LỜI MỞ ĐẦU
“Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nong dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân
công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2 Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001).
Hoạt động của nhà nước Việt Nam được thực hiện thông qua hoạt động của các
cơ quan nhà nước. Hệ thống cơ quan nhà nước Việt Nam từ trung ương đến địa
phương được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất
nhằm thực hiện những chức năng của Nhà nước.
Cuốn tiểu luận “Phân tích mối quan hệ giữa các cơ quan trong bộ máy Nhà
nước Việt Nam” làm rõ các mối liên hệ của các cơ quan trong bộ máy Nhà
nước Việt Nam.
Do kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót trong bài viết, rất
mong thầy, cô thông cảm và đóng góp ý kiến để nhóm em có thể nâng cao kiến
thức của mình. Chúng em xin chân thành cảm ơn!
I.
Khái quát về bộ máy Nhà nước Việt Nam:
CHỦ TỊCH
NƯỚC
QUỐC HỘI
UBTVQH
CHÍNH
PHỦ
CẤP
HUYỆN
UBND
CẤP
HUYỆN
TAND
CẤP
HUYỆN
VKSND
CẤP
HUYỆN
HĐND
CẤP XÃ
UBND
CẤP XÃ
HỘI
ĐỒNG
BẦU CỬ
QG
KIỂM
TOÁN
NHÀ
NƯỚC
hiện quyền thi hành pháp luật.Chính phủ có nhiệm vụ tổ chức thi hành
Hiến pháp, luật do Quốc hội ban hành, đề xuất, xây dựng chính sách trình
Quốc hội, thống nhất quản lý hành chính quốc gia, bảo vệ quyền và lợi
ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người; bảo đảm trật tự, an toàn xã
hội...
Thủ tướng là người đứng đầu và lãnh đạo điều hành các hoạt động
của Chính phủ. Thủ tướng có các quyền hạn như lãnh đạo việc xây dựng
chính sách và tổ chức thi hành pháp luật, đề nghị Quốc hội bổ nhiệm các
Bộ và các cơ quan ngang Bộ, lãnh đạo và chịu trách nhiệm về hoạt động
của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo
đảm tính thống nhất và thông suốt của nền hành chính quốc gia...
Nguyễn Xuân Phúc (sinh 1954) là một chính
khách Việt Nam. Ông là đương kim Thủ
tướng Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam kể từ ngày 7 tháng 4 năm
2016, Thủ tướng thứ 9 của Việt Nam. Ông
cũng là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản
Việt Nam khóa XI, XII, Đại biểu Quốc hội
khoá XI, XII, XIII.
•
Phó thủ tướng có nhiệm vụ giúp Thủ tướng làm nhiệm vụ theo sự phân
công và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng về nhiệm vụ được phân công.
3.
•
XI, XII, Bí thư Trung ương Đảng khóa XII;
đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIII.Ngày
8/4/2016,ông trúng cử chức vụ Chánh án Tòa
án Nhân dân Tối cao
•
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư
pháp. Viện kiểm sát hoạt động trong tố tụng hình sự để thực hiện việc
buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội. Ngoài những cấp trên còn
có Viện kiểm sát quân sự các cấp.
Lê Minh Trí (sinh ngày 1 tháng 11 năm
1960) là một chính khách Việt Nam. Chức vụ
hiện tại của ông là Viện trưởng Viện Kiểm
sát Nhân dân Tối cao, Ủy viên Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, Phó trưởng ban Nội
Chính Trung ương phụ trách về Nội chính
phía Nam.
5.
•
•
6.
•
•
Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân:
Ủy ban nhân dân ở cấp địa phương là do Hội đồng nhân dân cùng cấp
III.
1.
2. Mối quan hệ giữa Quốc hội và Chủ tịch nước:
• Chủ tịch nước do Quốc hội bầu. miễn nhiệm, bãi nhiệm (trong số đại biểu
•
•
•
•
•
•
Quốc hội), theo sự giới thiệu của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, có cùng
nhiệm kỳ với nhiệm kỳ của Quốc hội.
Quốc hội quy định tổ chức và hoạt động của Chủ tịch nước.
Chủ tịch nước chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội. Quốc
hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước trái với Hiến pháp,
luật, nghị quyết của Quốc hội.
Là đối tượng thuộc quyền giám sát tối cao của Quốc hội, Chủ tịch nước
phải trả lời chất vấn trước Quốc hội tại kỳ họp; trong trường hợp cần điều
tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Ủy ban thướng vụ
Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội, hoặc trả lời bằng văn bản.
Là đại biểu Quốc hội, Chủ tịch nước có quyền tham dự các kỳ họp của
Quốc hội, biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, trình
dự án luật ra trước Quốc hội, chất vấn những chức danh do Quốc hội bầu
hoặc phê chuẩn.
Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch
quốc hội và các ủy viên Ủy ban thường vụ quốc hội.
Quốc hội xem xét báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Quốc hội bãi bỏ các văn bản của Ủy ban thường vụ Quốc hội trái với
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
Ủy ban thường vụ Quốc hội tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các
kỳ họp Quốc hội.
Ủy ban thường vụ Quốc hội giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh.
Ủy ban thường vụ quốc hội ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội
giao.
Ủy ban thường vụ quốc hội giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội, trình Quốc hội quyết định hủy bỏ những văn bản trái
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.
Ủy ban thường vụ quốc hội chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của
Hội đồng nhân dân và các Ủy ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm
điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội.
Ủy ban thường vụ quốc hội, trong trường hợp Quốc hội không họp được,
quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược
và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp gần nhất của Quốc
hội.
Ủy ban thường vụ Quốc hội, tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của
Quốc hội.
Mối quan hệ giữa Quốc hội và Tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao:
Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
•
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Chính phủ miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, các Phó chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; phê chuẩn việc
miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương.
Chính phủ đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị
của Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan
Nhà nước cấp trên.
Mối quan hệ giữa Chính phủ và Hội đồng nhân dân các cấp:
Chính phủ hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân trong việc thực hiện
văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, tạo điều kiện để Hội đồng nhân
dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do luật định.
Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của Hội đông nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương trái với Hiên pháp, luật và các văn bản
của cơ quan Nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban thường vụ
Quốc hội bãi bỏ.
Mối quan hệ giữa Chính phủ và Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
tối cao:
Chính phủ phối hợp Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát tối cao trong
việc đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp
và pháp luật, giữ vững kỷ cương, pháp luật nhà nước, nhằm thực hiện các
mục tiêu kinh tế- xã hội và các chủ trương, chính sách của Nhà nước.
•
Chính phủ mời Chánh án Tòa án nhân dân và Viện trưởn Viện kiểm sát
nhân dân tối cao dự các phiên họp của Chính phủ về các vấn đề có liên
quan.
chấp thuận việc từ chức đối với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành
viên khác của Chính phủ.
• Tham dự các phiên họp của Chính phủ khi xét thấy cần thiết, có quyền
phát biểu ý kiến nhưng không có quyền biểu quyết hoặc Chính phủ sẽ
mời Chủ tịch nước đến tham dự các phiên họp của Chính phủ và trình
Chủ tịch nước quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch
nước.
• Hàng quý, sáu tháng, Chính phủ phải gửi báo cáo công tác đến Chủ tịch
nước.
10. Mối quan hệ giữa Chủ tịch nước và Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát tối cao:
• Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao.
9.
•
•
•
Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án, Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa
án Quân sự Trung ương; Phó viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát
tối cao.
Trong thời gian Quốc hội không họp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
và Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao phải báo cáo công tác và chịu trách
nhiệm trước Chủ tịch nước.
Chủ tịch nước bằng quyết định của mình, thành lập Hội đồng đặc xá để