâm khi cùng xuất hiện với một
loạt từ nào đấy trong ngữ cảnh trùng lặp sẽ có hiện tượng đẳng cấu ngữ nghĩa,
khi đó tạo thành một trường nghĩa liên tưởng mà các từ có quan hệ với nhau
nhờ những mối liên tưởng ngữ nghĩa nào đó Cơ sở ngữ nghĩa học và từ
vựng- (1998) [11],[124], [171].
1.1.3. Các loại trường nghĩa
F. De. Saussure trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương đã chỉ ra hai
dạng quan hệ ngang (hay quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ
đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến hay quan hệ hệ hình).
Đỗ Hữu Châu Cơ sở ngữ nghĩa học và từ vựng (1998) [242], [260]
cho rằng, mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Đó là
những tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa. Do quá lớn và phức tạp
nên những liên hệ ngữ nghĩa trong từ vựng không hiện ra một cách trực tiếp
giữa các từ lựa chọn một cách ngẫu nhiên. Với các trường nghĩa, có thể phân
định một cách tổng quát thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường
nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường.
13
1.1.3.1. Trường nghĩa dọc
1.1.3.1.1. Trường nghĩa biểu vật
Trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nhất một số nét nghĩa
trong ý nghĩa biểu vật. Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa các nghĩa biểu
vật của các từ về trường biểu vật thích hợp, chúng ta chọn danh từ làm gốc.
Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm
trù biểu vật như: người, động vật, thực vật, thực thể, chất liệu,.. các danh từ
này cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế nét nghĩa của từ về mặt
biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp nét nghĩa của từ.
Ví dụ như trường biểu vật về hoạt động của người gồm:
vào nhau và cũng có lõi trung tâm với từ các từ điển hình và những từ ở
những lớp kế cận trung tâm, những từ lớp ở ngoại vi.
VD: - Trường biểu niệm có trạng thái tâm lý Y... (hướng tới đối tượng
B): yêu, ghét, nhớ, thương, thương cảm, thương hại, nhớ nhung, căm ghét,
căm thù, khinh bỉ, lo sợ, sợ, khinh bỉ,..
- Trường biểu niệm Hoạt động của chủ thể A... (tự mình làm cho mình
có tình trạng Y)... A động hay tĩnh:
A động tại chỗ một cách cơ giới: đảo, lảo đảo, cựa quậy, động đậy…
A rời chỗ hoặc dừng lại một cách cơ giới: đi, chạy, ra, vào, bò,bơi, nhảy…
A là thiết bị cơ khí: chạy, hoạt động, vận hành,..
A là trạng thái tâm lý: xao xuyến, bồi hồi, rung động, e ấp,..
Như vậy, sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật và trường biểu
niệm là dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ. Nó phản ánh
hai cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau: Nếu lấy những nét nghĩa biểu
vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập hợp thì chúng ta có trường
biểu vật. Nhưng nếu cần phân một trường biểu vật thành các trường nhỏ thì
lại cần phải dựa vào các nét nghĩa khác trong cấu trúc biểu niệm. Khi phân
15
lập các trường biểu niệm, chúng ta dựa vào cấu trúc biểu niệm, song khi phân
nhỏ chúng ra, đến một lúc nào đó phải sử dụng đến nét nghĩa biểu vật.
1.1.3.2. Trường nghĩa ngang (Trường nghĩa tuyến tính)
Theo Saussure ngôn ngữ học đại cương (1916) cái biểu hiện của tín
hiệu ngôn ngữ diễn ra trong thời gian, do đó, nó chỉ có một tuyến, một chiều
từ trước đến sau, hay nói cách khác, âm thanh ngôn ngữ phải kế tiếp nhau
thành chuỗi chứ không thể xuất hiện đồng thời. Do đó, quan hệ ngữ đoạn còn
gọi là quan hệ ngang hay quan hệ tuyến tính. Thông qua các quan hệ ngữ
đoạn, các từ sẽ bộc lộ các ý nghĩa từ vựng ngữ pháp của chúng. Như vậy,
trường nghĩa ngang xuất phát từ tính hình tuyến của tín hiệu ngôn ngữ.
trong một trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là
những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với trung
tâm. Song trong trường liên tưởng còn có nhiều từ khác được liên tưởng tới
do xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề
tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại. Vì thế, các trường liên tưởng có tính dân
tộc, tính thời đại và tính cá nhân. Điều này được thể hiện ở sự liên tưởng khác
nhau giữa các dân tộc như: Ở Việt Nam, nói đến bò, người ta nghĩ ngay đến
sự ngu dốt (ngu như bò, dốt như bò,..), hoặc nói tới chó, người ta liên tưởng
đến thói hư tật xấu, sự tham lam, độc ác. Nhưng ở các nước phương Tây như
Pháp, người ta lại liên tưởng đến sức mạnh ở loài bò và sự trung thành của
loài chó; Hay ở một số nước, trâu là loài vật linh thiêng và không ăn được thì
điều đó hoàn toàn ngược lại ở Việt Nam.
Ảnh hưởng bởi những tính chất trên, trường liên tưởng thường không ổn
định nên ít có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các
từ và từ vựng. Tuy nhiên, trường liên tưởng có hiệu lực lớn giải thích sự dùng
từ, nhất là dùng từ trong tác phẩm văn học, giải thích các hiện tượng sáo ngữ,
17