tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và công cuộc chống suy thoái đạo đức ở cán bộ, Đảng viên ở nước ta hiện nay - Pdf 40

A. PHẦN MỞ ĐẦU

I.

Lý do chọn đề tài

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại lời di huấn dặn dò
về Đảng và vấn đề đạo đức cách mạng: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền,
mỗi Đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng,
phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phải giữ gìn Đảng ta thật
trong sạch, phải xứng đáng là những người đầy tớ trung thành của nhân
dân”.
Trong suốt cuộc đời của người, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi
trọng vấn đề đạo đức cách mạng, coi đạo đức là cái gốc, cái nền tảng của
người cách mạng.
Người thường nói: “Cán bộ là cái gốc của mọi việc, công việc
thành công hay thất bại đều do cán bộ có đạo đức tốt hay kém, người
cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức cách mạng thì
có tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Đảng là nền
tảng, là gốc của người cán bộ Đảng viên. Có đạo đức cách mạng, có lối
sống giản dị, trong sạch, lành mạnh cán bộ Đảng viên sẽ có uy tín, có
điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình”.
Trong giai đoạn hiện nay, đa số cán bộ, Đảng viên và nhân dân đã
luôn ghi nhớ lời dạy của Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới Việt
Nam XHCN mà yếu tố hàng đầu là nâng cao đạo đức cách mạng và cán
bộ, Đảng viên phát huy vai trò tiên phong năng động, sáng tạo, giữ gìn
phẩm chất đạo đức. Tuy nhiên, báo cáo chính trị của Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa X tại đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng đã chỉ chi ta thấy tình trạng sauy thoái về chính trị, đạo đức, lối



4.

Đóng góp của đề tài

Nắm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Làm sáng tỏ


việc suy thoái đọa đức ở cán bộ, Đảng viên hiện nay. Đưa ra biện pháp
góp phần vào công cuộc đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng trong chế độ XHCN.
5.

Phương pháp nghiên cứu.

Đe tài dựa trên phương pháp luận của chũ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, đọc, phân tích, so sánh, đánh giá, khái quát và tổng
hợp.


B. PHẦN NỘI DUNG
I.

Cơ sở lý luận và thực tiễn

1. Cơ sở lý luận
1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, từ bài giảng đầu tiên trong
tác phẩm Đường Kách mệnhll] đến bảng di chúc cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức và tu dưỡng đạo đức, coi đạo đức

vẽ cho người Làm việc phải:
Xem xét hoàn cảnh kĩ càng Quyết đoán Dũng cảm
Phục tùng đoàn thể” [2,Trang 22,23]
Tên cơ sở nhận thức về nền tảng của việc hình thành đạo đức mới,
vấn đề đạo đức cách mạng được Người nhắc lại nội dung tương tự khi nói
chung với cán bộ tinh Thanh Hóa năm 1947, nhưng cụ thể hơn,[3,trang
54,55] gồm 5 điểm: Một, mình đối với mình; hai đối với đồng chí mình phải
thế nào?; ba, đối với công việc phải thế nào?; bốn, đối với nhân dân; năm,
đối với đoàn thể. Với những lời căn dặn này cho thấy, Người đã đặc vấn đề
đạo đức cách mạng một cách lôgic và cơ sở khoa học về các quan hệ lợi ích.
Hầu như các nguyên tắc đạo đức Người đã đề ra trước hết cho mình thực
hiện, sau đó mới để giáo dục người khác, có thể nêu ra một số chuẩn mực
cơ bản về đạo đức cách mạng theo tư tưởng của Người như sau:
Neu bài học về đạo đức cách mạng đầu tiên trong cuốn Đường Kách
mệnh Người chỉ đề ra những nguyên lý chung thể hiện mối quan hệ giữa ba

khía cạnh, phản ánh mối quan hệ đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà


người cách mạng cần quán triệt trước tiên, đồng thời nêu cao việc tu dưỡng
đạo đức cách mạng, thì ngay trong phiên họp đầu tiên của nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa, Người đã đề ra những nguyên tắc về hành vi đạo đức
cách mạng đối YỚi người có chức, có quyền trong chính phủ từ toàn quốc
đến các làng, Người đề nghị: “Mở một chiến dịch giáo dục lại tinh thần nhân
dân bằng cách thực hiện: cần, kiệm, liêm chính để làm cho dân tộc chúng ta
trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động”.
Người xem cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư là phẩm chất đạo
đức cơ bản nhất của con người mới, đồng thời là chuẩn mực cơ bản của nền
đạo đức mới của dân tộc ta. Đây là phẩm chất được Người đề cập đến nhiều
nhất, thường xuyên nhất với một nội dung đạo đức mới rất cách mạng mà

người chính là “hiếu với dân”. Hiếu với dân không chỉ là xem dân như đối
tượng dạy dỗ, ban ơn mà là đối tương phải phục vụ hết lòng. Ở Người, lý
luận luôn gắn chặc với thực tiễn, lời nói luôn đi đôi với việc làm.
Neu nhưa trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất của mỗi con
người - công dân đối với tổ quốc, đối với nhân dân, thì yêu thương con
người là trách nhiệm của mỗi con người đối với con người. Người cho đây
là phẩm chất cao đẹp nhất của con người. Yêu thương con người trước hết
là tình cảm dành cho những người bị áp bức, bóc lột, những người cùng
khổ. Yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ hằng ngày
với những người đồng chí xung quanh, trong cuộc sống bình thường. Phải
luôn nghiêm khắc với bản thân, nhưng rộng rãi, độ lượng với người khác.
Điều đặc biệt ở Người, yêu thương con người luôn luôn gắn YỚi niềm tin
vào con người, tin vào lương tri, tin vào lòng dũng cảm, tin vào sức sáng


tạo của họ trong hành trình con người tự giải phóng lấy mình, để con người
làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình.
Người đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cá nhân và giai cấp, giữa
dân tộc và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại đã tạo ra trong quan niệm
về đạo đức cách mạng sự hài hòa về các mối quan hệ lợi ích. Theo người,
tinh thần quốc tế trong sang thực chất là chủ nghĩa yêu nước gắn liền với
chủ nghĩa quốc tế vô sản. Người cho rằng nếu t inh thần yêu nước không
chân chính, tinh thần quốc tế không trong sang có thể dẫn tới tư tưởng dân
tộc chủ nghĩa hẹp hoài, xô vanh, biệt lập, kỳ thị chủng tộc. Từ rất sớm
Người đã chủ trương quan hệ YỚi các quốc gia dân tộc và các tổ chức trên
thế giới để thêm bạn bớt thù. Quan điểm dân tộc đã được thổi vào thời đại,
đã vượt qua biêm giới quốc gia, hướng tới mục tiêu độc lập, dân chủ, hòa
bình, hữu nghị và hợp tác. Từ các khái niệm, phạm trù của các tư tưởng đạo
đức như: Nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm đến cần, kiệm, liêm, chính, chí công
vô tư, từ trung, hiếu đến thiện, ác bao giờ Người cũng có cách giải thích

Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng say thoái về tư tưởng chính tĩị, đạo đức,
lối sống của một số bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viên, nhất là cán bộ
lãnh đạo, quản lí các cấp;
Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lí nhất là ở cấp Trung ương,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế;
Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy,
chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị.
1.3. Văn bản pháp luật của nhà nước về phòng chổng tham nhũng

và thực hành tiết kiệm


Căn cứ vào hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày
25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10.
1.3.1. Luật Phòng chổng tham nhũng.

Điều 4. Nguyên tắc xử lý tham nhũng.
1.

Mọi hành vi tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và

xử lý kịp thời, nghiêm minh.
2.

Người có hành vi tham nhũng ở bất kỳ cương vị chức, vụ nào

phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.
3.


Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải căn cứ vào định mức,


tiêu chuẩn, chế độ và quy định của pháp luật.
3.

Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí phải có sự phối hợp chặt chẽ

giữa các cấp, các ngành, cơ quan, tổ chúc trên cơ sở phân cấp, quản lý với
việc đồng thời nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, trách nhiệm của
cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, tổ chức.
4.

Đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch, đề cao vai trò giám sát

của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức
thành viên của mặt trận, đoàn thể quần chúng và nhân dân trong thực hành
tiết kiệm, chống lãng phí. 5. Có chế độ khen thưởng, xử lý vi phạm rõ ràng,
nghiêm chỉnh, kịp thời, công khai.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thực tiễn cuộc sổng và hoạt động của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc - Danh nhân văn hóa thế
giới.Suốt cả cuộc đời mình, Người luôn một lòng vì nước, vì dân, đấu tranh
không mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng con người.
Tuy đã đi xa, nhưng Người đã để lại cho nhân dân ta di sản t inh thần to lớn,
những tư tưởng vô giá, những giá trị nhân văn cao cả, trong đó, đặc biệt là
tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng của Người.
Tấm gương đạo đức, phong cách của Người được thể hiện trong cuộc

cuối đời, chỉ có những vật dụng rất đơn sơ: một chiếc bàn, giá sách, tủ quần
áo, giường gỗ cá nhân, tấm chăn đơn, chiếc chiếu cói,... đã biểu trung sinh
động cho phong cách sống của một con người vĩ đại: thanh tao, khiêm tốn,
yêu lao động, không ham danh lợi, đạt đến độ cảm hóa được tình cảm của
con người Viêt Nam.


Những ngày đầu sau cách mạng thành công, đất nước phải đối phó YỚi
muôn vàn khó khan thử thách: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Đối YỚi
giặc đói, Người kêu gọi toàn dân thực hành tiết kiệm, phát động phong trào
“hũ gạo kháng chiến” để nuôi quân. Bằng những lời lẽ thiết tha, xúc động,
người viết thư động viên đồng bào cả nước nêu cao tinh thần “xẻ cơm
nhường áo” để cứu dân nghèo: Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến
kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng
bào cả nước và tôi xin thực hành trước: cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi
tháng nhịn ăn ba bữa. Đem gạo đó để cứu dân nghèo”... Tại buổi khai mạc
lạc quyên tổ chức ở nhà hát lớn Hà Nội, Người đã gương mẫu đem phần
gạo nhịn ăn của mình lặc quyên trước tiên.
Khi kinh tế khó khăn, đời sống nhân dân còn khổ, mọi người ăn độn,
Bác nói cán bộ, nhân dân ăn độn bao nhiêu phần trăm, độn cho Bác từng ấy
giống như cán bộ nhân dân.
Tư tưởng và tấm gương “Tuyệt nhiên không ham muốn công danh
chút nào.”
Hồ Chí Minh bao giờ cũng ham muốn niềm vui riêng của mình hòa
trong niềm vui chung của toàn dân tộc.
Người luôn khẳng định: sự nghiệp anh hùng cách mạng Việt Nam là
của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; còn khuyết điểm thì Người nhận về
mình. Hiếm có một vị lãnh tụ nào trên thế giới đứng trước toàn dân để tự
phê bình, nhận lấy khuyết điểm của mình cho rằng mình “tài hèn sức mọn,
cho nên chưa làm đầy đủ những sự mong muốn của đồng bào”. Có lẽ, Hồ

và chủ nghĩa xã hội tên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Đứng trước những khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp
của tình hình thế giới và khu vực, Đảng ta luôn kiên định xây dựng và thực
hiện các chủ trương, chính sách đổi mới đúng đắn, phát huy những truyền
thống quý báu của dân tộc và những thành tựu cách mạng đã đạt được, giữ


vững độc lập dân tộc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
-

Đổi mới phải dựa và nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp

với thực tiễn, luôn luôn sang tạo.
-

Đổi mới phải kết hợp với sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

-

Đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công

của sự nghiệp đổi mới.
Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, tổng kết thực tiễn
và nghiên cứu lý luận, hoàn thiện đường lối đổi mới; thường xuyên xây
dựng, chỉnh đốn Đảng, tạo ra sự thống nhất về quan điểm, ý chí và hành
động trong toàn Đảng; lãnh đạo tổ chức thực hiện, xây dựng và kiện toàn bộ
máy nhà nước trong sạch, vững mạnh.
II. Thực trạng và giải pháp.
1. Thực trạng.


tưởng còn hạn chế; thiếu sắc bén trong đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn
“diễn biến hòa bình”. Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức
lối sống trong một bộ phận nhỏ cán bộ, Đảng viên và tình trạng tham
nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn
chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu
nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành
làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và nhà nước, đe dọa sự ổn
định, phát triển của đất nước. Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một số nơi
còn mang tính hình thức, chưa đạt yêu cầu.
Tổ chức của một số cơ quan Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị xã


hội chưa thực sự sinh gọn hiệu quả: việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm,
thiếu cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ
chức đối với cán bộ; đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu. Tình trạng chạy chức,
chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục.
Công tác cán bộ thiếu tầm nhìn xa, chất lượng cán bộ thấp, chưa thu hút và
phát huy năng lực, sự cống hiến của cán bộ, chưa cổ vũ ý thức phấn đấu
vươn lên, sự gắn bó, tận tụy của cán bộ đối YỚi công việc. Năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức Đảng còn thấp, công tác quản lý
Đảng viên chưa chặt chẽ, sinh hoạt Đảng chưa nề nếp, tự phê bình và phê
bình yếu.
Việc xử lý, sử dụng và quản lý cán bộ, Đảng viên có vấn đề lịch sử
chính trị còn phiến diện, thiếu chặt chẽ. Việc xem xét, giải quyết những vấn
đề chính trị hiện nay của cán bộ, Đảng viên còn lúng túng. Nhiều cấp ủy, tổ
chức Đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá, giám sát và thi hành kỷ
luật Đảng, chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao; chưa coi
trọng việc kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chủ trương, chỉ thị, nghị
quyết, thi hành điều lệ Đảng, kiểm tra, giám sát phòng ngừa tiêu cực và phát

quốc tế, toàn cầu hóa quốc tế, của cơ chế thị trường, tác động “diễn biến
hòa bình” của các thế lực phản động. Song cần chú ý phương pháp tư tưởng
của Chủ tịch Hồ Chí Minh là người cần quan tâm thật sự thích đáng đến
nguyên nhân chủ quan của suy thoái đang đội ngũ cán bộ Đảng viên.
về nguyên nhân chủ quan: Phương pháp lãnh đạo của Đảng còn có
chỗ khoa học, việc giáo dục đạo đức cách mạng bị buông lỏng. Song, vấn
đề là sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân trong xã hội, trong đội ngũ cán bộ
Đảng viên chính là một nguy cơ với Đảng cộng sản cầm quyền. Chính chủ


nghĩa cá nhân trong cán bộ, Đảng viên là nguồn gốc của các khuyết điểm,
sai lầm chính là sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, suy thoái về đạo đức và
lối sống. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là một
trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên thắng lợi của Chủ
nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh từ bỏ chủ nghĩa
cá nhân”. Còn đối với Đảng viên, Người khẳng định: Do chủ nghĩa cá nhân
mà phạm nhiều sai lầm, khuyết điểm...
3. Vận dụng tử tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng vào

công cuộc chổng suy thoái đạo đức ở cán bộ, Đảng viên ở nước ta hiện
nay.
3.1. Tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời.

Tu dưỡng đạo đức là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc và văn hóa
phương Đông.Người thường nhắc lại luận điểm “chính tâm, tu thân” của
Khổng Tử, từ đó rút ra ý nghĩa tích cực để vận dụng vào việc rèn luyện, tu
dưỡng đạo đức cách mạng của mỗi người. Người đưa ra lời khuyên rất dễ
hiểu: “Đạo đức cách mạng trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện
bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng
sáng, vàng càng luyện càng trong”

trong bồi dưỡng về đạo đức.
Đối với cán bộ, Đảng viên, Hồ Chí Minh đã nêu ra một luận điểm
quan trọng: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cư viết lên trán chữ
“cộng sản” mà ta đã được họ yêu mến. Quần chúng chỉ yêu mến những
người có tư cách đạo đức.Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực
thước cho người ta bắt chước. Luận điểm khẳng định rõ vấn đề nêu gương
có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống đạo đức, nhất là đi đôi với trách


nhiệm của cán bộ, Đảng viên.
Việc bồi dưỡng, nêu gương “người tốt, việc tốt” là rất quan trọng và
cần thiết, không được xem thường.
về Yấn đề này, Hồ Chí Minh đã nói: tường giọt nước nhỏ thấm vào
lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu
giọt nước hợp lại thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải
có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ dàng
nhận thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền, như thế chỉ
thấy cái ngọn mà quên đi cái gôc.
Xây dựng đạo đức mới, nêu gương đạo đức mới, nêu gương đạo đức
phải rất chú trọng tính chất phổ biến rộng khắp, vững chắc của toàn xã hội
và những hạt nhân “người tốt việc tốt” tiêu biểu.
3.3. Nâng cao đạo đức cách mạng, chổng chủ nghĩa cá nhân trong

cán bộ
hiện nay.
Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, để
biến chủ trương chính sách thành hiện thực cần có nhiều giải pháp đúng
đắn, sắc bén, linh hoạt và đặc biệt là phải có quyết tâm, dũng khí thực hiện.
Đảng phải tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, lề lối làm
việc; thực hiện phát huy quyền làm chủ của quần chúng nhân dân, nói đi đôi

tính dân chủ, dựa vào nhân dân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí với
tinh thần quyết liệt như chống giặc ngoại xâm.Đảng lãnh đạo cả hệ thống
chính trị thực hiện đúng luật chống tham nhũng.Xử lý nghiêm minh, công
khai các vụ việc tham nhũng, bất kể kẻ phạm tội tham nhũng là ai.Chống


tham những gắn liền chống quan liêu.
Thực hiện tốt việc khuyến khích, biểu dương, khen thưởng và bảo vệ
những người phát hiện, tố cáo, tích cực chống tham nhũng. Trừng trị
nghiêm khắc những hành vi, việc làm với mục đích trả thù người đấu tranh
tố cáo tham nhũng, tiêu cực. Xử lý nghiêm minh những người lợi dụng dân
chủ, lợi dụng chống tham những để vu cáo, vu khống, làm ảnh hưởng đến
uy tín của cán bộ, Đảng viên, gây rối nội bộ.
Hoàn chỉnh cơ chế, chính sách, hệ thống pháp luật.Hiện nay còn có
tình trạng nhiều luật, pháp lệnh mới ban hành vài năm đã lạc hậu, phải sửa
đổi, hoặc vừa ban hành đã thấy điểm bất cập.Tình trạng đó phải được khắc
phục. Chính sách ban hành phải chặt chẽ, phù hợp thực tiễn và yêu cầu cách
mạng. Luật pháp, chính sách phải được nghiêm minh. Trong hệ thống pháp
luật về cán bộ, công chức, vấn đề tiền lương cần tiếp tục cải tiến theo t inh
thần đảm bảo để cán bộ, công chức không thể tham nhũng và không cần
tham nhũng. Tiền lương là nhân tố quyết định đảm bảo cuộc sống của cán
bộ, công chức và gia đình họ phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế
xã hội ở nước ta.
4. Một sổ gỉảỉ pháp góp phần vào công cuộc chổng suy thoái đạo

đức ở cán
bộ Đảng viên hiện nay.
-

Cần giáo dục chính trị, đạo đức, lý tưởng cách mạng thường

cách cụ thể.
-

Tăng cường vai trò hiệu lực kỷ luật Đảng và pháp luật của nhà

nước, tập trung chỉ đạo đấu tranh chống quan liêu, tham những, lãng phí có
hiệ quả.
Bổn phận của người cán bộ cách mạng là suốt đời hết lòng hết sức
phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phải cố gắng thực hiện cho kỳ được:
cần, kiệm, liêm, chính, chí công



tư... thật thà tự phê bình và phê bình.

Phải gần gũi nhân
dân, học tập nhân dân... bất kỳ làm công việc gì, ở địa vị nào cũng
quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm làm tròn nhiệm vụ
Đảng và Chính phủ giao cho. Đó chính là đạo đức của người cán bộ mẫu
mực trong tư tưởng Hồ Chí Minh để chúng ta vận dụng xây dựng nên một
đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực lãnh đạo đất nước, phục vụ
nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay và mai sau.


c. KẾT LUẬN
Qua việc tìm hiểu, theo dõi và nghiên cứu quá trình hoạt động của
cán bộ, Đảng viên trong những năm qua tôi đã thấy rõ thực trạng của
Đảng

YỚi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status