tiểu luận cao học môn chính trị gia tiêu biểu một số vấn đề về đại đoàn kết và tuyên truyền cách mạng trong tư tưởng của chủ tịch tôn đức thắng - Pdf 40

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bác Tôn Đức Thắng, một nhà yêu nước vĩ đại, người chiến sĩ cộng sản kiên
cường mẫu mực, lãnh tụ kính mến của GCCN và nhân dân các dân tộc Việt Nam.
Bác Tôn là hình mẫu phong phú, hoàn chỉnh về lối sống, lẽ sống, nhân cách, đạo
đức cách mạng cần kiệm, liêm chính, suốt đời hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân.
Cuộc đời sự nghiệp của Bác Tôn mãi mãi là tấm gương sáng cho lớp lớp các thế hệ
người Việt nam nói chung, cho các thế hệ GCCN Việt Nam nói riêng noi theo. Bác
Tôn Đức Thắng đã có những cống hiến to lớn, quan trọng đối với GCCN và tổ
chức Công đoàn Việt Nam
Cuộc đời hoạt động của Bác Tôn rất phong phú, đa dạng, từ học nghề, làm thợ,
làm lính đến tổ chức đấu tranh, từ tù đày Côn đảo đến tham gia kháng chiến, tham
gia các chức vụ quan trọng trong bộ máy lănh đạo Đảng, Nhà nước, hệ thống chính
trị. Từ trực tiếp tham gia hoạt động trong phong trào công nhân, công đoàn ở nước
ngoài, đến tham gia hoạt động ở trong nước. Dù ở đâu, Bác Tôn cũng luôn thể hiện
rỏ một người yêu nước, thương dân nhất mực, người có tinh thần đoàn kết, cố kết
cộng đồng, chia sẻ ngọt bùi, tương thân tương ái, trọng nghĩa khí, ghét áp bức bất
công, cần cù sáng tạo, bao dung, độ lượng.
Khi bị bắt giam, đày đọa hơn 15 năm trời trong ngục tù Côn Đảo, với những
cực hình hết sức dã man, nhốt vào hầm xay lúa, nhốt vào hầm tối, tay chân bị xiềng
xích, kềm kẹp, bị đánh đập tàn bạo, bị bỏ đói, khát, Bác Tôn vẫn giữ vững tinh thần
cách mạng kiên cường và sự trung thành vô hạn đối với Đảng, luôn tin tưởng ở
tương lai tươi sáng của dân tộc, luôn vui vẻ, không bao giờ sao nhãng công tác cách
mạng, chịu khó nghiên cứu, học tập lý luận. Bản lĩnh và hành động của Bác Tôn
làm kẻ thù phải, kính nể, đồng chí, bạn bè càng quư trọng, kính phục. Trong suốt
cuộc đời hoạt động cách mạng dù ở đâu, với những cương vị quan trọng khác nhau
của Đảng, Nhà nước, Bác Tôn vẫn giữ vững những đức tính vốn có của mình, ăn
những món ăn giản dị, như những món ăn của quê nhà,vẫn mặc như những người
1




nghiệp cách mạng của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
Đó là lý do em chọn đề tài “ Một số vấn đề về đại đoàn kết và tuyên truyền
cách mạng trong tư tưởng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng” làm tiểu luận kết thúc
học phần môn Chính trị gia tiêu biểu thế kỷ XX đầu thể kỷ XXI.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài sẽ đi tìm hiểu về đồng chí Tôn Đức Thắng, phân tích những quan điểm
lý luận về đại đoàn kết trong Đảng, đại đoàn kết toàn dân và ý nghĩa những quan
điểm đó với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Tiểu luận trình bày khái quát về thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức
Thắng và làm rõ một số đóng góp về lý luận và thực tiễn của Chủ tịch Tôn Đức
Thắng đối với cách mạng Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quan điểm cơ bản của Chủ tịch Tôn Đức Thắng về đại
đoàn kết, về tuyên truyền cách mạng của Đảng
Phạm vi nghiên cứu: Trải dài theo suốt quá trình hoạt động cách mạng của Chủ
tịch Tôn Đức Thắng. ( từ năm 1888 - 1980)
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác – Lê nin, phương pháp lý luận gắn liền thực tiễn, phương pháp nghiên cứu,
phân tích, tổng hợp tài liệu.
5. Kết cấu tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
tiểu luận gồm 2 chương:

3



với phong trào dân chủ tư sản ở Đông Âu bắt đầu từ Cách mạng 1905 ở Nga đã tạo
thành một cao trào thức tỉnh của các dân tộc phương Đông. Hàng trăm triệu người
hướng về một cuộc sống mới với ánh sáng tự do.
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Đối với nước Nga, đó là
cuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga thì
đó còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bởi vì trước cách mạng "nước
Nga là nhà tù của các dân tộc". Cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga thành công,
các dân tộc thuộc địa của đế quốc Nga được giải phóng và được hưởng quyền dân
tộc tự quyết, kể cả quyền phân lập, hình thành nên các quốc gia độc lập và quyền
liên hợp, dẫn đến sự ra đời của Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết
(1922). Cách mạng Tháng Mười đã nêu tấm gương sáng về sự giải phóng dân tộc
bị áp bức đã "mở ra trước mắt họ thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải
phóng dân tộc"
Nó làm cho phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phương
Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông có quan
hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế
quốc.
Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập. Tại Đại hội II của Quốc tế
Cộng sản (1920), Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn
đề thuộc địa của V.I. Lênin được công bố. Luận cương nổi tiếng này đã chỉ ra
phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức. Với thắng lợi của Cách
mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản, nhiều đảng cộng sản
trên thế giới đã được thành lập.
Tình hình thế giới đầy biến động đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam.
5


1.1.2 Bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX
Cuối thế kỷ XIX, sự kiện lịch sử tác động mạnh mẽ đến tình hình chính trị, kinh
tế, xã hội Việt Nam; làm thay đổi kết cấu giai cấp, ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống

chính quyền về tay nhân dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã đập tan
xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp trong gần một thế kỷ, lật nhào chế độ quân chủ
hàng mấy ngàn năm và ách thống trị của phát xít Nhật, lập nên nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Nhân dân Việt
Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân của nước độc lập tự do, làm chủ vận
mệnh của mình. Ngày 2- 9 – 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt
Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc
lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào, với toàn thể thế giới: Nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa ra đời. Đưa dân tộc ta bước vào một kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên độc
lập dân tộc tự do và chủ nghĩa xã hội.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa đất nước ta đi từ thắng
lợi này đến thắng lợi khác, đặc biệt là chiến thắng trước hai đế quốc lớn của thế
giới: thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mở ra một giai đoạn mới đưa cả nước tiến lên
chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi của công cuộc đổi mới trong những chặng
đường tiếp theo.
1.2 Thân thế sự nghiệp Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng
Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người chiến sỹ cộng sản kiên cường, mẫu mực, cống
hiến trọn đời cho cách mạng, cho dân tộc; người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng,
Nhà nước và Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam. Trong suốt cuộc đời hoạt động
cách mạng, ở bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó khăn, gian khổ đến mấy, Chủ tịch Tôn
Đức Thắng luôn tỏ rõ rất mực trung thành, tận tụy đối với Đảng, nhân dân, luôn
nêu cao tinh thần anh dũng, bất khuất, phẩm chất đạo đức: cần, khiệm, liêm chính,
chí công, vô tư .
Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888 trong một gia đình
nông dân tại Cù Lao Ông Hổ, tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là xã Mỹ
Hòa Hưng, thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Năm 1910, sau khi tốt nghiệp
Trường Bách nghệ Sài Gòn với điểm tối ưu (20/20), Bác gia nhập hàng ngũ giai
9




Nam Kỳ thừa nhận là chi bộ đặc biệt và là đảng viên từ đó. Bằng những kinh
nghiệm đã có trong tổ chức Công hội bí mật ở Sài Gòn, đồng chí Tôn Đức Thắng
đã bàn với những người cộng sản thành lập Hội những người tù đỏ làm hạt nhân
lãnh đạo, tập hợp tù nhân, tạo sức mạnh đoàn kết chống lại chế độ lao tù.
Nhiều Đảng viên cộng sản trong đó có đồng chí Tôn Đức Thắng bị kết án khổ
sai cũng bị giam chung với tù thường phạm ở Banh I, nơi chuyên giam giữ tù lưu
manh, trộm cắp, đã nhiều lần mang án. Đây là thủ đoạn thâm độc của thực dân
Pháp mượn bàn tay của những tên tù anh chị nhằm tiêu diệt những người cộng sản.
Trong một lần liên lạc của Hội, bọn gác ngục đã phát hiện được Tôn Đức Thắng
và phạt giam ở Hầm xay lúa. Hầm là địa ngục của địa ngục, một hình thức cực hình
đối với tù nhân, địch gọi là “Khu trừng giời”. Với âm mưu thâm độc của địch muốn
dùng tay anh chị để hành hạ và giết Tôn Đức Thắng, hiểu được ý đồ này, đồng chí
Tôn Đức Thắng đã tập hợp một số đồng chí cộng sản cũng bị đày ở Hầm xay lúa
bàn cách nắm lấy quyền lực điều hành để cải thiện đời sống và điều kiện làm việc
cho những bạn tù ở Hầm: bỏ lối cai quản người tù bằng roi vọt, sắp xếp, phân công
để tất cả mọi người làm việc theo điều kiện sức khỏe, người yếu thì sàng gạo, đóng
bao, người khỏe thì xay và khuân vác thóc, kíp đứng cối thì bố trí thêm người, thay
nhau người làm, người nghỉ.
Năm 1934, sau khi rời khỏi Hầm xay lúa, đồng chí Tôn Đức Thắng làm việc tại
Sở Lưới, vừa sửa máy vừa lái canô. Sở lưới, với vai trò của đồng chí Tôn Đức
Thắng trở thành trung tâm giao liên quan trọng của tổ chức Đảng ở Côn Đảo và là
đầu mối để tổ chức cho cán bộ, đảng viên bị tù ở Côn Đảo trốn về hoạt động trong
đất liền.
Ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật, nhanh chóng đánh bại
đạo quân Quan Đông hơn một triêu lính tinh nhuệ của Nhật. Ngày 15/8/1945, phát
xít Nhật chính thức đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh không điều kiện.
Đảng ta kịp thời chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân cả nước vùng lên Tổng khởi nghĩa
giành chính quyền trong cả nước. Sau khi nghe lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc

dân kháng chiến, đồng chí Tôn Đức Thắng được giữ chức Quyền trưởng Ban.
12


- Từ 1951: Quyền Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Tại Đại hội Đảng lần thứ
II được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Đồng chí là
Đại biểu Quốc hội liên tục các khóa I-VI.
- Từ 1951 - 1955 : Chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Mặt trận Liên Việt
- Từ 1955 - 1977: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Từ 1960: Phó trưởng Ban thường trực Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Tổng
Thanh tra toàn quốc, Trưởng Ban thường trực Quốc hội, Phó Chủ tịch nước Việt
Nam Dân chủ cộng hoà (tháng 7/1960). Tại Đại hội Đảng lần thứ III (9/1960) được
bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
- Ngày 23/9/1969 đến 1981: Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976) của Đảng được bầu vào
Ban Chấp hành Trung ương.
- Từ 1977 - 1981: Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- 30/3/1980: Qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.

13


Chương 2: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ CƠ BẢN CỦA CHỦ
TỊCH NƯỚC TÔN ĐỨC THẮNG
2.1 Lý luận về đại đoàn kết dân tộc
Ðồng chí Tôn Ðức Thắng - tấm gương tiêu biểu cho chính sách đại đoàn kết
của Ðảng
Từ những cuộc đấu tranh đầu tiên trên con đường cách mạng của mình, người
thanh niên yêu nước Tôn Ðức Thắng đã hiểu rõ rằng đoàn kết làm nên sức mạnh.
Gần 17 năm bị giam cầm trong lao tù đế quốc, trải qua nhiều cuộc đấu tranh

làm công tác dân vận khéo léo như đồng chí Tôn Ðức Thắng đảm nhiệm vị trí công
tác quan trọng đó là hoàn toàn chính xác.
Là người lãnh đạo chủ chốt, đồng chí Tôn Ðức Thắng đã góp phần quan trọng
thảo ra Cương lĩnh của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam, trong đó nêu rõ mục
đích của Hội là: "... đoàn kết tất cả những đảng phái yêu nước và những đồng bào
yêu nước không đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị,
chủng tộc để làm cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, phú cường".
Với chính sách đó. Liên Việt đã thu hút tập hợp được nhiều lực lượng, cá nhân
trước kia chưa tham gia Việt Minh nay đứng về phía nhân dân, dù chưa hoàn toàn
chắc chắn, để phân hóa cô lập kẻ thù, tăng thêm lực lượng cho cách mạng.
Ðồng chí Tôn Ðức Thắng đã giải quyết thành công những mối quan hệ giai cấp
và dân tộc trong công tác mặt trận - công tác được đồng chí coi là một hình thức
đấu tranh giai cấp đặc biệt - cho nên đối với bạn đồng minh, phải vừa đoàn kết, vừa
đấu tranh, đoàn kết để giữ vững mặt trận cách mạng, đấu tranh để đi đến đoàn kết
cao hơn, không thể đoàn kết một chiều, thủ tiêu đấu tranh, cũng không thể đấu
tranh vô nguyên tắc ảnh hưởng đến đoàn kết.
Trước những âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của Pháp và tay sai,
Ðảng ta chủ trương thống nhất các tổ chức Mặt trận, lập một Mặt trận dân tộc
thống nhất duy nhất với tính chất chặt chẽ và rộng rãi, đặt trên cơ sở công nông và
lao động trí thức, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, lấy tên là Mặt trận Liên
Việt. Ðồng chí Tôn Ðức Thắng được Ðảng giao nhiệm vụ thống nhất Việt Minh 15


Liên Việt từ cơ sở đến trung ương theo chủ trương đó. Ðồng chí Tôn Ðức Thắng đã
chỉ đạo sát sao công việc này. Do chuẩn bị tốt, tổ chức chu đáo, có kế hoạch cụ thể,
đến tháng 8-1950, hai tổ chức Mặt trận đã hợp nhất từ cấp cơ sở tới cấp tỉnh, tạo
điều kiện thuận lợi để tiến hành thành công Ðại hội hợp nhất cấp trung ương từ
ngày 3- 3-1951 đến ngày 7-3-1951.
Ðại hội đã bầu đồng chí Tôn Ðức Thắng là Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc của Mặt
trận Liên Việt. Ðồng chí Tôn Ðức Thắngđã đem hết sức lực và trí tuệ để thực hiện

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng gần 70 năm không ngừng nghỉ của mình,
đồng chí Tôn Ðức Thắng đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp đại đoàn
kết toàn dân và tăng cường tình hữu nghị đoàn kết giữa các dân tộc.
Tấm gương suốt đời tận tuỵ, phấn đấu hy sinh cho Tổ quốc, cho nhân dân;
phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, cùng những tình cảm chân thành và tốt
đẹp dành cho đồng bào, chiến sĩ... cũng là những điều làm nên sức cảm hóa, thu
hút, tập hợp quần chúng của Chủ tịch Tôn Ðức Thắng.
"Ðồng chí là người tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Ðảng ta và
của Hồ Chủ tịch",
Tôn Đức Thắng - biểu tượng sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
Hoạt động trên nhiều cương vị khác nhau, Chủ tịch Tôn luôn quan tâm và chăm
lo việc tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng của Đảng
và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, từ Côn Đảo trở về, với cương vị và
trọng trách to lớn được Đảng giao phó, Bác Tôn đã góp phần xây dựng Nhà nước
của dân, do dân, vì dân; tập hợp toàn dân tộc đoàn kết một lòng đưa kháng chiến
đến thắng lợi vẻ vang; góp phần vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước tiến
lên chủ nghĩa xã hội; đưa cách mạng Việt Nam hoà trong dòng thác cách mạng thế
giới đấu tranh cho độc lập, tự do, hoà bình, hạnh phúc, tiến bộ và nhân văn.
Hoạt động trên nhiều cương vị khác nhau, Bác Tôn luôn quan tâm và chăm lo
việc tăng cường, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng của Đảng và
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Góp phần quan trọng vào việc thu hút trí lực của toàn dân
17


tham gia sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ Quốc.
Tình hình đất nước ta vào đầu năm 1946 cực kỳ khó khăn. Vận mệnh Tổ quốc
đang “nghìn cân treo sợi tóc”. Đảng ta chủ trương một mặt hoà để tiến, mặt khác ra
sức củng cố khối đoàn kết làm hậu thuẫn chính trị cho chính quyền nhân dân còn

mạnh cho cuộc kháng chiến, khẳng định ý chí quật cường của toàn dân trước sự
xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ và bọn tay sai.
Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc (từ 5 – 10/9/1955) là sự kiện
trọng đại đã tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân yêu
chuộng hoà bình trên thế giới. Đại hội đã thảo luận thông qua dự thảo Cương lĩnh,
Điều lệ mới và quyết định tên là Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam. Cương lĩnh của Mặt
trận được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao. Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ
tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và giữ trọng trách này đến
năm 1977. Trên cương vị lãnh đạo Mặt trận, Bác đem hết sức lực, nhiệt tình và trí
tuệ của mình, cống hiến cho sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong mọi hoạt
động cụ thể của mình, Bác đã làm sáng tỏ chủ trương đoàn kết toàn dân tộc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng, phá tan âm mưu của các thế lực thù địch chia
rẽ đoàn kết lương giáo, nhắc nhở các thành viên trong Mặt trận phải tôn trọng tự do
tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đời sống mới, bảo vệ quyền lợi của người lao
động, bảo vệ người già yếu, tàn tật, phụ nữ trẻ em, gìn giữ văn hoá truyền thống và
tiếp thu văn hoá nhân loại làm phong phú và phát triển nền văn hoá dân tộc, mọi
mặt công tác của Mặt trận đều nhằm phục vụ cho thắng lợi của cách mạng Việt
Nam… Mặt trận đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng Đảng, xây dựng và
bảo vệ chính quyền nhân dân, củng cố khối liên minh giữa giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang
nhân dân. Nhờ đoàn kết trong nước, chúng ta đã mở rộng và phát triển đoàn kết
quốc tế, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ và hợp tác của bạn bè trên thế giới. Có
thể nói Mặt trận đã trở thành một nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của cách
mạng Việt Nam.
19


Phẩm chất đạo đức của người chiến sĩ cộng sản gắn liền với sự nghiệp cách
mạng của Bác Tôn là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phẩm chất cách mạng của
người cộng sản với phong cách giai cấp công nhân Việt Nam.

III. Lòng yêu nước, lý tưởng cộng sản và những trải nghiệm của cuộc đời hoạt
động cách mạng đã hoà quyện vào nhau, tạo nên sự nhuần nhuyễn và sâu sắc trong
phong cách tuyên truyền Tôn Đức Thắng.
Đồng chí Tôn Đức Thắng có khả năng cảm hoá được nhiều đối tượng và
chuyển hoá nhận thức của họ bằng tấm lòng chân thành, ngôn ngữ chân thực, lý lẽ
thấu đáo, đạo lý sâu xa, nghệ thuật thuyết phục, sự hiểu biết rộng rãi của người
từng trải. Đó là những công nhân lao động lầm than, những đảng viên ở tù Côn
Đảo, những nhân sĩ, trí thức, người trong các đảng phái, tôn giáo khác nhau, kiều
bào, chính khách nước ngoài, thậm chí là những thanh niên hư hỏng, những người
tù hung hãn, bất trị. Đó là nghệ thuật giải quyết mối quan hệ giữa người với người
không bằng mệnh lệnh, cưỡng bức và sự can thiệp thô bạo mà bằng dân chủ, thuyết
phục và sự hiểu biết lẫn nhau; là nghệ thuật hoá giải mâu thuẫn không đối kháng để
đạt được sự thông cảm và nhận thức chung, từ đó tạo nên sự gắn kết của cả tập thể.
Khi ở nhà tù Côn Đảo cũng như sau này khi giữ cương vị lãnh đạo cấp cao, đồng
chí Tôn Đức Thắng luôn tìm cách thuyết phục mọi người bằng phương pháp vừa có
tính nguyên tắc, tính khoa học, vừa có tình cảm nhân ái, bao dung. Phương pháp
tuyên truyền, giáo dục đó không chỉ tác động làm thay đổi nhận thức mà còn cảm
hoá trái tim con người. Nó tạo ra những giá trị quy tụ được lòng người, làm cho
nhân dân tin vào Đảng, tự nguyện đi theo Đảng và mọi hoạt động đặt dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Đây chính là nguyên nhân đã giúp đồng chí Tôn Đức Thắng thành
công trong công tác vận động quần chúng, là điều làm nên sự kỳ diệu trong nghệ
thuật tuyên truyền, giáo dục của đồng chí.
Phẩm chất quan trọng cần có của người làm công tác tuyên truyền, đó là tình
cảm và niềm tin vào sự nghiệp cách mạng, và đây chính là những yếu tố quyết định
chất lượng hoạt động tuyên truyền, làm tăng nghệ thuật truyền cảm, sức hấp dẫn và
sự lay động lòng người. Niềm tin chính trị là kết quả của quá trình nhận thức sâu
21


sắc, đúng đắn tri thức chính trị và lý tưởng chính trị. Niềm tin chính trị khi được

Quốc hội Việt Nam sang làm việc ở Pháp, cùng với các đồng chí khác, đồng chí
tiếp xúc, tuyên truyền, vận động, cảm hoá nhiều nghị sĩ Quốc hội Pháp, đại diện
các đoàn thể quần chúng, các tầng lớp nhân dân Pháp, làm cho họ hiểu hơn về cuộc
đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, ủng hộ Việt Nam và thắt chặt thêm
sự hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân hai nước. Đồng chí tiếp xúc với nhiều nhân sĩ,
trí thức, đối thoại với một số người của các đảng phái, giai cấp, dân tộc, tôn giáo
khác nhau, làm cho họ nhận rõ ý nghĩa, vai trò quyết định của sức mạnh đại đoàn
kết dân tộc.
Đồng chí Tôn Đức Thắng rất quan tâm đến công tác tuyên truyền đối ngoại.
Đồng chí nhận trình quốc thư, tiếp xúc với đại sứ nhiều nước, gửi thư, điện chúc
mừng quốc khánh, viết bài nhân dịp kỷ niệm các sự kiện quốc tế trọng đại…Tranh
thủ mọi điều kiện, mọi thời điểm lịch sử, đồng chí làm cho nhân dân tiến bộ thế
giới thấy rõ bản chất xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, thể hiện khát vọng hoà bình,
hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, kêu gọi nhân dân tiến bộ trên thế giới giúp đỡ
Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Đồng chí đặc biệt quan
tâm đến việc phát huy vai trò của bà con kiều bào trong công tác tuyên truyền đối
ngoại. Đồng chí kêu gọi: “Các kiều bào hải ngoại lần này cũng phải tích cực hoạt
động tìm đủ cách tuyên truyền cuộc chiến tranh chính nghĩa của ta, gây thiện cảm
với nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới và đánh tan những luận điệu của
bọn phản động quốc tế mong lừa bịp dư luận hoàn cầu để đè nén, bóc lột các dân
tộc nhược tiểu”.
Người thợ máy Việt Nam kéo cờ đỏ trên chiến hạm Pháp ở Biển Đen ủng hộ
Nhà nước Xô Viết năm nào đã thể hiện sinh động quan điểm của Đảng, Nhà nước
ta về tinh thần quốc tế vô sản, về ngoại giao nhân dân, về thông tin đối ngoại tại
nhiều diễn đàn khác nhau, trong nước và ở nước ngoài. Sức thu phục và cảm hoá
của đồng chí toả ra, trước hết, từ trí tuệ của một con người suốt đời lăn lộn học tập,
phấn đấu, lao động, sáng tạo vì dân, vì nước, và hơn thế, từ tấm lòng yêu nước,
thương dân của một người cộng sản chân chính.
23




mạng của quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở: công tác dân vận
phải đúng và phải khéo, không bỏ sót một người nào, làm cho đường lối, chính
sách của Đảng và Chính phủ thông qua giáo dục, tuyên truyền và vận động trở
thành tư tưởng, ý thức và hành động sáng tạo của quần chúng. Đồng chí Tôn Đức
Thắng là người có phương thức tuyên truyền miệng đạt tới trình độ nghệ thuật độc
đáo. Khi truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm, chủ trương của Đảng, khi chỉ
đạo triển khai những quyết sách quan trọng, khi làm công tác ngoại giao hay đấu
tranh phê phán tiêu cực, đồng chí đánh giá đúng về đối tượng để lựa chọn phương
thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp. Trong cách thức tuyên truyền, đồng chí luôn
trình bày nội dung cụ thể, thiết thực, rõ ràng, được người nghe hồ hởi đón nhận.
Cách truyền đạt chủ trương, chính sách của đồng chí giản dị, rành mạch và thực
tiễn. Đó là nghệ thuật khêu gợi vấn đề để đối tượng tuyên truyền hướng tới chân lý;
là nghệ thuật dẫn giải mục tiêu của đường lối, chính sách đến biện pháp để đạt mục
tiêu đó, giúp cho quần chúng thẩm thấu, lĩnh hội và hành động dễ dàng.
Đồng chí Tôn Đức Thắng làm công tác tuyên truyền dưới nhiều hình thức khác
nhau: bài nói, bài viết, đối thoại, diễn đàn… vận dụng linh hoạt văn phong hội thoại
với các câu hỏi, câu kể, câu cảm thán, câu mệnh lệnh… Câu hỏi mà đồng chí nêu ra
thường gắn với những băn khoăn, thắc mắc trong thực tế hoặc khơi dậy nghĩa vụ,
trách nhiệm công dân của mỗi người, đưa ra những giải thích, chứng minh ngắn
gọn và hướng dẫn họ làm theo đường lối cách mạng của Đảng. Đây chính là nghệ
thuật chinh phục lòng người trong phương pháp tuyên truyền của đồng chí Tôn
Đức Thắng. Tính cổ động trong ngôn ngữ tuyên truyền của đồng chí có sức mạnh
hiệu triệu, thôi thúc hành động cao, thể hiện đậm nét trong những bài nói, viết về
bầu cử đại biểu Quốc hội, tập hợp sức mạnh đại đoàn kết dân tộc hay giao nhiệm
vụ cho thanh niên... Đồng chí căn dặn: “Phải đề phòng chủ nghĩa mệnh lệnh: lợi
dụng uy tín của Đảng trong quần chúng mà hạ lệnh làm bừa, không chịu khó thuyết
phục, giải thích, làm cho quần chúng tự giác, tự động thi hành chính sách của
Đảng”. Lối tuyên truyền, giáo dục áp đặt, một chiều sẽ tạo nên sự phản cảm, làm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status