Tiểu luận Quy hoạch du lịch tỉnh Lạng Sơn - Pdf 40

MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ, PHÂN TÍCH NUỒN NHÂN LỰC PHÁT TRIỂN DU
LỊCH..................................................................................................................................1
1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ......................................................................................................1
1.2. TÀI NGUYÊN DU LỊCH......................................................................................1
1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên............................................................................1
1.2.1.1. Địa hình....................................................................................................1
1.2.1.2. Khí hậu.....................................................................................................3
1.2.1.3 Nguồn nước...............................................................................................5
1.2.1.4 Sinh vật.....................................................................................................6
1.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn...........................................................................7
1.2.2.1. Di sản văn hóa thế giới-di tích văn hóa lịch sử.......................................7
Bảng 1.1: Số lượng và mật độ di tích tỉnh Lạng Sơn.......................................................8
1.2.2.2. Lễ hội.......................................................................................................9
Bảng 1.2: Một số lễ hội quan trọng ở Lạng Sơn (Thời gian theo âm lịch)......................9
1.2.2.3. Dân tộc...................................................................................................11
Bảng 1.3: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo huyện, TP............11
Hình 1.1: Cơ cấu dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 2013.......................................................11
1.2.2.4. Các tài nguyên du lịch nhân văn khác...................................................13
1.3. CƠ SỞ HẠ TẦNG...............................................................................................15
1.3.1. Mạng lưới và phương tiện giao thông..........................................................15
1.3.2. Hệ thống cung cấp điện-nước.......................................................................16
1.3.2.1. Hệ thống điện.........................................................................................16
1.3.2.2. Hệ thống cấp thoát nước........................................................................17
1.3.3. Hệ thống thông tin-liên lạc...........................................................................18
1.3.4. Các công trình phục vụ công cộng khác......................................................19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA LẠNG SƠN...............20
2.1. HOẠT ĐỘNG THEO NGÀNH..........................................................................20
2.1.1. Nguồn khách.................................................................................................20
2.1.1.1. Tổng nguồn khách.................................................................................20
Hình 2.1: Hiện trạng khách du lịch đến với Lạng Sơn giai đoạn 2005-2014................20

3.1. ĐỊNH HƯỚNG....................................................................................................32
3.1.1. Định hướng chung........................................................................................32
3.1.1.1. Quan điểm, mục tiêu..............................................................................32
3.1.1.2. Căn cứ của định hướng..........................................................................33
3.1.2. Định hướng cụ thể........................................................................................33
3.1.2.1. Theo ngành............................................................................................33
3.1.2.2. Theo lãnh thổ.........................................................................................34
3.2. GIẢI PHÁP..........................................................................................................35
3.2.1. Giải pháp về công tác quy hoạch và tổ chức quản lý, thực hiện quy hoạch
Công tác quy hoạch và tổ chức quản lý..................................................................35
3.2.2. Giải pháp về cơ chế chính sách....................................................................36
3.2.3. Giải pháp về đầu tư và huy động vốn đầu tư...............................................36
3.2.4. Giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực......................................37
3.2.5. Giải pháp về thị trường, xúc tiến quảng bá du dịch.....................................38
3.2.6. Nhóm giải pháp về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch......................39
3.2.7. Giải pháp về hợp tác quốc tế phát triển du lịch............................................39
3.2.8. Nhóm giải pháp về bảo đảm an ninh quốc phòng........................................40

2


DANH MỤC BẢNG
CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ, PHÂN TÍCH NUỒN NHÂN LỰC PHÁT TRIỂN DU
LỊCH..................................................................................................................................1
Bảng 1.1: Số lượng và mật độ di tích tỉnh Lạng Sơn.......................................................8
Bảng 1.2: Một số lễ hội quan trọng ở Lạng Sơn (Thời gian theo âm lịch)......................9
Bảng 1.3: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo huyện, TP............11
Hình 1.1: Cơ cấu dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 2013.......................................................11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA LẠNG SƠN...............20
Hình 2.1: Hiện trạng khách du lịch đến với Lạng Sơn giai đoạn 2005-2014................20


Thành phố

3

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

4


CHƯƠNG 1: ĐÁNH GIÁ, PHÂN TÍCH NUỒN NHÂN LỰC PHÁT TRIỂN
DU LỊCH
1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Lạng Sơn là tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Bắc, có diện tích 8.320,76 km² (năm
2013), nằm ở vị trí đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B, 279 đi qua, là điểm nút của sự giao
lưu kinh tế với các tỉnh. Có tọa độ 20°27'-22°19' vĩ Bắc và 106°06'-107°21' kinh
Đông.
Phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng: 55 km.
Phía đông bắc giáp Sùng Tả (Quảng Tây, Trung Quốc): 253 km.
Phía nam giáp tỉnh Bắc Giang: 148 km.
Phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh: 49 km.
Phía tây giáp tỉnh Bắc Kạn: 73 km.
Phía tây nam giáp tỉnh Thái Nguyên: 60 km.
Lạng Sơn có 2 cửa khẩu quốc tế là cửa khẩu Ga đường sắt Đồng Đăng huyện Cao
Lộc và cửa khẩu đường bộ Hữu Nghị, có 2 cửa khẩu quốc gia: Chi Ma (Huyện Lộc
Bình) và Bình Nghi, 10 lối mở biên giới với Trung Quốc và 7 cặp chợ biên giới với
Trung Quốc. Bên cạnh đó có đường sắt liên vận quốc tế, là điều kiện rất thuận lợi cho
việc giao lưu kinh tế, khoa học – công nghệ với các tỉnh phía Nam trong cả nước, với

du lịch:
- Vùng núi đá vôi cánh cung Bắc Sơn, chiếm khoảng 25% diện tích lãnh thổ,
được chia thành hai tiểu vùng: tiểu vùng Bắc Sơn, Bình Gia, Chi Lăng, Văn Quan và
tiểu vùng Hữu Lũng. Độ cao trung bình toàn vùng là 400-500m, cao về phía Tây Bắc
(độ cao 500-600m) và thấp dần về phía Đông Nam (độ cao 300m). Trong vùng đá vôi
rộng lớn này đang diễn ra quá trình karst hóa với mức độ khác nhau, tạo thành các
dạng địa hình đá tai mèo, phễu karst, thung lũng karst, hang động karst... Trong khu
vực vùng đá vôi Bắc Sơn có nhiều hang động karst không chỉ đẹp mà còn là di chỉ
khảo cổ của nền văn hóa tiền sử Bắc Sơn, có giá trị phục vụ du lịch và thăm quan
nghiên cứu, ví dụ như hang Cả (dài 3.342m), hang Dơi (có cửa hang dài tới 110m).
Các hang có phong cảnh đẹp là hang Canh Tẻo, hang Gió ở huyện Chi Lăng, hang
Thẩm Khuyên, Thẩm Hai ở huyện Bình Gia...
- Vùng đồi núi tả ngạn sông Kỳ Cùng và dọc thung lũng sông Thương, chiếm
40% diện tích lãnh thổ của tỉnh. Bao gồm bốn tiểu vùng: tiểu vùng đồi núi huyện Bình
Gia và phía tây các huyện Tràng Định, Bắc Sơn; tiểu vùng đồi núi phía đông huyện
Chi Lăng và phía nam các huyện Cao Lộc, Lộc Bình và Đình Lập; tiểu vùng đồi núi
huyện Văn Quan; tiểu vùng đồi núi dọc thung lũng sông Thương. Địa hình ở đây chủ
yếu là núi thấp và đồi, cấu tạo chủ yếu bằng đá trầm tích lục nguyên, có xen một ít đá
magma. Hướng dốc của địa hình là từ Tây Bắc (giáp Cao Bằng, Bắc Cạn) xuống Đông
Nam (Bắc Giang). Độ cao trung bình ở phần Tây Bắc là 700-800m và phần phía nam
là 200-300m. Vùng này do điều kiện địa hình cộng với khí hậu đặc trưng đã tạo nên
những sản phẩm nông nghiệp nhiệt đới (như khoai, lạc...) cùng với các loại cây ăn quả
nổi tiếng như na Chi Lăng, quýt Bắc Sơn... đã tạo nên vùng nông sản phục vụ khách
du lịch.
- Vùng máng trũng Thất Khê-Lộc Bình và đồi núi dọc biên giới Việt-Trung,
chiếm khoảng 35% diện tích lãnh thổ, gồm 8 tiểu vùng: tiểu vùng bồn địa Thất Khê;
tiểu vùng
bồn địa Na Dương-Lộc Bình; tiểu vùng bồn địa Bản Ngà-thành phố Lạng Sơn;
2


đang được khai thác để phục vụ du lịch. Tuy nhiên hiện trạng khai thác còn chưa
xứng với tiềm năng, cần đầu tư và quy hoạch chi tiết để khai thác có hiệu quả hơn.
1.2.1.2. Khí hậu
Lạng Sơn nằm hoàn toàn trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa. Song do độ
cao trung bình toàn tỉnh là 252m, lại chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùa Đông Bắc nên
khí hậu toàn tỉnh mang tính chất á nhiệt đới.
3


- Nhiệt độ: tổng nhiệt hàng năm trên 8.000ºC với số giờ nắng từ 1.400-1.600 giờ.
Bức xạ tổng cộng 110-120 kcal/cm²/năm, lượng bức xạ cực đại vào tháng VII (12-13
kcal/cm²) và cực tiểu vào tháng I (6 kcal/cm²).
+ Nhiệt độ trung bình năm 21,2ºC, thấp hơn các nơi khác ở miền Bắc. Nhưng
nhiệt độ cao nhất có thể đạt là 40,1ºC và nhiệt độ thấp nhất xuống mức âm độ như ở
vùng núi Mẫu Sơn. Khí hậu phân hóa thành hai mùa: mùa đông nhiệt độ trung bình
8,6ºC, thấp hơn các nơi khác từ 1-3ºC, do vị trí địa lý và địa hình tạo nên cửa ngõ đón
gió lạnh và duy trì những khối lạnh này lâu. Mùa hè ngắn hơn các nơi khác, không khí
mát mẻ, ôn hòa hơn.
- Lượng mưa: Lạng Sơn nằm trong khu vực ít mưa. Lượng mưa trung bình năm
là 1.450mm với số ngày mưa là 135 ngày. Nơi có lượng mưa trên 1.600mm là vùng
núi Mẫu Sơn (2.589mm). Ngoài Mẫu Sơn, các huyện Bắc Sơn, Hữu Lũng, Đình Lập
và Tràng Định cũng có lượng mưa trên 1.400mm. Vùng giữa các tỉnh với phần đất
rộng lớn lại là nơi nhận được ít mưa nhất như Na Sầm (1.118mm), Đồng Đăng
(1.100mm). Chế độ mưa phân hóa thành hai mùa: mùa mưa tương ứng với mùa hè và
mùa khô là mùa đông, mưa trong hè chiếm đến 80% lượng mưa, nhưng mùa khô lại
không sâu sắc do có mưa phùn trong mùa đông.
- Độ ẩm: tương đối trung bình năm ở Lạng Sơn phổ biến từ 80 đến 85%, thấp
hơn so với nhiều vùng khác ở nước ta. Ít có sự chênh lệch về độ ẩm giữa các vùng và
theo độ cao. Tháng VIII có độ ẩm cực đại đạt 85%, còn tháng XI, XII và tháng I, độ
ẩm có giá trị cực tiểu 78%.

cảnh quan lãnh thổ, làm tăng tính hấp dẫn của du lịch.
1.2.1.3 Nguồn nước
Là tỉnh miền núi và nằm trong đới khí hậu gió mùa nên Lạng Sơn có nhiều sông,
suối, ao, hồ. Mật độ sông suối của Lạng Sơn thuộc loại trên trung bình so với cả nước,
từ 0,6-1,2km/km². Trên địa bàn của tỉnh có ba hệ thống sông chính: sông Kỳ Cùng (hệ
thống sông Tây Giang), sông Thương và sông Lục Nam (hệ thống sông Thái Bình).
Tổng lưu lượng nước của các sông hàng năm đạt 5,9 tỉ m³.
Thủy chế sông ngòi Lạng Sơn chia làm hai mùa chính: mùa lũ và mùa cạn, tương
ứng với hai mùa của khí hậu là mùa mưa và mùa khô. Mùa lũ tập trung từ 66-88%
tổng lưu lượng nước trong năm. Mùa cạn tuy thời gian kéo dài tới 8 tháng song chỉ
chiếm từ 20-34% tổng lượng dòng chảy của năm. Chênh lệch dòng chảy năm của
Lạng Sơn dao động khá lớn, giữa tháng lớn nhất và tháng thấp nhất chênh lệch từ 10,8
đến 25,6 lần.
Trên địa phận có 7 con sông chính chảy qua là: sông Kỳ Cùng, sông Bắc Giang,
sông Bắc Khê, sông Ba Thín, sông Thương, sông Trung và sông Hóa.
- Trong đó sông Kỳ Cùng là con sông dài nhất, đẹp và gắn với đời sống cũng như
phong tục tập quán của người dân Lạng Sơn. Sông Kỳ Cùng dài 243km, diện tích lưu
vực 6.660 km². Sông được bắt nguồn từ vùng núi cao Bắc Xa cao 1.166m thuộc huyện
Đình Lập. Sông Kỳ Cùng thuộc lưu vực sông Tây Giang, Trung Quốc. Đây là con
sông duy nhất ở miền bắc Việt Nam chảy theo hướng Đông Nam-Tây Bắc, vì vậy xứ
Lạng còn được gọi là “nơi dòng sông chảy ngược”. Sông Kỳ Cùng là con sông đẹp,
ven sông có nhiều chùa chiền, nhiều cảnh đẹp tự nhiên có thể khai thác phục vụ du
lịch: du lịch mạo hiểm, du lịch ngắm cảnh... Hàng năm trên sông còn có lễ hội hoa
đăng thu hút rất đông khách du lịch, đây là một trong những lễ hội hoa đăng được
đánh giá là có số lượng người tham gia đông nhất nước ta.
- Sông Thương là con sông lớn thứ hai của Lạng Sơn. Sông có chiều dài 157km,
đoạn chảy qua Lạng Sơn dài 70km ở phần thượng lưu và trung lưu. Sông bắt nguồn từ
dãy núi Na Pa Phước, ở độ cao 600m, thuộc huyện Chi Lăng, chảy theo hướng Đông
5


phong phú và đa dạng.
- Thực vật: tỉnh Lạng Sơn nằm trong khu hệ thực vật Nam Trung Hoa-Bắc Việt
Nam vì vậy trong sự hình thành các loại thực vật, yếu tố bản địa chiếm 50%. Còn các
yếu tố loài thực vật của khu hệ Ấn Độ-Malaixia, Himalaya-Vân Nam-Quý Châu... chỉ
chiếm tỉ lệ nhỏ (dưới 10%).
+ Diện tích đất lâm nghiệp của Lạng Sơn là 569.741,68ha (2013), bao gồm ba
loại rừng: rừng sản xuất (449.574,16ha), rừng phòng hộ (111.875,34ha) và rừng đặc
dụng (8.292,18ha). Rừng là một trong những thế mạnh của Lạng Sơn. Rừng không chỉ
6


có tác dụng cân bằng sinh thái, bảo vệ đất, chắn gió, cung cấp lâm sản, dược liệu và
nguyên liệu cho các ngành kinh tế và đời sống, mà còn có vai trò quan trọng trong việc
bảo vệ an ninh và phát triển du lịch.
+ Rừng Lạng Sơn có 65 họ với 279 loài thực vật. Rừng được chia ra: rừng tự
nhiên và rừng trồng. Rừng tự nhiên ở Lạng Sơn có các loại rừng gỗ trên núi đất và núi
đá, rừng tre nứa và rừng hỗn giao. Rừng trồng các loại cây như hồi, thông, bạch đàn,
sa mộc... phát triển mạnh trong thời gian gần đây.
+ Do điều kiện sinh thái khác nhau giữa các vùng (đặc biệt là điều kiện nhiệt ẩm)
ở Lạng Sơn đã hình thành bốn kiểu rừng chính: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm
nhiệt đới, kiểu rừng nửa rụng lá ẩm nhiệt đới, kiểu rừng rụng lá hơi ẩm nhiệt đới, kiểu
rừng thường xanh cận nhiệt đới núi thấp.
+ Lạng Sơn còn có nhiều cây trồng nổi tiếng như: hồi, thuốc lá, mận Tam Hoa,
hồng và quýt Bảo Lâm, đào Mẫu Sơn... Chính những cây quả này đã trở thành đặc sản
gây ấn tượng khó quên cho du khách.
- Động vật: với sự biến động mạnh về lớp phủ thực vật và tác động của con
người, giới động vật của tỉnh có suy giảm về thành phần và số lượng cá thể, tuy nhiên
mức độ suy giảm không nhiều so với các khu vực khác.
+ Lớp thú ở Lạng Sơn có 8 bộ, 24 họ với 56 loài. Lớp chim có 14 bộ, 46 họ, 200
loài. Lớp bò sát lưỡng cư có 3 bộ, 17 họ, 50 loài.


Tổng số di
tích

Số di tích
được xếp
hạng quốc
gia

Mật
độ

Mật
độ

Diện tích
(km²)
Di
tích

(100
km²)

Di
tích

Số di
tích
được
xếp

23

3,29

2

0,28

21



3

Huyện Bình Gia

1.0963,53

8

0,07

3

0,03

5




0,17

7



6

Huyện Tràng Định

999,62

9

0,9

3

0,3

6



7

Huyện Cao Lộc

634,27


Huyện Lộc Bình

1.000,95

7

0,7

-

7



10

Huyện Hữu Lũng

806,75

10

1,24

3

0,37

7


(Chú thích về mức độ tập trung: :Dày; : Trung bình; Thưa)
Trong số các di tích xếp hạng cấp quốc gia, có nhiều di tích rất quan trọng, có giá
trị cao đối với du lịch như hệ thống di tích Nhất, Nhị, Tam Thanh thuộc TP. Lạng Sơn;
cụm di tích ải Chi Lăng (huyện Chi Lăng); cụm di tích Bắc Sơn (huyện Bắc Sơn); khu
di tích Hoàng Văn Thụ (huyện Văn Lãng); cụm di tích gắn với chiến thắng đường số 4
ở huyện Tràng Định; cụm di tích khảo cổ Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, Kéo Lèng ở
huyện Bình Gia…
Ngoài ra Lạng Sơn còn có ba bảo tàng, trong số đó có hai bảo tàng lịch sử và một
bảo tàng văn hóa tổng hợp. Hệ thống di tích tập trung theo từng cụm, nhiều nhất là ở
khu vực TP. Lạng Sơn, các huyện Bắc Sơn, Văn Quan, Bình Gia. Hệ thống các di tích
này có giá trị tham quan nghiên cứu, tìm hiểu lịch sử về mảnh đất Lạng Sơn.
8


Tuy nhiên nhiều di tích hiện nay còn chưa được khai thác tốt, do điều kiện cơ sở
hạ tầng yếu kém, điều kiện tiếp cận các di tích còn rất khó khăn. Bên cạnh đó, tình
trạng các di tích hiện nay cũng không được tốt. Ngoại trừ những di tích lớn đã có tiếng
còn lại đa số các di tích chưa được quan tâm đúng mức. Tình trạng xâm phạm di tích
vẫn tiếp diễn. Hầu như chưa có nơi nào thực hiện đúng chỉ giới bảo vệ di tích theo
Luật Di sản văn hóa.
1.2.2.2. Lễ hội
Lễ hội Lạng Sơn nhiều về số lượng, phong phú về nội dung, loại hình. Đặc biệt, lễ
hội Lạng Sơn vừa mang những đặc trưng của lễ hội cổ truyền Việt Nam và vùng Việt
Bắc vừa mang sắc thái riêng của vùng văn hóa Xứ Lạng. Theo số liệu khảo sát của Sở
Văn hóa-Thông tin Lạng Sơn, đến năm 2003, Lạng Sơn có trên 365 lễ hội dân gian với
tính chất, quy mô lớn, nhỏ khác nhau. Các lễ hội thường được tổ chức vào mùa xuân,
từ tháng riêng đến tháng tư âm lịch hàng năm. Các lễ hội đều mang nội dung xây dựng
và bảo vệ cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Ngoài các giá trị về tinh thần, văn hóa, lịch sử,
các lễ hội Lạng Sơn còn chứa đựng giá trị văn hóa-du lịch sâu sắc.
Bảng 1.2: Một số lễ hội quan trọng ở Lạng Sơn (Thời gian theo âm lịch)

hạnh phúc. Có các trò
chơi dân gian như cờ
người, múa lân…
Lễ hội Tam Ngày 15 Thành phố Còn có tên gọi là Hội 
Thanh
tháng
Lạng Sơn chúng sinh. Đến với
Giêng
ngày hội người ta thắp
hương ở chùa cầu trời,
phật ban phước lành
được sống bình an, làm
ăn được tài, được lộc
Hội đền Kỳ Ngày 22- Thành phố Hoạt động quan trọng 
Cùng
27 tháng Lạng Sơn nhất là rước kiệu. Trong
Giêng
lễ hội còn diễn ra các trò
chơi dân gian như múa
sư tử, múa lân…Đặc
9


5

6

7

8

Nga
tháng
Cao Lộc
trong chùa mời Tiên,
Giêng
mời Phật về phù hộ cho
dân làng được bình an,
hạnh phúc.
Lễ hội đền Từ ngày 2 Huyện
Là lễ đầu năm mới, cầu
Bắc Lệ
đến
15 Hữu Lũng thần linh phù hộ cho
tháng
một năm mới bình an
Giêng
hạnh phúc.
Hội đền vua Ngày 23- Thành phố Tưởng nhớ anh hùng

24 tháng Lạng Sơn dân tộc.
Giêng
Lễ hội khởi Ngày 27 Huyện
Kỉ niệm khởi nghĩa Bắc
nghĩa Bắc tháng 9
Bắc Sơn
Sơn
Sơn
Lễ hội Chi Ngày 10 Huyện
Kỉ niệm chiến thắng
Lăng

Theo số liệu thống kê năm 2013, dân số của tỉnh Lạng Sơn là 751.191 người, mật
độ dân số 90,28 người/km². Dân cư phân bố không đều, thành phố Lạng Sơn đông
nhất là 1.170,87 người/km², các huyện có mật độ dân số thấp nhất là huyện Đình Lập
(22,57 người/km²) và huyện Bình Gia (48,73 người/km²).
Bảng 1.3: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo huyện, TP
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

Đơn vị
TP. Lạng Sơn
Huyện Tràng Định
Huyện Bình Gia
Huyện Văn Lãng
Huyện Cao Lộc
Huyện Văn Quan
Huyện Bắc Sơn
Huyện Hữu Lũng
Huyện Chi Lăng
Huyện Lộc Bình
Huyện Đình Lập

114.860
75.570
79.670
26.821
751.191

1.170,87
60,79
48,73
90,31
119,29
99,79
96,23
142,37
107,04
79,59
22,57
90,28

Lạng Sơn có bốn dân tộc anh em cùng sinh sống trong cộng đồng hòa thuận, đa
số là dân tộc Nùng (chiếm 43,86%), tiếp theo là dân tộc Tày (35,92%), Kinh (15,26%),
và một số dân tộc khác như Dao, Hoa, Sán Chay...

Hình 1.1: Cơ cấu dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 2013

11


Theo lịch sử phát triển, các dân tộc ở Lạng Sơn ngày càng xích lại gần nhau, hòa
đồng với nhau, tạo thành một khối đoàn kết cùng nhau xây dựng quê hương. Mối liên

+ Các kiểu quần cư ở Lạng Sơn gồm quần cư nông thôn và quần cư đô thị. Quần
cư nông thôn có những dạng phân bố: ở thung lũng giữa núi, ở vùng địa mạo sa phiến
thạch núi cao trung bình, ở thung lũng thềm thấp, ở vùng địa mạo núi cao Công SơnMẫu Sơn. Quần cư đô thị ở các thành phố, thị xã , thị trấn và thị tứ. Hiện nay ở Lạng
12


Sơn có một thành phố đô thị loại III (thành phố Lạng Sơn) và 14 thị trấn thuộc 10
huyện, trong đó có 10 thị trấn huyện lị.
Các kiểu quần cư ở các tỉnh miền núi nói chung và Lạng Sơn nói riêng là cơ sở
cho việc xác định không gian văn hóa trong khai thác phát triển du lịch.
Cũng như di tích lịch sử văn hóa, Lạng Sơn là tỉnh có nhiều dân tộc ít người sinh
sống nên có nhiều hoạt động lễ hội trong năm với những bản sắc khác nhau. Tuỳ vào
nội dung hoạt động có thể phân ra các loại hình lễ hội lịch sử, lễ hội tín ngưỡng, tôn
giáo và lễ hội dân gian.
Người Nùng, người Tày ở Lạng Sơn có nhiều nét gần gũi với người Kinh trong
sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng nên có nhiều lễ hội gần gũi người Kinh như múa sư tử,
cờ người nhưng cũng có những hoạt động lễ hội mang bản sắc riêng như hát then, hát
sli, hát lượn, hội Lồng Tồng. Đặc biệt các chợ phiên của đồng bào các dân tộc như là
một hình thức hội hè mang bản sắc vùng cao. Các chợ phiên nổi tiếng ở Lạng Sơn như
Kỳ Lừa, Đồng Đăng, Đồng Mỏ, Thất Khê... là hình thức sinh hoạt văn hóa đặc trưng
cho các dân tộc thiểu số miền Bắc Việt Nam, hấp dẫn du khách gần xa.
1.2.2.4. Các tài nguyên du lịch nhân văn khác
a. Nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và kiến trúc
Mỗi dân tộc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đều có phong cách kiến trúc nhà ở, trang
phục, nhà thờ mang dáng dấp riêng. Trong cùng một tỉnh có sự khác biệt về kiến trúc
nhà ở phía tây và phía đông. Các huyện phía đông như: Lộc Bình, Đình Lập, Cao Lộc
nhà ở thường là nhà đất. Nhà này có ưu điểm là mùa hè mát và mùa đông ấm. Nhà đất
của các đại gia đình thường có hai tầng, tầng trên là khu vực để bàn thờ tổ tiên và các
nông sản như thóc, ngô... tầng dưới là khu vực sinh hoạt của cả nhà. Còn nhà bên các
huyện Tràng Định, Bắc Sơn là nhà sàn, nhà rộng thoáng, kiến trúc nhà sàn gần giống

đa dạng.
c. Chợ phiên
Từ xưa do nhu cầu trao đổi hàng hóa nhưng đường xá đi lại còn khó khăn nên
đồng bào dân tộc tỉnh Lạng Sơn có chợ phiên. Chợ phiên có ở tất cả các huyện, các thị
trấn, cũng có khi là các xã. Chợ phiên cứ 5 ngày lại họp một lần ở một nơi và đều đặn
qua các tháng, các năm và dùng âm lịch để tính ngày họp. Nhưng thường trong một
khu vực gần nhau về vị trí thì các chợ phiên sẽ không họp ngày trùng nhau, để đảm
bảo hàng hóa được lưu thông nhiều nhất. Ví dụ như chợ phiên Kỳ Lừa họp vào mùng
2, 7, 12, 17, 22, 27 của tháng thì các nơi khác gần sẽ họp chợ khác ngày hơn (chợ Bản
Ngà: mùng 5, 10, 15, 20, 25, 30; chợ phiên Lộc Bình: 1, 6, 11, 16, 21, 26). Các chợ
phiên nổi tiếng ở Lạng Sơn như: Kỳ Lừa, Đồng Đăng, Đồng Mỏ, Lộc Bình... Chợ
phiên cũng là nơi trao đổi hàng hóa, trao đổi những sản vật nên hấp dẫn khách gần xa.
Chợ phiên là một nét đẹp trong văn hóa của đồng bào các dân tộc miền núi. Đó là
nơi trao đổi hàng hóa, cũng là nơi gặp gỡ của những người quen cũng như nơi hẹn hò
của các đôi trai gái. Chợ phiên được duy trì đến ngày nay, đi chợ phiên trở thành thói
quen của nhiều người, vào ngày đó hàng hóa trao đổi nhiều nhất, chợ chật cứng lối đi.
Du khách đến chợ phiên được hòa mình vào không gian mua bán của đồng bào
dân tộc với những nông sản, đặc sản lạ mắt. Qua đó thỏa trí tò mò và hiếu kì. Do đó
chợ phiên hấp dẫn du khách.
Ngoài chợ phiên, thì không thể không nhắc tới các chợ có sức hút lớn ở thành
phố như: chợ Đông Kinh, Kỳ Lừa hay các chợ cửa khẩu: Đồng Đăng, Tân Thanh...
vừa phục vụ nhu cầu tham quan cũng như nhu cầu mua sắm cho du khách, đặc biệt là
các dịp cuối tuần. Có người nói các chợ ở đây là nơi rút tiền dần dần của du khách, vì
các món hàng nhiều khi rất rẻ, trong khi đó có rất nhiều mặt hàng mà khách hàng
14


muốn mua.
d. Nghệ thuật ẩm thực
Nói đến văn hóa của các dân tộc Lạng Sơn không thể không nhắc đến ẩm thực,

gia, trong đó tuyến quốc lộ 1A và quốc lộ 4A, 4B giữ vai trò quan trọng đối với phát
triển du lịch Lạng Sơn.
15


+ Đường tỉnh: Có 34 tuyến với tổng chiều dài 774,6km, với nhiều cấp đường
khác nhau, từ đường đạt tiêu chuẩn đường giao thông nông thôn loại B đến đường cấp
IV miền núi.
+ Đường huyện: Có 60 tuyến gồm nhiều cấp khác nhau, từ đường giao thông
nông thôn loại B đến đường cấp V miền núi.
+ Đường xã: Có 1.404,4km và hiện nay về cơ bản đã được bê tông hóa, thuận lợi
cho đi lại của người dân cũng như tổ chức đi đến các điểm du lịch.
+ Đường đô thị: Có 126,4km, trong đó 72,6km là đường đô thị thành phố Lạng
Sơn, còn lại 53,8km là đường thị trấn, thị tứ.
Hệ thống đường bộ là loại đường quan trọng, trước hết phục vụ nhu cầu đi lại
của người dân cũng như sản xuất và sinh hoạt. Mặt khác các hệ thống đường bộ hiện
đại thông suốt góp phần phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nói chung cũng như phát
triển du lịch nói riêng.
Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống đường bộ, trong những năm gần
đây loại đường này đã không ngừng được nâng cấp và xây mới. Đặc biệt là các cây
cầu như cầu vượt sông Kỳ Cùng, cầu Tằm Cát, cầu Bản Chu... tạo điều kiện đi lại
thuận tiện và tổ chức các tuyến du lịch trong tỉnh dễ dàng. Ngoài ra, hệ thống đường
bộ được nâng cấp hiện đại, đẹp tạo mỹ quan cho cảnh quan du lịch.
Nhưng bên cạnh đó còn có nhiều tuyến đường, đặc biệt là các tuyến đường ở
vùng sâu vùng xa vẫn chưa được đầu tư xây dựng và nâng cấp gây khó khăn trong lưu
thông đi lại. Cộng thêm sự xuống cấp của nhiều tuyến đường ảnh hưởng không nhỏ
cho việc đi lại cũng như sự phát triển của du lịch.
- Đường sắt: trên địa phận tỉnh Lạng Sơn có hai tuyến đường sắt: tuyến đường sắt
liên vận quốc tế Hà Nội- Đồng Đăngdài 162km và tuyến Mai Pha-Na Dương dài
31km. Các tuyến đường này đều do ngành đường sắt quản lý và khai thác. Hàng hoá

tâm đầu tư mở rộng hệ thống cấp nước trên địa bàn thành phố Lạng Sơn (lên
10.000m³/ngày-đêm), đầu tư hệ thống nước sạch các thị trấn Lộc Bình, Đình Lập,
Bình Gia, Văn Quan, Bắc Sơn, Hữu Lũng, đầu tư hệ thống nước sinh hoạt nông thôn...
Đến nay, có 75% dân số thành thị và 55% dân số nông thôn được dùng nước sạch, sản
lượng nước máy đạt 3,27 triệu m³.
Tuy nhiên, nhìn chung hệ thống cấp nước vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sản
xuất và đời sống, hầu hết công suất công trình cấp nước còn thấp, chưa đáp ứng nhu
cầu phát triển dân số ở khu vực đô thị, các công trình nước sạch nông thôn còn ít.
Nguồn nước chủ yếu hiện nay:
- Nhà máy nước thành phố Lạng Sơn: cung cấp nước cho 180 nghìn hộ dân.
- Giếng đào, cáp nước tự chảy, giếng khoan: tại các trung tâm huyện Chi Lăng,
Văn Lãng, Đình Lập, Bắc Sơn, Bình Gia.
Toàn tỉnh có 44 giếng khoan, trong đó 25 giếng có chất lượng tốt do thường
xuyên được bảo dưỡng và vận hành đúng quy trình. Ngoài ra tỉnh có trên 38 nghìn
giếng đào, gần 1/2 có chất lượng tốt. Hiện nay loại hình cấp nước chủ yếu cho nhu cầu
sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt của các thị trấn, khu dân cư tập trung là các hệ thống tự
chảy (292 hệ thống), trong đó chỉ có 135 hệ thống được đánh giá là có chất lượng tốt.
Toàn tỉnh còn có 1.242 bể chứa nước mưa, chủ yếu được xây dựng ven sườn núi. Toàn
tỉnh còn trên 18 nghìn hệ thống máng lần cấp nước cho người dân, phổ biến ở các
huyện Tràng Định, Bình Gia, Văn Lãng...
Hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường: Trong những năm qua đã hoàn thành
17


đưa vào sử dụng một số công trình thuỷ lợi (gồm cả công trình đầu mối, hệ thống kênh
mương) như: An Rinh-Lệ Minh, huyện Cao Lộc; Văn An, Xuân Mai huyện Văn Quan;
Hội Hoan, huyện Văn Lãng; Bản Nằm, huyện Tràng Định... đảm bảo cung cấp nước
túới tiêu phục vụ sản xuất và sinh hoạt; chuẩn bị các điều kiện để đầu tư xây dựng các
công trình thuỷ lợi Thất Khê, huyện Tràng Định; Thiện Kỵ, huyện Hữu Lũng; Tân
Lập, huyện Bắc Sơn. Đến nay, phần lớn các công trình hồ đập đầu mối đã được củng

là tiền đề quan trọng trong liên lạc, trao đổi, cung cấp và tìm kiếm thông tin du lịch.

18


1.3.4. Các công trình phục vụ công cộng khác
Các công trình văn hóa, thông tin, thể dục thể thao cũng từng bước được đầu tư
xây dựng như: xây mới trung tâm văn hóa thông tin tỉnh, cung văn hóa thiếu nhi, nhà
thi đấu thể thao tỉnh, nhà bảo tàng tỉnh...
Các chợ trung tâm thành phố (Đông Kinh, Kỳ Lừa), nhiều chợ trung tâm cụm xã,
hệ thống nhà hàng, khách sạn... cũng được đầu tư xây mới hoặc nâng cấp nhằm đáp
ứng nhu cầu phục vụ đời sống của nhân dân tỉnh Lạng Sơn cũng như du khách.

19


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA LẠNG SƠN
2.1. HOẠT ĐỘNG THEO NGÀNH
2.1.1. Nguồn khách
2.1.1.1. Tổng nguồn khách
Thời gian qua, nhờ chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước hoạt động
du lịch Lạng Sơn bước đầu đạt kết quả đáng khích lệ, tạo nên những chuyển biến rõ rệt
trước hết về số lượng khách du lịch đến Lạng Sơn.

Hình 2.1: Hiện trạng khách du lịch đến với Lạng Sơn giai đoạn 2005-2014
Nhìn chung, nguồn khách du lịch tăng dần qua các năm, bao gồm cả khách du
lịch quốc tế và nội địa, từ 935 nghìn lượt khách năm 2005 tăng lên 2,2 triệu lượt khách
năm 2014 (tăng 2,35 lần). Như vậy, lượng khách đến Lạng Sơn trong cả giai đoạn tăng
20


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status