1
_LỜI NÓI ĐẦU_
Đất nước Việt Nam của chúng ta tuy nhỏ bé nhưng tiềm ẩn trong mình một vẻ đẹp
tuyệt vời đã làm say đắm biết bao trái tim du khách đã từng đặt chân đến nơi đây. Tham gia
vào tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization) năm 1981, với tiềm năng đa dạng
và phong phú, Việt Nam đã chứng minh được mình xứng đáng trở thành điểm đến của thế
giới. Khắp dọc miền Tổ quốc từ Bắc vào Nam, nơi đâu cũng xuất hiện những danh lam thắng
cảnh nức lòng người : Sapa, Hạ Long, Huế, Hội An, Đà Lạt, Nha Trang . . . mỗi nơi với mỗi
vẻ đẹp khác nhau : yên bình, hùng vĩ, cổ kính . . . Đây là những điều kiện, tài nguyên cốt lõi
để du lịch – một ngành kinh tế tổng hợp đóng vai trò quan trọng phát triển. Nhắc đến du lịch,
nhiều người quan niệm rằng đây là “ngành công nghiệp không khói”, là “con gà đẻ trứng
vàng”. Thuộc lĩnh vực dịch vụ, du lịch đem lại hiệu quả cao về các mặt kinh tế, xã hội và cả
môi trường nếu như biết khai thác hợp lí mọi tiềm năng để phát triển bền vững. Còn ngược
lại, nếu không biết khai thác, quản lí phát triển đúng hướng sẽ dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực
cho tài nguyên và môi trường tự nhiên, xã hội xung quanh. Vậy nên qua bài nghiên cứu này,
tôi muốn góp một tiếng nói nhỏ để giúp cho nền du lịch Việt Nam được phát triển đúng
hướng, bắt đầu từ một tỉnh thuộc vùng du lịch Duyên Hải Nam Trung Bộ - Quảng Nam.
Nhiều nguồn tài liệu lịch sử đã chỉ ra rằng tên gọi Quảng Nam có nghĩa là "mở rộng
về phương Nam". Trước kia Quảng Nam là đất Chiêm Thành, trải qua quá trình phát triển từ
thời vua Lê, chúa Nguyễn. Được tách ra và nhập vào nhiều lần, qua thời kỳ kháng chiến
chống Pháp và chống Mỹ. Do vậy nên Quảng Nam hiện có rất nhiều tài nguyên du lịch mang
giá trị tự nhiên và văn hóa. Vì vậy, việc nghiên cứu để xác lập mục tiêu quy hoạch phát triển
du lịch cho địa phương này là rất quan trọng và cần thiết cho việc sử dụng nguồn tài nguyên
du lịch dồi dào nơi đây được hiệu quả.
2
Phần một: Nghiên Cứu Về Quảng Nam
I. Tổng quan về tỉnh Quảng Nam:
Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung,
được tái lập chính thức vào ngày 1/1//1997. Diện tích tự nhiên 10.406,83 km
2
.
6,2% phân bố ở vùng đồi núi phía tây của tỉnh. Nhiều nhất là tộc người K’Tu (chiếm 2.31%)
và tộc người Xơ Đăng (Chiếm 2,1%).
II. Tài nguyên du lịch:
1. Tài nguyên tự nhiên:
1.1 Địa hình:
Quảng Nam có hướng địa hình nghiêng và thấp dần từ Tây sang Đông hình thành 3
kiểu hình thái địa hình rõ rệt là kiểu núi cao phía Tây, kiểu trung du ở giữa và dải đồng bằng
ven biển. Địa hình chủ yếu là đồi núi. Vì địa hình trải dài thấp dần từ Tây sang Đông nên độ
cao của Quảng Nam so với mặt nước biển cũng giảm dần trong khoảng từ hơn 2000m (tính từ
nơi cao nhất là núi Ngọc Linh, huyện Nam Trà My) đến 0m (các đơn vị ven biển Tam Kỳ,
Hội An). Độ cao trung bình toàn tỉnh là 50m.
4
Dạng địa hình Phân tích
1. Núi cao phía Tây
- Diện tích vùng núi là 8.743,57 km2, chiếm 84,01% diện tích tự nhiên
toàn tỉnh (9 huyện miền núi).
- Độ cao trung bình khá cao so với địa hình núi, nơi cao nhất là 2598m
(đỉnh núi Ngọc Linh).
- Giá trị của địa hình với du lịch: là vùng núi cao, đầu nguồn các lưu
vực sông, nơi cư trú của đồng bào các dân tộc ít người. Nhân dân sống
chủ yếu bằng sản xuất nông lâm nghiệp với phương thức canh tác thủ
công. Nơi đây sẽ tạo nên những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ cộng với
nếp sinh hoạt độc đáo của đồng bào tộc người thiểu số sẽ thích hợp để
phát triển du lịch sinh thái và văn hóa thu hút du khách. Ngoài ra nơi
đây nhờ núi rừng Trường Sơn hiểm trở nên đã trở thành nơi hoạt động
của đồng bào dân tộc giúp bộ đội trong kháng chiến chống Mỹ; những
dấu tích còn lại giờ được sử dụng như những tài nguyên du lịch nhân
văn về lịch sử.
- Các núi có ý nghĩa với du lịch:
+ Dãy Trường Sơn, khu vực huyện Tây Giang.
đặc biệt khác mang giá trị vô cùng lớn cho du lịch, đó chính là dạng địa hình ven biển.
- Chiều dài đường bờ biển: Quảng Nam có trên 125 km bờ biển với nhiều bãi tắm sạch .
Ngoài ra còn có 15 hòn đảo lớn nhỏ ngoài khơi. Đây là một trong những tiềm năng lớn để
phát triển du lịch QuảngNam.
- Chiều rộng của bãi biển ở đây được tính trung bình từ 20- 30m tùy theo vị trí bãi biển.
- Độ mặn, độ trong của nước biển: vì không thể tìm được một báo cáo cụ thể, chính xác về
nước biển tại Quảng Nam nên có thể suy ra được độ mặn và độ trong của nước biển tại địa
phương này nhờ vào báo cáo của vùng Quảng Ngãi và biển Đông (vì Quảng Nam thuộc biển
Đông và tiếp giáp khu vực Quảng Ngãi). Nước biển Quảng Ngãi mang đặc trưng của vùng
nước biển sâu, màu mặt nước xanh thẳm, độ trong suốt lớn, biển thoáng. Độ mặn nước biển
khá cao, có sự thay đổi theo mùa, nhưng biên độ dao động độ mặn giữa mùa khô và mùa mưa
không lớn và độ mặn đều lớn hơn 32‰. Mùa gió Tây Nam, độ mặn tầng mặt ven bờ trung
bình 32 - 33‰, mùa gió Đông Bắc, nước biển có độ mặn cao khoảng 33,8 - 34‰. Độ mặn
trung bình quanh năm của nước biển Đông là 33‰. Từ đó có thể kết luận độ mặn của nước
biển khu vực tỉnh Quảng Nam vào khoảng 32-33‰ và có độ trong suốt lớn.
6
- Thời gian khai thác: cũng nhờ vào báo cáo nước biển của vùng Quảng Ngãi, ta có thể suy ra
sự tương đồng với nước biển tỉnh Quảng Nam. Nhiệt độ tầng nước mặt đạt giá trị cao nhất
vào tháng 5, trung bình 28
o
C - 29,8
o
C. Thấp nhất vào tháng 1, trung bình 22
o
C - 24,7
o
C. Với
nhiệt độ nước như vậy cộng với nhiệt độ trung bình năm tại Quảng Nam là 25,4
o
C, ta thấy
tháng 3; gió Ðông Bắc Tây Nam (Gió Bấc) mang gió buốt từ phương Bắc, cộng thêm hơi
nước biển Nam Hải xuống, bị dãy Trường Sơn ngăn lại, nên mưa nhiều, giá lạnh và lụt lội
liên miên. Mưa đặc biệt lớn vào tháng 11, vùng cao lượng mưa trung bình là 4000mm. Tần
suất lũ lụt, lũ quét 3 lần/ năm; các hiện tượng gió lốc 3-4 lần/ năm, mưa đá 1-2 lần/năm. Hàng
7
năm có 4 tháng ở nhiệt độ trung bình, tháng lạnh nhất là tháng 12; Tần suất sương muối
không xảy ra.
Từ những căn cứ trên, ta nhận định được rằng ở Quảng Nam thời gian hợp lí nhât để
khai thác du lịch là từ tháng 2 đến tháng 8 vì vào thời điểm này thời tiết tại Quang Nam ấm áp
và khô ráo. Tuy vào tháng 7, nhiệt độ có đạt giá trị cao nhưng vì địa phương ở ven biển nên
hơi nước từ biển thổi vào cũng làm nhiệt độ được giảm bớt, vẫn phù hợp cho việc tham quan
du lịch của du khách. Ngoài ra những tháng này thuộc thời điểm sau mùa mưa nên các nguồn
thủy văn của địa phương cũng sẽ dồi dào, làm cho nhiều cảnh quan thiên nhiên như suối, hồ
thêm đẹp, hùng vĩ.
1.3Nguồn nước:
Vì thuộc khu vực có lượng mưa tương đối lớn nên hệ thống sông hồ tại đây khá phong
phú. Tạo điều kiện thuận lợi về cung cấp nước cho phát triển sản xuất nông nghiệp và các
ngành kinh tế khác cũng như dân sinh.
Nguồn nước Phân tích
1. Sông
- Hệ thống sông: Hệ thống sông ngòi nằm trên địa phận tỉnh Quảng Nam
được phân bố đều ở các huyện, thị xã. Gồm hai hệ thống sông chính là
Sông Thu Bồn và Sông Tam Kỳ.
- Tổng chiều dài các sông khoảng 900 km.
- Mật độ sông ngòi: 0,5-1,0km/km
2
(lấy theo khu vực Bắc Trung Bộ)
- Tính chất sông: Sông ngòi ở đây đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn có độ
dốc lớn, mùa mưa thường gây lũ lụt, mùa khô thì hay bị cạn (không đáng
kể). Các sông có lưu lượng dòng chảy lớn (do địa hình nghiêng và thấp
tài nguyên sinh vật rừng và tài nguyên sinh vật biển.
- Tài nguyên rừng: Hiện nay đất đai diện tích rừng tự nhiện tại tỉnh Quảng Nam còn
khoảng 388,8 nghìn ha với trữ lượng gỗ khoảng 30 triệu m
3
. Về thực vât, ngoài gỗ khai
thác còn có các loại lâm sản quí như trầm, quế, sâm, trẩu, song mây. Về động vật, tại đây
cũng có nhiều loại thú sinh sống như voi, chim, hổ, bò rừng không có loài đặc hữu tại
khu vực này.
- Tài nguyên biển: Về thực vật, ở các vùng bãi triều có hệ sinh thái rừng ngập mặn. Nguồn
lợi động vật biển Quảng Nam phong phú với hai ngư trường chính là Núi Thành và Hội
An. Hai ngư trường này có diện tích rộng 4vạn km
2
, trữ lượng hải sản gần 9 vạn tấn. Có
nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao như cá thu, cá ngừ, cá chuồn, tôm hùm, bào ngư,
vẹm xanh… Đặc biệt ở Cù Lao Chàm còn có ốc vú nàng, cua đá, yến sào là đặc sản.
Ngoài ra còn có các rạn san hô đẹp ở đây.
9
Nổi bật hơn cả ở Quảng Nam còn có Cù Lao Chàm là Khu dự trữ sinh quyển thế giới
được UNESCO công nhận. Cù Lao Chàm là một xã đảo có tên hành chính là xã Tân Hiệp,
cách thành phố Hội An 18 Km về phía biển Đông. Xã bao gồm 8 đảo với tổng diện tích là 15
km
2
, đảo lớn nhất là Hòn Lao. Năm 2006, Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm chính thức được
thành lập, đến năm 2009 chính thức được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Nơi
đây có nhiều hệ sinh thái quan trọng như: rạn san hô, thảm cỏ biển, thảm rong biển với nhiều
giá trị nổi bật về đa dạng sinh học. Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm có diện tích 5.175 ha mặt
nước, với khoảng 311 ha rạn san hô, 500 ha thảm cỏ biển với nhiều loài hải sản có giá trị.
Theo kết quả nghiên cứu gần đây nhất, các nhà khoa học đã xác định được ở Cù Lao Chàm có
khoảng 277 loài san hô tạo rạn thuộc 40 giống và 17 họ; 270 loài cá thuộc 105 giống, 40 họ; 5
loài tôm hùm; 97 loài nhuyễn thể và rất nhiều loài có giá trị về mặt sinh thái, giá trị kinh tế và
phú và cực kỳ đa dạng, biểu hiện qua các lễ hội, hoạt động văn hóa,
nghệ thuật dân gian cùng với các làng nghề truyền thống khác.
- Một số điểm tham quan độc đáo trong khu phố cổ:
+ Chùa Cầu.
+ Các ngôi nhà cổ (Tấn Ký - 10 đường Nguyễn Thái Học, Quân Thắng-
77 đường Trần Phú, Phùng Hưng - số 4 đường Nguyễn Thị Minh Khai.
+ Chùa Ông (24 đường Trần Phú, Hội An).
+ Quan âm Phật tự Minh Hương (số 7 đường Nguyễn Huệ, Hội An).
+ Các hội quán của người Hoa (Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng
Đông…).
+ Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh (149 đường Trần Phú, Hội An).
Khu đền tháp Mỹ
Sơn
- Vị trí: thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, nằm cách thành phố Hội
An 45km về phía Tây, cách thành phố Đà Nẵng 70km về phía Tây Nam.
- Đặc trưng: đây là khu di tích tôn giáo kỳ vĩ nhất, đặc trưng nhất của
người Chămpa, xây dựng liên tục trong suốt hơn 1000 năm. Được khởi
công từ thế kỷ IV và kết thúc vào cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV. Mỹ
Sơn là một quần thể với hơn 70 ngôi đền tháp mang nhiều phong cách
kiến trúc, điêu khắc tiêu biểu cho từng giai đoạn lịch sử của vương quốc
Chămpa. Hầu hết các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc tại Mỹ
Sơn đều chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo. Đặc biệt, cho đến nay kỹ thuật
kết dính vật liệu không có mạch hồ trong việc xây dựng đền tháp ở Mỹ
Sơn vẫn là một bí ẩn. Do thiên tai, địch họa và sự tàn phá của bom đạn
chiến tranh, đến nay Mỹ Sơn chỉ giữ lại được khoảng gần 20 tháp.
11
Ngoài ra, trong các cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc, với địa hình núi cao phía
Tây hiểm trở của mình, Quảng Nam trở thành nơi hoạt động bí mật thuận lợi cho các chiến sĩ.
Vậy nên có thể coi đây là một trong những cái nôi của phong trào cách mạng và là vùng chiến
trường vô cùng ác liệt; được biết đến là địa phương đi đầu trong kháng chiến chống giặc
Nam từ những năm đầu của thế kỷ XV –XVI mà phát triển thăng trầm theo thời gian đến
ngày hôm nay.
Tại Quảng Nam hiện nay thống kê còn lại 20 làng nghề, rải rác ở nhiều nơi trên địa
bàn toàn tỉnh: làng đúc cồng chiêng Phước Kiều (huyện Điện Bàn), làng gốm Thanh Hà, làng
rau Trà Quế, làng mộc Kim Bồng (thành phố Hội An), làng chài Bãi Hương (Cù Lao Chàm),
làng dệt Mã Châu, làng dệt chiếu cói Bàn Thạch (huyện Duy Xuyên)… bên cạnh đó, nghề dệt
thổ cẩm độc đáo của tộc người K’Tu cũng đang dần hình thành, phát triển như một làng nghề.
Rất nhiều du khách cho rằng làng nghề truyền thống ở đây có sức hấp dẫn rất lớn, bởi mỗi
làng nghề không chỉ đơn thuần là nơi sản xuất hàng hóa mà còn là nơi ẩn chứa cả tính cách,
tâm lý, nét văn hóa của người dân nơi đây. Hiện nay những làng nghề này ngoài việc sản xuất
ra các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, một số nơi còn nghiên cứu chuyển sang làm sản phẩm
quà lưu niệm bán cho khách du lịch. Đặc biệt trong dịp lễ hội Quảng Nam 2003 - Hành trình
di sản, tỉnh Quảng Nam đã chính thức đưa 5 làng nghề truyền thống vào khai thác phục vụ du
lịch, gồm làng mộc Kim Bồng, làng đúc Phước Kiều, làng dệt Mã Châu, làng rau Trà Quế và
làng chài Bãi Hương.
1.4 Lễ hội:
Tại những nơi có truyền thống sản xuất lao động lâu đời, lễ hội là một phần đời sống
văn hóa tâm linh không thể thiếu và Quảng Nam cũng không nằm ngoài quy luât đó. Theo
thống kê vào năm 2000, tỉnh Quảng Nam có gần 200 lễ hội lớn nhỏ, phần lớn là lễ hội truyền
thống.
Hầu như vùng nào cũng có lễ hội dân gian, từ miền núi, trung du đến đồng bằng, ven
biển. Đó là lễ hội đâm trâu của các tộc người K’ Tu, Co, Xơ Đăng, Giẻ Triêng ở miền núi,
đây là lễ thức nông nghiệp của cộng đồng cư dân canh tác nương rẫy thường gọi tên theo từng
nghi lễ tín ngưỡng. Ở vùng trung du có nhiều lễ hội gắn với hoạt động sản xuất đặc thù khai
thác lâm sản như Lễ hội khai sơn ở Quế Sơn, Lễ hội vây cọp ở Tiên Phước. Vùng đồng bằng
là nơi tập trung rất nhiều lễ hội của cư dân nông nghiệp lúa nước như Lễ hội mục đồng ở Duy
Xuyên và các lễ hội nghề nghiệp như Lễ hội tổ nghề đúc đồng Phước Kiều, Điện Bàn; tổ nghề
mộc Kim Bồng, tổ nghề gốm Nam Diêu, Thanh Hà, tổ nghề yến Thanh Châu ở Hội An. Bên
cạnh đó còn hằng trăm lễ hội của các đình làng, lễ hội tín ngưỡng thờ mẫu như Lễ hội Bà
Chiêm Sơn, Lễ hội Bà Thu Bồn, Duy Xuyên; Lễ hội Bà Phường Chào, Đại Lộc; Lễ hội Rước
nhân được cải biến đi, nâng tầm lên thành vần điệu cho nghệ thuật hơn, làm phương
tiện để trao đổi, bày tỏ, chuyển tải tâm tình giữa những cá thể, những tập thể với nhau
trong cộng đồng.
14
Ngoài hò khoan, Quảng Nam còn có các điệu hò đặc trưng khác như: hò đi cấy, hò
xay lúa, hò tát nước, hò giã gạo, hò giã vôi, hò đạp xe nước, hò ba lý, hát bã trạo, hát nhân
ngãi, vè Quảng với thổ ngữ và giọng Quảng chắc nịch, đậm đà.
Về ẩm thực, ở Quảng Nam có sự đa dạng về các nguồn nguyên liệu (từ rừng, biển,
đồng bằng) nên các món ăn ở đây thực sự phong phú và đặc sắc. Đầu tiên phải kể đến những
đặc sản bình dân như mì Quảng, cao lầu, cơm gà Hội An, bê thui Cầu Mống (huyện Điện
Bàn), bánh bao – bánh vạc (hay còn có tên gọi bánh hoa hồng trắng do bánh nặn ra giống
bông hồng bạch), bánh ít lá gai, bánh căn trứng cút, bánh su sê… Tiếp đó còn có các đặc sản
quý từ thiên nhiên như yến sào Cù Lao Chàm, ốc vú nàng, cua đá, bào ngư (bào ngư Cù Lao
Chàm là một loại ốc cực hiếm, được biết đến với nhiều tên gọi như ốc cửu không - do có 9 lỗ
trống hay hải nhĩ - do có hình dạng giống cái tai. Để bắt được bào ngư, ngư dân có kinh
nghiệm phải lặn sâu xuống biển và khó khăn lắm mới tách chúng ra khỏi những tảng đá vì
chúng thường bám chặt vào đây). Ngoài ra phía tây Quảng Nam là vùng cư trú của các tộc
người thiểu số nên còn có đặc sản của họ làm phong phú thêm cho nền ẩm thực của vùng như
trái Loòng Boong (một loại dâu gia rừng) và rượu Tavak của người K’ Tu (loại rượu được
chế biến từ nước thân cây đoác mọc tự nhiên trong rừng có hình dáng giống cây dừa nhưng
thân to hơn).
15
Phần hai: Phân Tích Đánh Giá Về Du Lịch Quảng Nam
I. Số liệu liên quan đến du lịch:
1. Nguồn khách đến Quảng Nam:
(nguồn số liệu: www.quangnamtourism.com.vn/vn/thongke.asp)
Biểu đồ trên cho thấy sự khác biệt giữa lượt khách Nội đia và Quốc tế đến tham quan
và lưu trú tại Quảng Nam từ năm 2007 đến năm 2012. Với cái nhìn tổng quát, ở đa số các
năm lượt khách Quốc tế cao hơn so với khách Nội địa.
Về lượt khách Quốc tế: lượt khách đặc biệt tăng vọt ở năm 2008, như đã nói, thời gian
biết đến nhiều hơn và nổi bật với biển Cửa Đại, Cù Lao Chàm, Núi Thành. Sang đến năm
2012, kinh tế đã phục hồi trở lại cộng với đà phát triển của du lịch Quảng Nam nên doanh thu
từ du lịch tại đây cũng tăng đáng kể với tỷ lệ tăng là 28%.
Như vậy có thể thấy doanh thu từ du lịch của Quảng Nam có thể tăng cao thêm nữa
trong những năm tiếp theo vì tại đây còn rất nhiều điểm đến, tài nguyên du lịch chưa được
quan tâm khai thác.
II. Các tuyến, điểm du lịch tại Quảng Nam:
1. Các tuyến, điểm du lịch cụ thể:
Nhìn chung du lịch ở Quảng Nam chủ yếu mới chỉ khai thác vào khu vực đồng bằng
ven biển và thường kết nối với thành phố Đà Nẵng đây là một sản phẩm mà chúng ta vẫn biết
đến với tên gọi “Con đường di sản thế giới”. Tuyến du lịch chủ đề này có điểm xuất phát và
kết thúc là Đà Nẵng, đi qua hai di sản ở Quảng Nam là Đô thị cổ Hội An và Thánh địa Mỹ
Sơn (hai nơi này được gọi là điểm du lịch). Gần đây sản phẩm này đã mở rộng ra tham quan
thêm các điểm như Cù Lao Chàm và hồ Phú Ninh (huyện Phú Ninh). Tuyến du lịch tận dụng
khá tốt các điểm đến nổi bật của vùng nhưng tài nguyên tỉnh vẫn còn nhiều điểm đến khác
cùng khu vực chưa được khai thác triệt để như: tháp Khương Mỹ, Núi Thành, bãi Rạng
(huyện Núi Thành); các di tích lịch sử như địa đạo Kỳ Anh, bãi Tam Thanh (thành phố Tam
Kỳ)… Việc khai thác thường xuyên một số điểm du lịch trong tuyến như vậy sẽ dẫn đến hậu
quả tiêu cực cho môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh điểm du lịch đó, với thuật ngữ du
lịch chúng ta gọi đây là vượt quá sức chứa vật lí, sinh học, tâm lí và xã hội của điểm du lịch.
Thực tế này đã xảy ra với biển Cửa Đại và phố cổ Hội An. Vì vậy nên rút ra rằng tỉnh Quảng
Nam nếu muốn duy trì lượng khách đến với mình cần giữ gìn và bảo vệ nguồn tài nguyên du
lịch của tỉnh bằng cách đa dạng hóa điểm đến trong tuyến du lịch để hạn chế việc quá tải về
các khia cạnh của sức chứa như trên.
Bên cạnh khu vực đồng bằng ven biển, khu vực miền núi phía Tây của tỉnh cũng đang
được quan tâm khai thác trong vài năm trở lại đây. Việc khai thác khu vực phía Tây để phát
triển du lịch nhằm tạo hình ảnh du lịch mới cho Quảng Nam, phân chia lại thu nhập đồng đều
18
giữa các vùng với nhau và mục đích cuối cùng là để giảm bớt sức chứa cho những điểm du
lịch đang bị quá tải. Sản phẩm du lịch theo khu vực này là tuyến du lịch khám phá tìm hiểu tự
điểm du lịch tiềm năng.
20
Phần ba: Xác Lập Mục Tiêu Quy Hoạch Du Lịch Cho
Tỉnh Quảng Nam
I. Mục tiêu chung:
Từ nghiên cứu về các tài nguyên du lịch của tỉnh đã liệt kê trên và những gì mà du lịch
Quảng Nam đã làm được, tôi xin đưa ra mục tiêu chung cho du lịch của tỉnh như sau:
“Đến năm 2020 phát triển toàn diện các tài nguyên du lịch 7 huyện phía tây của tỉnh (Đông
Giang, Tây Giang, Nam Giang, Đại Lộc, Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn) để đa dạng
hóa hoạt động của du khách khi đến khu vực này. Nhằm rút ngắn khoảng cách chênh lệch
trong phát triển du lịch giữa khu vực phía Đông và phía Tây”.
II. Mục tiêu cụ thể (sản phẩm du lịch trọng tâm):
Sản phẩm trọng tâm Địa bàn phát triển
Du lịch tham quan di tích lịch sử
Cách Mạng.
- Huyện Đại Lộc: Ái Nghĩa, Thượng Đức.
- Huyện Phước Sơn: Ngok Ta Vak, Khâm Đức, Đồi E,
đường mòn Hồ Chí Minh.
- Huyện Bắc Trà My: Nước Oa.
Du lịch khám phá thiên nhiên,
mạo hiểm.
- Huyên Nam Trà My: Núi Ngọc Linh, thác Ba Tầng.
- Huyện Nam Giang: thác Grăng
- Huyện Tây Giang: dãy Trường Sơn.
- Huyện Đông Giang: Núi Chúa – Bà Nà.
Du lịch văn hóa cộng đồng tộc
người miền núi.
- Huyện Tây Giang: làng B’le
- Huyện Đông Giang: làng B’hờ Hđăng
- Huyện Nam Giang: làng Rô, Đắc Ôoc, Vinh, Pà Xua.
4. Trang điện tử Ủy ban dân tộc học (07/05/2009) – Tỉnh Quảng Nam:
- Website: www.cema.gov.vn
- Link trực tiếp: http://cema.gov.vn/modules.php?
name=Content&op=details&mid=7813#ixzz2kQJVkjip
5. Trần Thanh Việt – Quảng Nam - Đất nước và Con người, trích từ "Gia Phả tộc
Trần phái 7 - Tam Kỳ, Quảng Nam":
- Website: www.erct.com
- Link trực tiếp: http://www.erct.com/4-ChiaSe/BienSoan/Quang_Nam-
Dat_nuoc_va_con_nguoi.htm
6. Cổng thông tin điện tử du lịch Quảng Nam – Giới thiệu về Quảng Nam:
- Website: www.quangnamtourism.com.vn
- Link trực tiếp: http://www.quangnamtourism.com.vn/vn/gt_ktxh.asp
7. Cổng thông tin điện tử Chính phủ - Thông tin về tỉnh Quảng Nam:
- Website: www.chinhphu.vn
- Link trực tiếp:
http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/cactinhvathanhpho/
tinhquangnam/thongtintinhthanh?view=introduction&provinceId=1374
23
8. Trần Văn Anh – Cần quy hoạch không gian du lịch biển Quảng Nam:
- Website: www.qh-hdqna.gov.vn
- Link trực tiếp: http://qh-hdqna.gov.vn/Default.aspx?
tabid=97&ctl=tcb&mid=481&tc=231
9. Nguyễn Minh Tuệ, Lê Thông, Vũ Đình Hòa, Lê Mỹ Dung, Nguyễn Trọng Đức, Lê
Văn Tin, Trần Ngọc Diệp (2010) – Chương 6: Vùng du lịch Bắc Trung Bộ. Địa lý Du lịch
Việt Nam,Tr 257.
10. Cổng thông tin điện tử Quảng Nam (17/01/2009) – Giới thiệu về du lịch Quảng Nam:
- Website: www.quangnam.gov.vn
- Link trực tiếp: http://www.quangnam.gov.vn/CMSPages/BaiViet/Default.aspx?
IDBaiViet=115
11. Cổng thông tin điện tử Quảng Nam (12/2008) – Niên giám thống kê 2008:
19. Cổng thông tin Du lịch Quảng Nam – Tiềm năng du lịch Cách Mạng:
- Website: www.quangnamtourism.com.vn
- Link trực tiếp:
http://www.quangnamtourism.com.vn/vn/tiemnangdulich_cachmang.asp
20. Tô Thanh Loan, Đặng Thị Thu Thảo, Trần Đình Hưng, Đỗ Quang Minh, Trần Trà
Mi, Mai Anh Tân, Trần Văn Thành – Nghiên cứu về Đô thị cổ Hội An (Môn học Tổng
Quan Du lịch).
• Các tài liệu tham khảo đều được trích dẫn trong tháng 11/2013.
_PHỤ LỤC_
25
(nguồn:http//www.quangnamtourism.com.vnvnquangnam.htm/)