Một số bào thuốc để điều trị sốt xuất huyết
Sốt xuất huyết là một bệnh nhiễm trùng cấp do virut Ðăng-gơ (Dengue) gây ra qua muỗi truyền
với biểu hiện lâm sàng chủ yếu là sốt cao, xuất huyết và có thể gây ra hội chứng sốc, có liên
quan chặt chẽ với hạ tiểu cầu và cô đặc máu, hoặc chảy máu. Bệnh sốt xuất huyết tương tự như
bệnh ban hoặc bệnh chẩn. Khi thành dịch gọi là dịch ban hoặc dịch chẩn. Hầu hết các tài liệu đều
xếp dịch chẩn vào ôn dịch.
Nhiệt độc tấn công mạnh, nhanh vào phần vệ, phần khí gây sốt cao, vào phần dinh gây ban chẩn
(sung huyết), vào phần huyết gây xuất huyết. Bệnh ở giai đoạn nặng có thể chuyển thành quyết:
nhẹ là nhiệt quyết (tương đương với sốc nhẹ), nặng thì hàn quyết (tương đương với sốc nặng).
Vì chưa có thuốc chống virut Dengue hữu hiệu, nên nguyên tắc chỉ đạo điều trị của y học hiện
đại là bù lại sớm khối lượng tuần hoàn, nước, chất điện giải, anbumin và máu; ngoài ra còn dùng
thuốc hạ sốt, an thần. Cần điều trị sớm trước khi sốc hình thành sẽ có kết quả tốt. Nguyên tắc
điều trị cơ bản của y học cổ truyền là thanh nhiệt giải độc, lương huyết chỉ huyết. Thanh nhiệt
giải độc nhằm loại trừ nguyên nhân (nhiệt độc), lương huyết chỉ huyết nhằm làm mát huyết, đưa
huyết về trạng thái bình thường và để cầm máu.
Những biểu hiện sau đây được lựa chọn là dấu hiệu chẩn đoán lâm sàng của sốt xuất huyết:
- Sốt cao đột ngột, liên tục và kéo dài từ 2-7 ngày.
- Những biểu hiện xuất huyết: Dấu hiệu dây thắt dương tính và bất kỳ dấu hiệu nào sau đây:
Ðiểm xuất huyết, ban xuất huyết, vết bầm máu.
Chảy máu cam, chảy máu chân răng.
Nôn ra máu hoặc đi ngoài ra máu.
- Gan to: thường gặp ở trẻ em, tuy nhiên hội chứng gan to không phải là đặc điểm thường gặp.
- Sốc: Biểu hiện bằng mạch nhanh, yếu và kẹt huyết áp động mạch kèm theo nổi da gà, chân tay
lạnh và li bì, vật vã. Hoặc huyết áp tụt, không bắt được mạnh.
Phân loại độ sốt xuất huyết:
Ðộ 1:
- Sốt cao và các triệu chứng toàn thân không đặc hiệu (đau cơ, đau khớp, đau đầu).
- Dấu hiệu dây thắt dương tính (+), chưa có xuất huyết.
- Tăng thẩm thấu mao mạch nhẹ.
- Tiểu cầu giảm nhẹ.
Ðộ 2:
Thay thế: Nhọ nồi bằng sinh địa, hà thủ ô, kê huyết đằng, lá huyết dụ; Rễ cỏ tranh bằng râu
ngô, mã đề, lá nhót, lá cà phê, tua đa; Sài đất, bồ công anh bằng vòi voi, xạ can; Kim ngân thay
bằng bồ công anh, vòi voi, mần trầu; Hạ khô thảo bằng bồ công anh; Gừng tươi bằng vỏ chanh,
cam, quít, thần khúc, sa nhân, giềng, sả, lá vối, chỉ thực; Hoa hòe bằng tóc rối (đốt thành than),
muội nồi, lá trắc bách diệp, ngó sen.
Cách dùng: Như bài số 1.
Bài 3
: Nhọ nồi 20g, cam thảo 6g, hoạt thạch 12g (lợi tiểu, hạ sốt), mã đề 16g (lợi tiểu, hạ sốt),
gừng tươi 3 lát. Thay thế: Hoạt thạch bằng cối xay 12g; mã đề bằng lá tre 16g.
Cách dùng: Như bài số 1.
Bài 4
: Hoạt thạch 6 phần, cam thảo 1 phần.
Cách dùng: Tán bột trộn đều, uống ngày 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê, hết sốt ngừng thuốc ngay.
Liều dùng cho trẻ em:
- Trẻ em từ 1-5 tuổi: Liều bằng 1/3 liều người lớn.
- Trẻ em từ 6-13 tuổi: Liều bằng 1/2 liều người lớn.
- Trẻ em từ 14 tuổi trở lên: Liều bằng liều người lớn.
- Trẻ con bú mẹ: Cho mẹ uống thuốc, qua sữa mẹ điều trị cho con.
(Theo tài liệu của Vụ y học cổ truyền - Bộ y tế)