NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHỦ NHIỆM THÔNG QUA GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH NỮ LỚP 10 TRƯỜNG THPT HOÀNG HOA THÁM - Pdf 40

z

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KHÁNH HÒA
Trường THPT Hoàng Hoa Thám

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG
ĐỀ TÀI: NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHỦ NHIỆM THÔNG QUA
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH NỮ LỚP 10
TRƯỜNG THPT HOÀNG HOA THÁM

Tên tác giả:Tạ Thị Thu Hằng

Kèm theo: đĩa CD, phụ lục

NĂM HỌC 2013-2014

MỤC LỤC
Trang 1


I. Tóm tắt đề tài ..................................................................................................... 4
II. Giới thiệu: .......................................................................................................... 6
II. 1.Thực trạng:.........................................................................................................9
II.1.1. Thực trạng KNS của HS trong trường THPT ....................................... 9
II.1.2.Thực trạng giáo dục KNS trong trường THPT ..................................... 10
II.1.3.Thực trạng GD KNS cho HS nữ ở trường THPT Hoàng Hoa Thám ... 12
II.1.4. Nguyên nhân thực trạng ....................................................................... 13
II.2. Giải pháp thay thế: ....................................................................................... 15
II.2.1.Cơ sở lí luận của đề tài: ......................................................................... 15
II.2.2.Kĩ năng sống là gì? ................................................................................ 16
II.2.3. Nội dung GD kĩ năng sống cho hs nữ trong giờ SH ngoài giờ lên lớp 21


Trang 3


I. Tóm tắt đề tài:
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển với tốc độ chóng mặt đã
mang lại nhiều tiến bộ, văn minh giúp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho
con người. Nhưng nó cũng tồn tại những mặt trái mà tác động cụ thể đến các thế
hệ tương lai qua những kênh giải trí trên TV, Youtube, mạng Facebook,... Đó là
thực trạng học sinh THPT sa vào những thử nghiệm, khám phá về tình dục gây
ra việc bỏ học giữa chừng để làm mẹ trẻ hoặc phải nạo phá thai; những nhận
thức sai lầm về bình đẳng giới, những ảnh hưởng từ trò chơi, phim ảnh bạo lực
dẫn đến tình trạng báo động về bạo lực học đường,... Đối tượng ở đây lại là
những nữ sinh vốn từ trước đến giờ là biểu tượng của sự trong sáng, đáng yêu.
Đứng trước thực trạng nhức nhối ấy, người giáo viên THPT không chỉ
chú trọng dạy chữ mà còn cần phải đặc biệt chú ý dạy người. Người giáo viên
chủ nhiệm sẽ trang bị được kiến thức, GD, uốn nắn các hành vi của các em học
sinh thông qua giáo dục kĩ năng sống trong các giờ chủ nhiệm cuối tuần, sinh
hoạt ngoài giờ lên lớp đầu tuần. Nhận thấy tính khả thi của hoạt động, tôi đã tiến
hành nghiên cứu đề tài khoa học: Nâng cao hiệu quả chủ nhiệm thông qua giáo
dục kĩ năng sống cho học sinh nữ lớp 10 trường THPT Hoàng Hoa Thám năm
học 2013- 2014.
Từ việc tìm hiểu rõ thực trạng kĩ năng sống của học sinh THPT, thực trạng
dạy kĩ năng sống ở trường THPT nói chung và trường THPT Hoàng Hoa Thám
nói riêng, tôi nhận thấy: Học sinh THPT đang ở vào tuổi vị thành niên với rất
nhiều những biến đổi về tâm sinh lí, rất non yếu về kĩ năng sống nhưng lại luôn
muốn khẳng định mình là người lớn. Điều đó tiềm ẩn nhiều nguy hại khó lường
nếu không quan tâm, uốn nắn các em kịp thời. Trong khi đó Giáo dục của chúng
ta còn né tránh việc giáo dục giới tính cho học sinh. Các giờ sinh hoạt chủ nhiệm
còn nặng về phê bình, đánh giá theo thi đua hoặc nếu có, các giờ Sinh hoạt ngoài

tính các em được tìm hiểu sự phát triển ở cả giới nam và nữ (thuận lợi là lớp 41
học sinh nữ) và tìm hiểu các biện pháp quan hệ tình dục an toàn. Các em được
tìm hiểu cụ thể về các biện pháp tránh thai, giải pháp cho bạo lực học đường,..
và được xem phim nói về chủ đề này. Bốn chủ đề tôi đều thiết kế trên
Powerpoint với nhiều hình ảnh, âm thanh linh hoạt để giúp hỗ trợ giáo viên vừa
để tăng sự sinh động cho bài giảng, thu hút hs chú ý hơn.
Trang 5


Sau mỗi tiết học các em được trao phần thưởng cho đội chiến thắng và
được cộng khuyến khích 2 điểm thi đua tuần đối với mỗi thành viên của tổ đạt
giải nhất(đã có hội ý của GVCN và lớp). Đồng thời cuối mỗi tiết sinh hoạt tôi
cho các em viết vào giấy(không cần viết tên) điều thắc mắc của mình về chủ đề
đã học. Sau đó tôi tổng hợp tất cả lại và chuẩn bị 1 số nội dung mở rộng làm
thành hoạt động tư vấn học đường. Một số câu hỏi đã có trong phần được học thì
tôi cho học sinh tham gia, trở thành nhà tư vấn cho bạn mình. Cuối cùng tôi
chọn một tiết thích hợp tổ chức một buổi chiếu phim với tư liệu giáo dục giới
tính trực tuyến tôi đã sưu tầm được để giúp các em củng cố những gì đã học.
Một tuần sau đó tôi tiến hành phát phiếu đánh giá cho lớp thực nghiệm (lớp 10
A7) và lớp đối chứng(lớp 10 A8). Các em hoàn thành trong thời gian 40 phút,
tôi thu lại và chấm điểm.
Như vậy khách thể nghiên cứu của đề tài là 20 học sinh nữ của lớp 10 A8
là nhóm đối chứng và 20 hs nữ lớp 10 A7 ở nhóm thực nghiệm,. Các em có kết
quả hạnh kiểm và học lực lớp 9 tương đương nhau. Điểm từ phiếu đánh giá
chính là bài kiểm tra sau tác động. Kết quả điểm trung bình nhóm đối chứng 5,4,
nhóm thực nghiệm 7,0, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn là 1,5. Sau tác động
kiểm chứng chênh lệch ĐTB bằng T-test cho kết quả p = 0,00001, cho thấy sự
chênh lệch giữa ĐTB trước tác động và sau tác động rất có ý nghĩa. Như vậy có
thể thấy việc GD kĩ năng sống với nội dung GD giới tính đã giúp các em học
sinh nữ được trang bị kiến thức đầy đủ, biết xử lý những tình huống trong cuộc

dung Giáo dục kĩ năng sống được chú trọng đưa vào giảng dạy nhiều năm gần
đây. Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã phát động phong trào “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong đó nội dung thứ ba trong năm
nội dung chính là “Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh”. Dựa trên cơ sở phân
tích kinh nghiệm quốc tế và thực trạng giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam những
năm qua, nội dung giáo dục KNS cho HS trong các nhà trường phổ thông bao
gồm các KNS cơ bản, cần thiết. Tuy nhiên hiệu quả chưa được như mong đợi.
Có thể thấy việc HS không được GD kĩ năng sống đầy đủ gây ra tình trạng
phát triển nhân cách lệch lạc. Cụ thể những hiện tượng nổi cộm trong thời gian
gần đây như bạo lực học đường ở nữ giới, bệnh vô cảm, mê muội thần tượng,
tạo Scadal từ khoe hình phản cảm, ăn mặc hở hang, phát ngôn gây sốc, .. và
Trang 7


cùng với đó là những con số đáng lo ngại. Theo Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt
Nam, bình quân mỗi năm có khoảng 300.000 ca nạo phá thai (chiếm 20% trong
tổng số ca), trong đó 80-90% là học sinh, sinh viên. Việt Nam là nước có tỷ lệ
nạo phá thai ở tuổi vị thành niên cao nhất Đông Nam Á và thứ 5 thế giới.[13Báo Vn express ngày 12/07/2013].

Biểu đồ 1: Khảo sát về quan hệ tình dục trước hôn nhân

Gần một nửa số bạn trẻ vị thành niên tham gia một nghiên cứu được Bộ
GD-ĐT công bố [13- Báo DanTri.com.vn ngày 05/12/2012] cho biết từng yêu
và có quan hệ tình dục, 7,6% các em chưa yêu nhưng cũng có quan hệ tình dục.
Kết quả nghiên cứu này do Trung tâm Sáng kiến sức khỏe và dân số (CCIHP)
thực hiện, được báo cáo tại hội thảo “Phổ biến kết quả nghiên cứu về giới và sức
khỏe sinh sản cho thanh niên, học sinh sinh viên (HSSV)”. Cũng theo nghiên
cứu này, có đến 1/3 thanh niên từng có mối quan hệ tình cảm không hề làm bất
cứ điều gì để bảo đảm an toàn, nữ giới lại ít chuẩn bị những biện pháp an toàn
bảo vệ mình hơn nam giới, chỉ vì đơn giản họ nghĩ “không thấy có bất cứ mối

yêu sớm và muốn thử nghiệm. Nhiều sự việc trực tiếp xảy ra ở trường THPT
trên địa bàn huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa: Học sinh 12 phải nạo phá thai
hoặc nghỉ học để làm mẹ. Đáng chú ý là tình huống này lại xảy ra ở những học
sinh nổi tiếng ngoan, hiền, chăm học.
Bên cạnh đó, một số học sinh rất chăm chỉ học tập và kết quả học tập
hàng năm đều cao, nhưng lại chỉ biết mỗi chuyện học, ít quan tâm đến các hoạt
động tập thể văn nghệ, thể thao, cắm trại của lớp, của trường. Những học sinh
Trang 9


đó sống khép kín, không hòa đồng với bạn bè, không quan tâm đến những gì
đang diễn ra xung quanh. Từ đó phổ biến căn bệnh vô cảm trong học sinh. Có sự
vô cảm không biết cảm ơn khi được giúp đỡ, không biết xin lỗi khi làm sai, có
sự vô cảm dẫn đến sự việc nghiêm trọng như các nữ sinh ở Bắc Giang, Quảng
Ninh, Hải Phòng đánh nhau, xé áo, cắt tóc bạn mình thì các em vẫn đứng xem,
quay phim, cổ vũ nhiệt tình. Văn hóa thần tượng lệch lạc, các Fan cuồng có
hành động phát ngôn phản cảm, thiếu suy nghĩ, tôn thờ mù quáng. Hoặc giới trẻ
thích tạo ra Scandal để được nổi tiếng bằng việc khoe thân phản cảm, phát ngôn
gây sốc,…
Tất cả những biểu hiện ấy làm đau đầu những nhà Giáo dục và trách
nhiệm của nhà trường THPT và giáo viên chủ nhiệm không phải là những người
ngoài cuộc. Như vậy câu hỏi đặt ra phải GD kĩ năng sống như thế nào để cải
thiện tình trạng trên.

II.1.2.Thực trạng giáo dục kĩ năng sống ở trường THPT :
Thông qua dự án “Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/
AIDS dành cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”, do Quỹ nhi đồng
Liên Hợp Quốc (UNICEF) phối hợp với Bộ GD- ĐT phối hợp cùng Hội Chữ
thập đỏ Việt Nam thực hiện năm 1995-1996 thì thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện
trong nhà trường phổ thông Việt Nam. Việc giáo dục KNS trong trường THPT

nội dung nhạy cảm..
Như vậy có thể thấy nội dung này đã được quan tâm nhưng ở mức độ còn
hạn chế, chưa có sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả giữa nhà trường, gia đình và
xã hội trong việc GDGT cho tuổi vị thành niên. Công tác tuyên truyền về GD
giới tính chưa được đồng bộ, phương tiện tuyên truyền còn hạn chế. Vì vậy mà
đối tượng tiếp cận kiến thức chỉ mới hiểu biết một cách mơ hồ, chưa thấu triệt,
chưa hiểu rõ bản chất… Trong khi đó với trào lưu du nhập lối sống phương Tây
vào nước ta hiện nay, số VTN QHTD trước hôn nhân, tình trạng nạo phá thai,
hiện tượng lạm dụng TD trẻ em nữ có xu hướng tăng cao… Những vấn đề này
đe doạ trực tiếp đến sức khoẻ VTN. Để giúp các em HS có thể tiếp thu lối sống
lành mạnh thì việc trang bị kiến thức về sức khoẻ giới tính, về việc tránh thai an
toàn để bảo vệ mình là điều vô cùng cần thiết.
Trang 11


Trở lại vấn đề, nhiệm vụ của người GVCN là tìm hiểu đối tượng hs và định
hướng, dẫn dắt các em có quan điểm, tư tưởng, lối sống lành mạnh. Môi trường
sống, gia đình, sở thích, quan hệ, những xu hướng phát triển nhân cách của hs,
GVCN là người nắm rõ hơn ai hết. Chính vì thế cần đưa nội dung GD giới tính
vào giảng dạy ở các giờ SHNGLL mới có thể nâng cao hiệu quả chủ nhiệm và
có thể phần nào giảm bớt thực trạng đáng lo ngại ở trên.

II.1.3. Thực trạng về GD KNS cho HS nữ ở trường THPT Hoàng Hoa
Thám:
Về GD kĩ năng sống nói chung, GD giới tính nói riêng ở Trường
THPT Hoàng Hoa Thám có tiến hành nhưng ít hiệu quả. Nhà trường có tổ
chức chương trình Sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh nữ trong thời
gian 45 phút. Hội trường đông đúc, ồn ào, thời gian ngắn, các em ít tập trung
chú ý.
Hoạt động của Đoàn trường như tuyên truyền qua phát thanh: Sức




các bậc PHHS mà cả ở GV, lãnh đạo ngành giáo dục, văn hoá. Thái độ của GV
trực tiếp dạy nội dung GD giới tính cũng đang là trở ngại, các thầy cô cảm thấy
chưa tự tin, ngại ngùng khi truyền đạt về vấn đề này. Lí giải cho hiện trạng thầy
cô cho rằng một nguyên nhân quan trọng là không có môn học riêng về lĩnh vực
này. Sự băn khoăn về nội dung, phương pháp giảng dạy cũng làm GV chưa tự
tin, kết quả là GV có thể né tránh, không đề cập hoặc trả lời thắc mắc của HS.
Về phía học sinh: chưa được trang bị các kỹ năng cần thiết để nhận thức
bản thân và đối phó với các nguy cơ đến từ các mối quan hệ xã hội và sự biến
đổi tâm sinh lý bản thân, các em được gia đình nuông chiều quá mức tạo thành
các thói quen xấu, khó thay đổi.
Về phía phụ huynh học sinh: nhiều phụ huynh chỉ lo kiếm tiền nhiều mà
không quan tâm gì đến việc học tập và giáo dục con cái. Khi thấy môi trường
của chúng có nguy cơ không an toàn thì lại vội vàng tách con mình ra khỏi môi
trường, đưa chúng vào môi trường gò bó, khuôn khổ khiến chúng một mặt
không thể thích nghi với những thay đổi và một mặt khi xảy ra những tình
huống thật sự ngoài đời sẽ phản ứng theo bản năng một cách tiêu cực. Cách nhìn
nhận của các bậc phụ huynh còn dừng lại ở việc quan tâm đến việc học hành của
con mà ít giành thời gian tâm sự hay giáo dục về vấn đề giới tính. Và rõ ràng đối
với hs càng bị né tránh cung cấp thông tin cụ thể từ người lớn sẽ khiến các em
càng tò mò, hoang mang và càng dễ bị dẫn dụ.
Trang 13


Theo ý kiến của phó viện trưởng Viện phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh
Sáng- Bác sĩ Nguyễn Thu Giang đã nhấn mạnh về hai nguyên nhân:"Giáo dục
kỹ năng sống cho các em phải từ hai phía gia đình và nhà trường. Ở nhà trường,
đó có thể là các buổi ngoại khóa, sinh hoạt nhóm lành mạnh. Ở góc độ là bác sĩ



- Theo Quĩ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), KNS là cách tiếp cận giúp
thay đổi hay hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng và
tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng [5].
KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi con người, khả năng ứng xử
phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước
các tình huống của cuộc sống[7].
Như vậy kỹ năng sống chính là năng lực của mỗi người giúp giải quyết
những nhu cầu và thách thức của cuộc sống một cách có hiệu quả. Trong tập
sách Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông _ nxb Giáo dục, nội dung
giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông đã được tổng
hợp thành 21 KN:
1. Kĩ năng tự nhận thức:Tự nhận thức là tự mình nhìn nhận, tự đánh giá
về bản thân. Để tự nhận thức đúng về bản thân cần phải được trải nghiệm
qua thực tế, đặc biệt là giao tiếp với người khác.
2. Kĩ năng xác định giá trị.
Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng. Kĩ năng xác định giá trị là
khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình. Kĩ năng này
còn giúp người khác biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằng người khác
có những giá trị và niềm tin khác.
3. Kĩ năng kiểm soát cảm xúc
Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình
trong một tình hống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản
thân và đối với người khác thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện
cảm xúc một các phù hợp.
4. Kĩ năng ứng phó với căng thẳng.
Kĩ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng
đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống,
là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng

của người khác và cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ
Trang 17


10. Kĩ năng thương lượng.
Thương lượng là khả năng trình bày, suy nghĩ, phân tích và giải thích,
đồng thời có thảo luận để đạt được một sự điều chỉnh và thống nhất về cách suy
nghĩ, cách làm hoặc một vấn đề gì đó.
Kĩ năng thương lượng có liên quan đến sự tự tin, tính kiên định, sự cảm
thông, tư duy sáng tạo, kĩ năng hợp tác và khả năng thỏa hiệp những vấn đề
không có tính nguyên tắc của bản thân.
11. Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn.
Mâu thuẫn là những xung đột, tranh cãi, bất đồng, bất bình với một hay
nhiều người về một vấn đề nào đó.
Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con người nhận thức được
nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ
tích cực, không dùng bạo lực, thỏa mãn được nhu cầu và quyền lợi các bên và
giải quyết cả mối quan hệ giữa các bên một cách hòa bình.
12. Kĩ năng hợp tác.
Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công
việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.
Kĩ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và
cùng làm việc có hiêu quả với những thành viên khác trong nhóm.
13. Kĩ năng tư duy phê phán.
Kĩ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn
diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng…xảy ra.
Kĩ năng tư duy phê phán phụ thuộc vào hệ thốn giá trị cá nhân. Một người có
được kĩ năng tư duy phê phán tốt khi biết phối hợp nhịp nhàng với kĩ năng tự
nhận thức và kĩ năng xác định giá trị.
14. Kĩ năng tư duy sáng tạo.


Trang 19


Kĩ năng quản lý thời gian là khả năng con người biết sắp xếp các công việc
theo thứ tự ưu tiên, biết tập trung vào giải quyết công việc trọng tâm trong một
thời gian nhất định.
21. Kĩ năng tìm kiếm và xử lý thông tin.
Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông
tin là một KNS quan trọng giúp con người có thể có được những thông tin cần
thiết một cách đầy đủ, khách quan, chính xác, kịp thời.
Như vậy với 21 kĩ năng này tôi nghiên cứu và cụ thể hóa vào các hoạt động
theo từng chủ đề.
Việc giáo dục kỹ năng sống cho hs THPT là rất quan trọng vì nó giúp các
em làm chủ suy nghĩ, cảm xúc và hành động của mình, nhưng điều quan trọng
hơn nữa là việc các em vận dụng những kỹ năng đó trong cuộc sống. Việc áp
dụng một cách linh hoạt các kỹ năng sống cần thiết vào cuộc sống sẽ giúp các
em có những nền tảng vững chắc trong việc tạo dưng tư thế chủ động sáng tạo
của một thanh niên năng động. Đó cũng là cách các em đối đầu và tìm cách vượt
qua những áp lực tâm lý về công việc , học tập cũng như các mối quan hệ phức
tạp khác trong cuộc sống.
II.2.3. Nội dung GD kĩ năng sống cho hs nữ trong giờ sinh hoạt ngoài
giờ lên lớp
2.3.1. GD giới tính:
Theo WHO (Tổ chức Y tế thế giới) giáo dục giới tính bao gồm: Sự phát
triển của giới tính, sức khỏe sinh sản, các mối quan hệ cá nhân, tình cảm, về
ngoại hình, về vai trò của giới.[5]
2.3.2. Sức khỏe sinh sản vị thành niên, phòng chống HIV- AIDS:
2.3.2.a. Tuổi vị thành niên là một giai đoạn phát triển đặc biệt và mạnh mẽ
trong đời của mỗi con người. Đây chính là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ con thành

*Nguy hiểm của việc sinh nở sẽ cao hơn và nhiều mối lo sẽ xuất hiện: chưa

hoàn toàn trưởng thành về thể chất và xương chậu có thể chưa đủ rộng để đầu
trẻ sơ sinh thoát ra. Do đó đẻ khó và chuyển dạ kéo dài sẽ là điều khó tránh khỏi,
có thể gây rách dạ con và chết cả mẹ lẫn con. Dễ dẫn đến tình trạng đẻ non, sảy
thai tự phát và thai chết lưu cao hơn. Tỷ lệ tử vong liên quan đến thai sản ở tuổi
vị thành niên có khả năng cao gấp 4 lần so với phụ nữ trong độ tuổi 20-29.
• Con của các “bà mẹ trẻ” cũng phải đối mặt với những rủi ro về sức khỏe:
nhẹ cân và nguy cơ tử vong cao…
• Mang thai ở tuổi vị thành niên còn đem lại nhiều nỗi kinh hoàng cho
những cô gái trẻ thiếu hiểu biết.
Trang 21


• Có thể chọn cách loại bỏ cái thai không mong muốn bằng việc nạo thai,
nạo thai có thể để lại những biến chứng nghiêm trọng và có thể dẫn đến
vô sinh, thậm chí là cái chết.
2.3.2.d. Một số vấn đề khác:
- Quá trình thụ thai
- Chăm sóc sức khỏe ngày hành kinh
- Các hình thức nạo phá thai
- Phòng tránh việc có thai ngoài ý muốn
2.3.3. GD giới tính + Bình đẳng giới
2.2.3.a. Giáo dục giới tính bao gồm: Sự phát triển của giới tính, sức khỏe
sinh sản, các mối quan hệ cá nhân, tình cảm, về ngoại hình, về vai trò của giới.
- Giới: Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới
và phụ nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam
giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có
thể thay đổi được.
- Giới tính: Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. Giới tính

Phụ nữ và nam giới có vị thế bình đẳng như nhau và cùng:
+ Có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các nguyện
vọng của mình.
+ Có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực xã hội
và thành quả phát triển.
+ Được bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.

2.3.4. Tình bạn – Tình yêu – Hôn nhân
2.2.4.a.Tình bạn là tình cảm gắn bó giữa hai hoặc nhiều người trên cơ sở tự
nguyện, bình đẳng, hợp nhau về sở thích, cá tính, mục đích, lý tưởng.
Tình bạn khác giới có những đặc điểm cơ bản của tình bạn cùng giới nhưng nó
có những đặc điểm riêng. Đó là:
a/ Trong tình bạn khác giới, mỗi bên đều coi giới kia là một điều kiện để tự hoàn
thiện mình.
b/ Có một “khoảng cách” tế nhị hơn so với tình bạn cùng giới, ở đây có sự “tự
điều chỉnh” một cách tự nhiên: trong quan hệ khác giới, người ta dễ trở nên lịch
sự, tế nhị hơn so với quan hệ cùng giới.
Trang 23


c/ Tình bạn khác giới có thể là khởi điểm cho quá trình chuyển hóa thành tình
yêu sau này, mặc dù nó chưa phải là tình yêu. Do đó, nó dễ bị ngộ nhận là tình
yêu.
*Cần lưu ý trong quan hệ khá nhạy cảm này:
- Tránh đối xử với nhau suồng sã, thiếu tế nhị.
- Tránh vô tình hay cố ý gán ghép lẫn nhau trong quan hệ bạn bè khác giới.
- Tránh ghen ghét, nói xấu lẫn nhau hay đối xử thô bạo với nhau khi thấy bạn
mình có thêm người bạn khác giới.
- Tránh ngộ nhận tình bạn khác giới là tình yêu, cho dù rất thân nhau.
- Tránh thái độ lấp lửng, mập mờ dễ gây cho bạn khác giới hiểu lầm là tình yêu

2.3.5.d. Hậu quả:
- Đối với nạn nhân:
+ Gây tổn thương về tinh thần và thể xác.
+ Gây tổn hại đến người thân, gia đình người bị hại
+ Gây nên tâm lí bất ổn trong xã hội: lo lắng, bất an từ gia đình, nhà trường đến
xã hội
- Đối với người gây ra bạo lực:
+ Bản thân tự đánh mất đi nhân phẩm của mình
+ Là nguyên nhân dẫn đến những hành vi gây nên tội ác
+ Phá hỏng tương lai của chính mình, tự vứt bỏ quá trình rèn luyện và tự đào
thải mình ra khỏi quĩ đạo chung của xã hội văn minh, tiến bộ.
+ Gây nguy hại cho xã hội, bị mọi người lên án, xa lánh, căm ghét.
2.3.5.e. Giải pháp:
- Đối với bản thân mỗi người phải tự rèn cao nhận thức hoàn thiện nhân cách.
+ Bồi dưỡng tình yêu thương với bạn bè, thầy cô, gia đình, xã hội.
+Làm chủ được những hành vi và nhận thức rõ những hậu quả hành vi bạo lực
gây nên.
+Nhận thức được vai trò tình người, tình đoàn kết…
-Đối với gia đình: Cần có sự quan tâm, chăm sóc đúng mực đối với học sinh
không nên bỏ rơi, hoặc thiếu quan tâm do nhiều lí do khác nhau hoặc quá nuông
chiều con cái.

Trang 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status