Ảnh hưởng của việc bổ sung vitamin ADE đến phòng bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 60 ngày tuổi tại trại lợn thương phẩm ở văn giang hưng yên - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƢƠNG THỊ LINH
Tên đề tài:
ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG VITAMIN ADE ĐẾN PHÒNG BỆNH
PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN 1 - 60 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN
THƢƠNG PHẨM Ở VĂN GIANG, HƢNG YÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành : Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011-2016

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LƢƠNG THỊ LINH
Tên đề tài:
ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG VITAMIN ADE ĐẾN PHÒNG BỆNH
PHÂN TRẮNG LỢN CON GIAI ĐOẠN 1 - 60 NGÀY TUỔI TẠI TRẠI LỢN
THƢƠNG PHẨM Ở VĂN GIANG, HƢNG YÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Lƣơng Thị Linh


ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Nhu cầu Vitamin của các loại lợn (tính cho 1 kg thức ăn hỗn hợp) .... 18
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 27
Bảng 4.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 39
Bảng 4.2: Tỷ lệ nuôi sống của lợn con qua các giai đoạn .............................. 40
Bảng 4.3: Sinh trưởng tích lũy của lợn con thí nghiệm qua các ngày tuổi ..... 41
Bảng 4.4: Sinh trưởng tuyệt đối của lợn qua các thời kỳ cân ......................... 43
Bảng 4.5: Sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm qua các giai đoạn ........ 45
Bảng 4.6: Tỷ lệ nhiễm bệnh của lợn con từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi ............ 47
Bảng 4.7: Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo lứa tuổi ........................... 48
Bảng 4.8: Ảnh hưởng của Vitamin ADE trong điều trị phân trắng lợn con ... 49
Bảng 4.9: Ảnh hưởng của Vitamin ADE đến sự tái nhiễm bệnh phân trắng
lợn con ........................................................................................... 50
Bảng 4.10: Hoạch toán chi phí thú y ............................................................... 51


iii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lợn con thí nghiệm qua các ngày
tuổi ................................................................................................... 43
Hình 4.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con qua các kỳ cân ............. 45
Hình 4.3: Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm qua các giai

Fe

: Sắ t

SS

: Sơ sinh

STT

: Số thứ tự

TT

: Thể tro ̣ng

TN

: Thí nghiệm


v

MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT................................................ iv
MỤC LỤC ......................................................................................................... v

3.3.3. Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc bổ sung Vitamin ADE cho lợn con
giai đoạn 1 - 60 ngày tuổi................................................................................ 26
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ................................... 26
3.4.1. Bố trí thí nghiệm ................................................................................... 26
3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi .............................................................................. 27
3.4.3. Phương pháp tiến hành .......................................................................... 28
3.4.4. Theo dõi thí nghiệm .............................................................................. 28
3.4.5. Các công thức tính toán và phương pháp xử lý số liệu ......................... 28
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .......................... 32
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 32
4.1.1. Nội dung, biện pháp thực hiện công tác phục vụ sản xuất ................... 32
4.1.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ........................................................ 33
4.1.3. Kết luận và đề nghị ............................................................................... 39
4.2. Kết quả nghiên cứu .................................................................................. 40
4.2.1. Ảnh hưởng của Vitamin ADE đến tỷ lệ nuôi sống ............................... 40
4.2.2. Ảnh hưởng của Vitamin ADE đến sinh trưởng của lợn con ................. 41
4.2.3. Ảnh hưởng của Vitamin ADE đến tỷ lệ cảm nhiễm một số bệnh của lợn
con thí nghiệm ................................................................................................. 47
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................... 52
5.1. Kết luận .................................................................................................... 52
5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn trong những năm gần đây đang trên đà phát triển khá

trong giai đoạn lợn 1 - 60 ngày tuổi có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh
trưởng và phòng bệnh phân trắng ở lợn con.
Để phần nào hiểu thêm được ảnh hưởng của vitamin ADE đến khả
năng sinh trưởng và phòng bệnh phân trắng ở lợn con em tiến hành thực hiện
nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của việc bổ sung Vitamin ADE đến phòng
bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 - 60 ngày tuổi tại trại lợn thương
phẩm ở Văn Giang, Hưng Yên”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định ảnh hưởng của việc bổ sung Vitamin ADE đến khả năng
sinh trưởng của lợn con giai đoạn 1 - 60 ngày tuổi.
- Đánh giá hiệu quả của việc bổ sung Vitamin ADE trong việc giảm tỷ
lệ nhiễm bệnh phân trắng ở lợn con.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học
Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học, áp dụng vào
thực tiễn. Đồng thời cung cấp số liệu khoa học cho giảng dạy, chăn nuôi lợn
nói riêng và chăn nuôi gia súc nói chung.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở cho người chăn nuôi biết được một số đặc
điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng thích nghi của lợn con giai đoạn 1 - 60
ngày tuổi để áp dụng vào việc chăn nuôi và nhân giống phát triển trên quy mô
đại trà.


3

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Đặc điểm của lợn con bú sữa

Khi nghiên cứu về sinh trưởng, ta không thể không đề cập đến quá trình
phát dục. Đây là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm, hoàn thiện thêm
về tính chất, chức năng của các bộ phận cơ thể.
Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình
thái, kích thước các bộ phận cơ thể. Phát dục của cơ thể con vật là quá trình
phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi trứng rụng tới khi trưởng thành, khi
con vật trưởng thành quá trình sinh trưởng chậm lại, sự tăng sinh các tế bào ở
các cơ quan, tổ chức không nhiều lắm, cơ thể to ra, béo thêm nhưng chủ yếu
là tích lũy mỡ, còn tích lũy cơ thể xem như ở trạng thái ổn định.
* Đặc điểm sinh trưởng, phát dục ở lợn con
Lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục
nhanh. So với những loài gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con là
cao nhất. Khối lượng cai sữa của lợn con khi 2 tháng tuổi gấp 12 - 16 lần so
với khối lượng sơ sinh, trong khi đó bê, nghé chỉ tăng 3 - 5 lần.
Theo Vũ Đình Tôn, Trần Thị Thuận (2006) [24] lợn con ở 7 - 10 ngày
tuổi đã gấp 2 lần khối lượng sơ sinh, lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày
tuổi gấp 5 lần và đến 60 ngày tuổi gấp 10 - 15 lần khối lượng sơ sinh.
Lợn con sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích lũy các chất
dinh dưỡng rất mạnh. Lợn con 3 tuần tuổi mỗi ngày tích lũy được 9 - 14 g
protein/kg khối lượng cơ thể. Trong khi lợn trưởng thành chỉ tích lũy được 0,3
- 0,4g protein/kg khối lượng cơ thể.
Lợn con bú sữa sinh trưởng phát triển nhanh nhưng không đồng đều
qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày tuổi đầu, sau đó giảm. Có sự giảm này
do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm dần


5

và hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con giảm. Thời gian bị giảm
sinh trưởng thường kéo dài khoảng 2 tuần tuổi, còn gọi là giai đoạn khủng

Cơ quan tiêu hóa của lợn con đã hình thành đầy đủ trong thời kỳ bào
thai và phát triển nhanh ở thời kỳ theo mẹ, nhưng dung tích dạ dày - ruột lại
rất nhỏ. So với lúc sơ sinh thì dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, sau
20 ngày tuổi gấp 8 lần và sau 60 ngày tuổi gấp 60 lần, còn dung tích ruột non
ở lợn con (lúc sơ sinh khoảng 0,11 lít) lúc 10 ngày gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi
gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần, và dung tích ruột già lợn con (lúc sơ
sinh khoảng 0,04 lít) lúc 10 ngày tuổi gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, sau 20 ngày tuổi
gấp 2,5 lần và 60 ngày tuổi gấp 50 lần.
Theo Nguyễn Như Pho (1999) [16] cho biết: Sự phân tiết các men tiêu
hóa ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ tiêu hóa các loại thức ăn đơn
giản như sữa. Các men tiêu hóa chất đạm như pepsin khả tripsin,
chymotripsin chỉ đủ tiêu hóa protein của sữa hoặc protein đậu nành và không
thể tiêu hóa được của gạo, bắp, bột cá… trong tuần lễ đầu sau khi sinh. Men
mantaza chỉ được phân tiết đầy đủ sau 4 tuần tuổi.
Sự biến đổi khả năng tiêu hóa dịch vị trái với sự biến đổi theo tuổi tiết
của dịch tụy, trong thời kỳ thiếu HCl hoạt tính của dịch tụy rất cao để bù lại
khả năng tiêu hóa kém của dạ dày. Các tài liệu thu được thấy sức tiêu hóa của
dịch ruột lợn con mới sinh rất cao đối với các chất lactoza, casein, mỡ sữa.
Nhiều thí nghiệm cho thấy rằng, nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh
ra các kháng sinh ức chế sự phát triển của vi trùng gây bệnh như: Vi khuẩn
Salmonella, vi khuẩn thối rữa. Ở lợn con mới sinh, hệ vi sinh vật đường ruột
chưa phát triển, chưa đủ các loại vi khuẩn có lợi, chưa đủ khả năng kháng
bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh, nhất là bệnh ở đường tiêu hóa.
2.1.1.5. Đặc điểm về cơ năng điều tiết nhiệt
Cơ năng điều tiết nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh, thân nhiệt lợn con
chưa ổn định, sự sinh nhiệt và thải nhiệt của lợn con chưa cân bằng, thân nhiệt
luôn có xu hướng hạ thấp.


7


Nói chung khả năng điều tiết nhiệt của lợn con dưới 3 tuần tuổi còn
kém, nhất là trong tuần đầu mới sinh. Nhiệt độ của chuồng nuôi càng thấp thì
thân nhiệt của lợn con càng giảm nhanh. Sau 3 tuần tuổi thì cơ năng điều tiết
nhiệt mới hoàn chỉnh và thân nhiệt ổn định hơn 39 - 39,50C.
2.1.1.7. Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể lượng kháng
thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ cho nên khả
năng miễn dịch của lợn con hoàn toàn là thụ động, phụ thuộc vào lượng
kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ.
Trong sữa đầu của lợn nái có hàm lượng protein rất cao. Những ngày
đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa chiếm tới 18 - 19 %, trong đó lượng
γ - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 - 35 %). γ - globulin có tác dụng tạo
ra sức đề kháng, cho nên sữa đầu có vai trò quan trọng đối với khả năng miễn
dịch của lợn con. Lợn con hấp thu γ - globulin bằng con đường ẩm bào. Quá
trình hấp thu nguyên vẹn phân tử y - globulin giảm đi rất nhanh theo thời
gian. Phân tử γ - globulin chỉ có khả năng thấm qua thành ruột lợn con rất tốt
trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men antitrypsin
làm chất hoạt lực của men trypin tuyến tụy và nhờ khoảng cách giữa các tế
bào vách ruột của lợn con khá rộng , cho đến 24 giờ sau khi được bú sữa đầu
hàm lượng γ - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3 mg/100 ml máu. Sau 24
giờ lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa các tế bào
vách ruột lợn con hẹp dần, nên sự hấp thụ γ - globulin kém hơn, hàm lượng γ globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn. Đến 3 tuần tuổi chỉ đạt
khoảng 24 mg/100 ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có khoảng
65 mg γ - globulin trong 100 ml máu). Do đó lợn con cần được bú sữa đầu
càng sớm càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì 20 - 25 ngày tuổi
mới có khả năng tự tổng hợp kháng thể, do đó những lợn con không được bú
sữa đầu thì sức đề kháng rất kém, dễ mắc bệnh tỷ lệ chết cao.




10

tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng. Về sau điều
khiển quá trình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên. Hormone của thùy
trước tuyến yên STH (Somatotropin hormone) là loại hormone rất cần thiết
cho sự sinh trưởng của cơ thể. Khi thiếu hoặc thừa loại hormone này sẽ dẫn
đến cơ thể quá nhỏ bé (Nanismus) hoặc quá to (Gigantismus).
2.1.2.2. Các yếu tố bên ngoài
* Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa, nếu không
có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh. Khi chúng ta đảm bảo đầy
đủ về thức ăn, bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc
đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong cơ thể.
* Nhiệt độ và ẩm độ môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh
hưởng đến tình trạng sức khỏe, mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát
triển của cơ thể. Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp, thì sẽ không thể
đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường, cũng như cân bằng nhiệt
của cơ thể lợn. Việc đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp cho các loại lợn
khác nhau, phải căn cứ vào khả năng điều tiết thân nhiệt của chúng. Một số
công trình nghiên cứu chứng minh rằng, khi nhiệt độ môi trường xuống thấp
(dưới 5,50C) thì lợn con bú sữa có nhu cầu về Vitamin B 2 cao hơn rất nhiều
khi nhiệt độ môi trường là 29,50C.
Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp, lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, vì lẽ
đó, ở lợn con và lợn nuôi thịt sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng lượng
tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng. Nhiệt độ thích hợp cho lợn nuôi
béo từ 15 - 180C, cho lợn sinh sản không thấp hơn 10 - 110C. Nhìn chung, khi
lợn càng lớn, càng trưởng thành thì cơ quan điều tiết thân nhiệt càng hoàn
thiện, lớp mỡ dưới da càng dày và nhu cầu về nhiệt càng giảm xuống.
Theo Trịnh Quang Tuyên (2001 - 2002) [25] nhiệt độ chuồng nuôi có
liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm độ không khí thích hợp cho lợn ở

sinh là tốt nhất để lợi dụng giai đoạn sữa đầu tạo kháng thể cho lợn con.
Để tránh hiện tượng con bú nhờ bị cắn ta dùng crezin phun cho cả bầy
lợn cũ và bầy lợn mới.


12

Số lần bú của lợn con trong 1 ngày rất nhiều (khoảng 20 lần). Do đó
cách tốt nhất là cho lợn mẹ ăn đủ dinh dưỡng để sữa tiết nhiều vì từ ngày thứ
5 sau khi đẻ lợn con tăng nhanh trong khi sữa là nguồn dinh dưỡng duy nhất
để lợn con sinh trưởng và phát triển.
Từ sau tuần thứ 3 (sau 21 ngày) lợn con có sự biến đổi về sinh lý.
Nguyên nhân do sữa mẹ giảm dần, đòi hỏi ăn của lợn con tăng nhưng lúc này
lợn con chưa biết hoặc không thích ăn thức ăn có sẵn. Nếu lợn con ăn được
phần nào thì lại không phù hợp với chức năng sinh lý tiêu hóa của chúng. Mặt
khác thức ăn có khi thiếu sắt (Fe) là chất tham gia cấu tạo hồng cầu. Lợn con
có thể mọc răng nanh, răng góc hoặc răng hàm trước. Chính giai đoạn 21
ngày sau khi đẻ cũng là thời kỳ mà lợn mẹ có thể động dục trở lại, nên sức tiết
sữa giảm, chất lượng sữa kém.
Để khắc phục tình trạng này chỉ có một biện pháp duy nhất là tập cho
lợn con ăn sớm.
2.1.3.2. Tập cho lợn con ăn sớm
Trước hết phải phối hợp thức ăn có chất lượng dinh dưỡng cao, chú ý các
nguyên tố vi lượng, đặc biệt là sắt, vì một ngày nhu cầu của lợn con cần 7 mg.
Cách tập cho lợn con ăn sớm tốt nhất là nhốt lợn con ở ô riêng chờ lúc
lợn con đói cho thức ăn vào. Mỗi ngày tập cho lợn con 3 - 4 lần, sau 2 - 3
ngày chúng sẽ quen. Thức ăn cho lợn con có thể mua những thức ăn đã hỗn
hợp sẵn như cám 100 (cám sữa) của Công ty thức ăn chăn nuôi American
Feed, vì loại thức ăn này được tính toán đủ dinh dưỡng cho lợn con ở tất cả
các giống khác nhau. Nên những nơi không có điều kiện có thể phối hợp khẩu

Sau 10 ngày có thể phải chuyển sang nơi khác nhưng không nên tách
đàn và nếu mới nuôi lợn con sau cai sữa không đủ điều kiện nhiệt độ, ánh
sáng thì phải cố gắng tạo điều kiện cho chúng thích nghi nhanh trước khi
tuyển chọn theo mục đích sử dụng: Giữ làm giống tái sản xuất, nuôi thịt…
2.1.4. Bệnh phân trắng ở lợn con
Theo Lê Văn Tạo (2006) [21]: Tiêu chảy là một biểu hiện lâm sàng của
hội chứng bệnh lý đặc thù của đường tiêu hóa hay là một triệu chứng của một


14

số bệnh truyền nhiễm như: Phó thương hàn, E.coli, viêm dạ dày ruột truyền
nhiễm, dịch tả. Khi mắc bệnh tiêu chảy lợn sinh trưởng và phát triển kém, gây
thiệt hại đáng kể cho người chăn nuôi. Ở nước ta bệnh này xảy ra quanh năm
đặc biệt là vào vụ Đông Xuân khi thời tiết thay đổi đột ngột và vào những giai
đoạn chuyển mùa trong năm.
2.1.4.1. Nguyên nhân
Do chăm sóc nuôi dưỡng kém, do virus gây ỉa chảy, do vi khuẩn
(E.coli, Clostridium perfringens…), do kí sinh trùng, do thức ăn, do độc tố
dẫn đến rối loạn trao đổi chất, rối loạn tiêu hóa gây ỉa chảy.
Tác giả Nguyễn Quang Tuyên và cs (2007) [26] cho rằng: Lợn ỉa chảy
là do rối loạn quá trình tiết dịch ruột. Dịch tiết tăng cao, khi bị viêm nhiễm nó
tăng lên 8 lần. Nguyên nhân do ruột bị kích thích bởi yếu tố cơ học, hóa học,
nhiệt độ, vi sinh vật và tiết dịch nhiều làm cho viêm ruột, loét ruột.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [14] lại cho rằng: Lợn ỉa chảy là do
Rotavirus, họ Rotaviridae ở lợn. Sau khi xâm nhập vào cơ thể lợn, virus
Rotavirus đi vào các tế bào của lớp nhung mao ruột và gây ra các tổn thương
ở đây. Do tác dụng của virus nhung mao co lại, tù đầu, làm cho sự hấp thu
dinh dưỡng kém đi, gây ra trạng thái rối loạn tiêu hóa.
Các tác giả Trương Lăng và Xuân Giao (2002) [12] thì cho rằng: Thay

lợn con còn yếu cơ thể chưa phát triển hoàn chỉnh, sức chống đỡ bệnh tật của
cơ thể lợn kém.
2.1.4.2. Cơ chế tác động của vi khuẩn khi xâm nhập vào cơ thể lợn:
Bệnh phân trắng sau khi cai sữa của lợn con có nhiều nguyên nhân
trong đó có do độc tố (Enterotoxin) của vi khuẩn đường ruột gây nên. Hầu hết
các chủng E.coli đều gây dung huyết dạng alpha và thuộc một số serotype
nhất định. Sau khi mầm bệnh được xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa,
chúng sẽ xâm nhập qua niêm mạc ruột và phát triển nhanh chóng trong tế bào
biểu mô ruột. Tại đó chúng sẽ gây viêm, sưng phù các tế bào, ngăn cản sự hấp
thu các chất dinh dưỡng ở ruột non của lợn dẫn đến hiện tượng tiêu chảy làm


16

cho lợn con sinh trưởng và kém phát triển, còi cọc chậm lớn. Bệnh nặng con
vật có thể chết.
2.1.4.3. Triệu chứng:
Những ngày đầu mới nhiễm bệnh lợn con ỉa phân trắng ngà hay vàng
nhạt, lợn bị bệnh kém ăn, đi lại không nhanh nhẹn, da nhợt nhạt, hậu môn
luôn dính phân bê bết, da nhăn và khô do mất nước, lông xù dựng ngược, lợn
mệt mỏi… Lợn con mắc phân trắng sau khi điều trị khỏi, lợn sinh trưởng phát
triển kém, còi cọc chậm lớn.
2.1.4.4. Phòng bệnh và trị bệnh:
* Phòng bệnh: Tăng cường vệ sinh và chăm sóc, thức ăn cho lợn không
ôi thiu, nấm mốc, nước sạch không mang mầm bệnh, chuồng trại phải được
sát trùng định kỳ. Cần cho lợn con tập ăn sớm. Tiêm bổ sung Vitamin ADE
cho lợn con cai sữa để giảm yếu tố stress, kích thích sinh trưởng và phát triển
cho lợn con, phòng bệnh phân trắng.
* Trị bệnh:
Thuốc Amlistin lọ 100 ml, liều 1 - 2 ml/10 kgTT, tiêm bắp thịt.

Vitamin A làm cho gan bị phù, tiết dịch vị kém gây biếng ăn. Thừa Vitamin D
làm tăng Calci huyết, mềm xương gây bại liệt… Bởi vậy, nếu đã dùng Premix
sinh tố có ADE trộn vào thức ăn theo tỷ lệ quy định thì không được bổ sung
Premix sinh tố hoặc có bổ sung nhưng không thường xuyên.
Cho đến ngày nay người ta tìm ra khoảng hơn 15 loại Vitamin được coi
là thành phần không thể thiếu trong khẩu phần thức ăn của gia súc, gia cầm.
Các Vitamin này được chia làm hai nhóm chính: Nhóm Vitamin hòa tan trong
dầu, mỡ gồm: A, D2, D3, E, K. Nhóm hòa tan trong nước gồm: Vitamin C,
Vitamin nhóm B, Nicotinamid, Patothenic axit, Biotin, Folacin, Cholin…



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status