Tiểu luận môn Triết học
Giảng viên: PGS,TS Trương Quốc Chính
MỤC LỤC
Trang
Mục lục.................................................................................................................1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài..............................................................................................2
II. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài..................................................2
1. Mục đích............................................................................................................2
2. Nhiệm vụ...........................................................................................................2
III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...............................................................3
IV. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................3
PHẦN NỘI DUNG
I. Khái niệm thực tiễn.........................................................................................4
II. Khái niệm lý luận...........................................................................................6
III. Biện chứng giữa lý luận và thực tiễn..........................................................6
1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin..............................................................6
2. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn ...........................................................................................................................7
3. Yêu cầu trong hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn..................................7
VI. Các căn bệnh do không quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn......................................................................................................................8
1. Bệnh kinh nghiệm.............................................................................................8
2. Bệnh giáo điều..................................................................................................8
V. Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và biện pháp
khắc phục các căn bệnh do không quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn hiện nay.......................................................................................................8
VI. Các giải pháp để vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn và biện pháp khắc phục các căn bệnh do không quán triệt nguyên tắc thống
Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ ngày một thêm gắn bó. Phát huy cao độ
quyền làm chủ của nhân dân, đã động viên được lực lượng toàn dân tham gia
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cách mạng nước ta đã liên tục đạt được những
thành quả to lớn trêm mọi lĩnh vực, trong công cuộc đổi mới toàn diện hiện nay.
Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
tạo ra sức mạnh to lớn, góp phần quyết định vào sự thành công của cách mạng.
Quyền làm chủ của nhân dân trong mọi mặt của đời sống xã hội đã được ghi
nhận trong hiến pháp 1992 và được cụ thể hoá các văn bản pháp luật của Nhà
nước, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, động viên sức mạnh vật chất
và tinh thần to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội,
tăng cường đại đoàn kết của toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây
dựng Đảng bộ, chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở cơ sở trong sạch, vững
mạnh.
Vì vậy, em chọn đề tài “Phương hướng và giải pháp cải thiện mối quan hệ
giữa tăng cường sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam với phát huy và thực
hành dân chủ XHCN trong điều kiện hiện nay” làm tiểu luận của mình.
II. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
1. Mục đích
- Làm rõ cơ sở lý luận và phân tích, đánh giá khách quan thực trạng việc
lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam với phát huy và thực hành dân chủ
Thực hiện: Bùi Phan Quang Tuấn – Lớp HC20-TN7
Trang 2
Tiểu luận môn Triết học
Trang 3
Tiểu luận môn Triết học
Giảng viên: PGS,TS Trương Quốc Chính
PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DÂN CHỦ
1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin về dân chủ:
Nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội loài người, Các Mác người đầu
tiên đặt cơ sở khoa học cho chủ nghĩa xã hội khoa học và sau đó cho toàn bộ
phong trào công nhân để chứng minh rằng ''Toàn bộ lịch sử loài người từ khi
phân chia thành giai cấp đến nay là lịch sử đấu tranh giai cấp''. Mác và Ăng ghen
chỉ rõ để đảm bảo cho cuộc đấu tranh giai cấp vô sản thắng lợi phải đảm bảo 2
yếu tố cơ bản đó là giai cấp vô sản phải thành lập được chính đảng vô sản của
mình và Đảng cộng sản phải làm công tác vận động quần chúng để vận động
đông đảo đa số quần chúng tích cực tự nguyện tham gia cách mạng. Người
khẳng định quần chúng nhân dân chính là lực lượng quyết định lịch sử , quần
chúng nhân dân là lực lượng chủ yếu của mọi cuộc cách mạng xã hội, bởi lẽ các
xã hội có đối kháng giai cấp, chính cuộc đấu tranh của những người bị áp bức
bóc lột chống lại giai cấp bóc lột là động lực thúc đẩy các xã hội đó phát triển.
Vì khi các cuộc đấu tranh đến mức quyết liệt (cách mạng xã hội) sẽ làm sụp đổ
chế độ xã hội cũ và chế độ xã hội mới xuất hiện.
Phát triển tư tưởng của Mác - Ăng ghen trong thời đại của mình, Lê- nin
cho rằng: '' Không có sự đồng tình ủng hộ và ủng hộ của đại đa số nhân dân lao
động đối với đội ngũ tiên phong của mình tức là đối với giai cấp vô sản thì cách
mạng cách mạng vô sản không thể thực hiện được''. Lê -nin chỉ ra rằng: ''Cách
mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Do đó cách mạng vô sản phải
tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị đến văn hoá, xã hội. Từ những chuyện
nhỏ có liên quan đến lợi ích của mỗi cá nhân đến những chuyện lớn như lựa
chọn thể chế, lựa chọn người đứng đầu Nhà nước. Người dân có quyền làm chủ
bản thân, nghĩa là quyền được bảo vệ thân thể, được tự do đi lại, tự do hành
nghề, tự do ngôn luận, tự do học tập trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Người
dân có quyền làm chủ tập thể, làm chủ địa phương, làm chủ cơ quan nơi mình
sống và làm việc, người dân có quyền làm chủ các đoàn thể, các tổ chức chính
trị, thông qua bầu cử và bãi miễn. Hồ Chí Minh nói ''Mọi quyền hạn đều ở nơi
dân, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân''..Thực tiễn trong quá trình thực
hiện cách mạng do Đảng cộng sản lãnh đạo, nhân dân đã cung cấp cho Đảng
những người con ưu tú nhất, lực lượng của Đảng là lớn mạnh được hay không là
do nhân dân là người xây dựng, đồng thời cũng là người bảo vệ Đảng, bảo vệ
cán bộ của Đảng, nhân dân là lực lượng biến chủ trương đường lối của Đảng
thành hiện thực. Do vậy nên không có dân sự tồn tại của Đảng cũng chẳng có ý
Thực hiện: Bùi Phan Quang Tuấn – Lớp HC20-TN7
Trang 5
Tiểu luận môn Triết học
Giảng viên: PGS,TS Trương Quốc Chính
nghĩa gì đối với chính phủ và các tổ chức quần chúng cũng như vậy, lợi ích của
Đảng xuất phát từ lợi ích của nhân dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ đã được thể chế bằng việc xây dựng
thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở hiện nay là lĩnh vực đề tài tập trung nghiên
cứu. Đặc biệt trong thời điểm toàn Đảng, toàn dân đang dấy lên phong trào thi
đua nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh để thấm nhuần hệ thống quan
Giảng viên: PGS,TS Trương Quốc Chính
dựng cho từng loại cơ sở xã, phường, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học, viện
nghiên cứu và các cơ quan hành chính... phù hợp với từng cơ sở'.
Để ngày càng hoàn thiện những nội dung cơ bản của nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động trong sự nghiệp công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước năm 1998, Bộ chính trị khoá VIII có chỉ thị
30/CT- TW ngày 18/2/1998 về việc xây dựng và hoàn thiện quy chế dân chủ ở
cơ sở.
Chỉ thị 30 của Bộ chính trị được triển khai ở cơ sở nhằm phát huy tốt hơn
và nhiều hơn quyền làm chủ của nhân dân đó vừa là mục đích, vừa là động lực
cho sự phát triển. Góp phần ngăn chặn tình trạng suy thoái về đạo đức, tham
nhũng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân trong bộ máy chính quyền các
cấp, tạo điều kiện xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, góp phần khắc
phục tình trạng vừa mất dân chủ ở cơ sở vừa dân chủ cực đoan tạo cho quyền
làm chủ của nhân dân được tôn trọng, đưa quy chế dân chủ trở thành nề nếp
trong hoạt động của chính quyền các cấp. Quy chế dân chủ còn góp phần khai
thác phát huy trí tuệ và sức sáng tạo của nhân dân, tạo sức mạnh vật chất tinh
thần to lớn trong thực hiện mục tiêu ''Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng
dân chủ và văn minh''. Thực chất là cụ thể hoá phương châm ''Dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra'''
II. THỰC TRẠNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM VỚI PHÁT HUY VÀ THỰC HÀNH DÂN CHỦ XHCN HIỆN NAY
Một trong những nội dung cơ bản trong học thuyết chính trị mácxitlêninnit là sự luận giải về tương quan giữa nền dân chủ tư sản và nền dân chủ vô
sản (dân chủ XHCN); là xác định cách thức, con đường đảm bảo cho nhân loại
có thể tiến tới một xã hội dân chủ, văn minh, nhân đạo và đấu tranh cho một xã
hội dân chủ hiện thực theo tư tưởng cách mạng và khoa học đã, đang và sẽ là
thực tiễn sinh động của phong trào công nhân và các lực lượng tiến bộ trong thời
đại ngày nay.
chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế
được nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của đất nước đã tăng lên rất nhiều, tạo tiền
đề để nước ta tiếp tục phát triển mạnh mẽ hơn theo con đường xã hội chủ
nghĩa”2, thì cũng hết sức khiêm tốn để khẳng định rằng: Một trong những
nguyên nhân có ý nghĩa quyết định cho những thành quả đó là sự ra đời, sự xác
lập vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đời sống chính
trị - xã hội của đất nước.
Sản sinh ra từ hiện thực phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong
trào yêu nước và phong trào công nhân Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX; từ bản chất và khả năng thực tế, được sự thẩm định trong suốt
tiến trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã xác lập vai trò lực lượng chính trị duy nhất đảm đương
được sứ mệnh lãnh đạo các tầng lớp nhân dân lao động Việt Nam cùng thực
hiện mục tiêu: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH - Dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh.
2. Với tư cách là lực lượng chính trị duy nhất cầm quyền - cho dù là kết quả tất
yếu của lịch sử, điều đó không có nghĩa là Đảng Cộng sản Việt Nam tự yên tâm,
Thực hiện: Bùi Phan Quang Tuấn – Lớp HC20-TN7
Trang 8
Tiểu luận môn Triết học
Giảng viên: PGS,TS Trương Quốc Chính
bằng lòng với những gì đã có, đã làm được. Cần lưu ý rằng, trong điều kiện chưa
có chính quyền, thì sự tồn vong của một đảng chính trị luôn phụ thuộc vào sự
che chở, đùm bọc, ủng hộ của quần chúng nhân dân. Vì vậy, Đảng không thể
phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc” 6. Xác định như
vậy, không hề làm giảm đi tính giai cấp của Đảng, vả lại khi nói “Đảng lấy Chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ
Thực hiện: Bùi Phan Quang Tuấn – Lớp HC20-TN7
Trang 9
Tiểu luận môn Triết học
Giảng viên: PGS,TS Trương Quốc Chính
nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.” 7, thì
đó là tiêu chí căn cốt nhất để khẳng định bản chất của Đảng rồi.
Tất nhiên, triển khai nội dung này trong thực tế cần phải tập trung quán triệt
những vấn đề cơ bản sau:
- Cần nhận thức và xử lý biện chứng mối quan hệ giữa giai cấp, dân tộc và thời
đại trong mọi chủ trương, chính sách và mọi hoạt động của Đảng. Nói cách
khác, vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng hiện nay là phải vừa làm cho Đảng thấm nhuần lý luận tiên phong để làm
tròn vai trò chiến sĩ tiên phong, nhưng đồng thời Đảng phải sống trong sự đùm
bọc, chở che của nhân dân, của dân tộc thì mới trường tồn. Xa rời lợi ích của
nhân dân, của dân tộc, sớm muộn, Đảng sẽ không còn nguồn sống.
- Cụ thể hoá những nội dung có tính thể chế và cơ chế để thực hiện đúng nguyên
tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Trên thực tế, khi thực hiện nguyên tắc này vẫn
còn tồn tại những cách hiểu, cách làm rất khác nhau, trong đó có không ít nơi
biến dân chủ thành hình thức để thâu tóm quyền lực cá nhân, tạo ra sự chuyên
quyền, lộng quyền. Chỉ có thể dựa vào những quy định có tính thể chế và thông
và hiệu quả của hệ thống chính trị ở nước ta không chỉ phụ thuộc vào chất lượng
và hiệu quả của từng nhân tố cấu thành (Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội), mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết mối quan hệ giữa các
nhân tố đó, tức là sự phân định chức năng, thẩm quyền giữa các nhân tố nói trên;
phải thực hiện đúng cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm
chủ, tức là thực hiện sao cho hệ thống chính trị của chúng ta vận hành nhằm đạt
tới mục đích bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân (trước hết là quyền lực Nhà
nước), trong đó Đảng Cộng sản là hạt nhân lãnh đạo của cả hệ thống và Nhà
nước là trụ cột của hệ thống đó.
- Với tư cách là trụ cột của hệ thống chính trị, Nhà nước mạnh, hoạt động có
hiệu quả là tiêu chí phản ánh tập trung sức mạnh và hiệu quả của hệ thống chính
trị, trong điều kiện hiện nay đó là Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân
và vì dân. Nhà nước đó tương thích với đặc trưng của nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN, vừa đảm đương tốt vai trò điều tiết, định hướng, nhưng lại
vừa là cộng sự tin cậy để kích thích kinh tế thị trường phát triển rộng khắp mọi
lúc, mọi nơi, đủ sức hội nhập quốc tế.
Ở đây, việc đảm bảo cho Nhà nước thực sự của dân, tức là do dân tự do lựa chọn
thông qua bầu cử bằng phiếu bầu là điều có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về
phương diện dân chủ. Đành rằng, Đảng cầm quyền phải lo công tác nhân sự
trong bộ máy Nhà nước, nhưng “ý Đảng và lòng dân” phải có sự đồng thuận.
Đừng để xẩy ra hiện tượng chưa bầu cử mà đã đoán biết được chắc chắn ai đã
“đắc cử” rồi; hoặc lá phiếu của dân không thực hiện theo “ý Đảng”.
Muốn vậy, Đảng nên đưa ra nhiều phương án, nhiều ứng cử viên của Đảng vào
một chức vụ Nhà nước, còn kết quả là ai trúng cử, cũng đều là người của Đảng.
Nên chăng, cần từng bước thử nghiệm để đi đến cách bầu cử trực tiếp của nhân
dân đối với những người đứng đầu các cấp chính quyền địa phương hiện nay.
Phải hoàn thiện và đổi mới một bước mạnh mẽ hơn nữa cơ quan lập pháp - cơ
quan có chức năng đặc biệt quan trọng - “sản xuất” thể chế. Có thể mở rộng hơn
nữa thành viên Quốc hội hoạt động chuyên nghiệp theo đúng nghĩa là những
người làm luật: đề xuất, soạn thảo và biểu quyết thông qua luật.
Thứ ba, khi đã xem dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, động lực của CNXH
quyền, nên việc bầu cử trong Đảng như thế nào, thì xã hội sẽ như thế.
Sức mạnh của đất nước, dân tộc là sức mạnh của toàn dân, của chế độ, nền tảng
của sức mạnh đó, phương thức con đường để tạo dựng và phát huy sức mạnh đó
chính là sự đồng thuận giữa “ý Đảng, lòng dân” - Để làm được điều này, có thể
xem việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở là một khâu có tính đột phá, là vấn
đề cực kỳ quan trọng, là giải pháp hữu hiệu đối với việc phát huy dân chủ trong
tình hình hiện nay.
Không ai có thể phủ nhận giá trị hiện thực của quá trình triển khai, tổ chức thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong những năm qua, nhưng cũng chính trong quá
trình đó, đã bộc lộ ra không ít vấn đề cần phải bổ sung, điều chỉnh để thúc đẩy
và nâng cao tính hiệu quả của nó.
Phải “có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực
tiếp. Thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ
ở xã, phường, thị trấn. Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật,
kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ
của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh, trật tự, an
toàn xã hội; chống tập trung quan liêu, khắc phục dân chủ hình thức”8.
Thực hiện: Bùi Phan Quang Tuấn – Lớp HC20-TN7
Trang 12
Tiểu luận môn Triết học
Giảng viên: PGS,TS Trương Quốc Chính
Rõ ràng rằng vấn đề dân chủ và thực hiện dân chủ ở cơ sở là vấn đề vừa có tính
cấp thiết, vừa có tính lâu dài; đồng thời là mối quan tâm chung của các nhà lãnh
đạo, quản lý ở các cấp. Mở rộng dân chủ ở cơ sở là nội dung cơ bản của việc
học và trình độ lý luận cao, có tư duy độc lập, có khả năng đóng góp vào việc nghiên
cứu lý luận và tổng kết thực tiễn.
Dưới sự lãnh đạo thường xuyên, chặt chẽ của các cấp ủy Đảng, cần cơ chế gắn
kết, phối hợp hoạt động giữa các cơ quan lãnh đạo quản lý với các cơ quan nghiên cứu
khoa học, giữa các cán bộ lãnh đạo quản lý với các cán bộ lý luận, bảo đảm thường
xuyên cung cấp thông tin, thông báo những chủ trương, yêu cầu của Đảng cũng như
những kết quả nghiên cứu lý luận, để gợi ý, bổ sung cho nhau, phát huy sức mạnh tổng
hợp trong nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; đồng thời, cũng là cách bồi dưỡng,
nâng cao trình độ của cả cán bộ lý luận và cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý.
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang đòi hỏi và trông chờ vào những kết quả
nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, tìm ra lời giải đáp có sức thuyết phục cho các
vấn đề mà cuộc sống đặt ra. Cuộc sống sinh động và muôn mầu đều từ cơ sở. Việc
tổng kết lý luận và thực tiễn từ cơ sở để làm nền tảng cho các công trình nghiên cứu
cấp quốc gia là rất quan trọng và có ý nghĩa.
Với đề tài đề tài tiểu luận “Nội dung của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với
thực tiễn và các căn bệnh do không quán triệt nguyên tắc này để liên hệ tình hình thực
tế ở địa phương” cũng mới chỉ nêu ra được một số điển hình. Nhưng việc nhận thức
đầy đủ, đúng đắn nguyên tắc này cào công tác của cá nhân là vô cùng cần thiết.
Với thời gian nghiên cứu chưa nhiều, không tránh khỏi những hạn chế. Kính
mong nhận được ý kiến của thầy để bản thân em rút kinh nghiệm và áp dụng cho quá
trình công tác mai sau./.
Thực hiện: Bùi Phan Quang Tuấn – Lớp HC20-TN7
Trang 14