i
bộ giáo dục và đào tạo
bộ tài chính
học viện tài chính
đinh hoài nam
HON THIN H THNG KIM SOT NI B TI
CC DOANH NGHIP TRONG TNG CễNG TY U
T PHT TRIN NH V ễ TH
LUN N TIN S KINH T
hà nội - 2016
ii
bộ giáo dục và đào tạo
bộ tài chính
học viện tài chính
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT...................................................................viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ ...............................................................................................x
DANH MỤC BẢNG BIỂU .....................................................................................x
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ
HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC DOANH NGHIỆPTHEO
MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON.....................................................14
1.1 Chức năng kiểm soát trong quản lý và những vấn đề chung về kiểm soát nội bộ
trong các doanh nghiệp ........................................................................................ 14
1.1.1 Chức năng kiểm soát trong quản lý..........................................................14
1.1.2 Những vấn đề chung về kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp ....................18
1.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp.................................................... 22
1.2.1 Khái quát về hệ thống kiểm soát nội bộ ...................................................22
1.2.2 Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ....................................24
1.2.3 Khái quát về rủi ro và quản trị rủi ro doanh nghiệp, mối quan hệ giữa hệ thống
kiểm soát nội bộ với quản trị rủi ro doanh nghiệp.................................................. 33
1.3 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp theo mô hình công ty mẹ công ty con ............................................................................................................. 37
1.3.1 Khái quát chung về doanh nghiệp theo mô hình công ty mẹ - công ty con
.........................................................................................................................37
1.3.2 Đặc điểm cơ bản của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp
theo mô hình công ty mẹ - công ty con.............................................................41
1.4 Kinh nghiệm quốc tế về thiết lập và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ trong
các doanh nghiệp theo mô hình công ty mẹ - công ty con................................. 50
1.4.1 Kinh nghiệm về hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp theo
mô hình công ty mẹ - công ty con ở một số quốc gia........................................50
1.4.2 Bài học kinh nghiệm khi thiết lập và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ
trong các doanh nghiệp theo mô hình công ty mẹ - công ty con ở Việt Nam ....58
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP TRONG TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NHÀ
VÀ ĐÔ THỊ ...........................................................................................................61
phát triển nhà và đô thị................................................................................... 144
3.1.2 Phương hướng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp
trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị ........................................ 146
3.2 Yêu cầu và nguyên tắc cơ bản hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các
doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị...............147
3.2.1 Yêu cầu hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp trong
Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị.................................................. 147
vii
3.2.2 Nguyên tắc cơ bản hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh
nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị ............................. 148
3.3 Giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp trong
Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị..................................................150
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện môi trường kiểm soát ........................................... 150
3.3.2 Giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán................................................... 163
3.3.3 Giải pháp hoàn thiện thủ tục kiểm soát .................................................. 171
3.4 Kiến nghị thực hiện các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các
doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị...............188
3.4.1 Kiến nghị với Nhà nước và các cơ quan chức năng ............................... 188
3.4.2 Kiến nghị đối với Công ty mẹ ............................................................... 190
KẾT LUẬN.......................................................................................................... 192
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ............... 194
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 195
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 203
viii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp
CPSXC
Chi phí sản xuất chung
CPXL
Chi phí xây lắp
CTKT
Chứng từ kế toán
DNNN
Doanh nghiệp nhà nước
GĐ
Giám đốc
HĐQT
Hội đồng quản trị
HĐTV
Hội đồng thành viên
Trách nhiệm hữu hạn
TNHH MTV
Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
II. Tiếng Anh
AICPA
American Accounting Association
Hiệp hội kiểm toán viên công chứng Hoa kỳ
CAP
Commission Audit Procedures
Uỷ ban thủ tục kiểm toán
COSO
Committee of Sponsoring Organization
Uỷ ban của tổ chức tài trợ
ISA
International Standard Auditing
Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
ix
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp doanh thu theo ngành nghề kinh doanh của Công ty mẹ và các
công ty con cấp 1 năm 2012, 2013, và năm 2014 ........................................................69
Bảng 2.3 : Hệ số đánh giá hiệu quả công việc đối với..............................................93
Bảng 2.4: Quy định trách nhiệm lập kế hoạch của công ty HUD3 ...........................96
Bảng 2.5: Quy trình kiểm soát của Ban kiểm soát Công ty HUD3........................... 101
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngay từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, trong quá trình sắp xếp, đổi mới
mô hình phát triển DNNN đã hình thành chủ trương xây dựng và phát triển các
DNNN có quy mô lớn nhằm mục đích tích tụ, tập trung cao về vốn, đủ sức cạnh
tranh trên thị trường thế giới, mục tiêu này xuất phát từ chủ trương xác định kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo, trong đó các tổ chức kinh tế lớn (gồm các Tập đoàn
kinh tế Nhà nước (TĐKTNN) và tổng công ty nhà nước) là nòng cốt của kinh tế nhà
nước. Trong những năm qua, DNNN góp phần quan trọng vào việc điều tiết cung
cầu, ổn định giá cả, chống lạm phát, ổn định tỷ giá, đảm bảo an sinh xã hội, khắc
phục mặt trái của cơ chế thị trường, dẫn dắt các doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế khác hoạt động theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh những mặt tích
cực, DNNN còn bộc lộ nhiều hạn chế như: hiệu quả kinh doanh thấp chưa tương
xứng với những lợi thế và sự đầu tư của nhà nước; chưa phát huy tốt vai trò chủ lực
trong nền kinh tế; công tác quản lý, sử dụng vốn, tài sản còn nhiều bất cập;...Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế đó, trong đó có nguyên nhân quan trọng là
hệ thống KSNB tại các DNNN chưa được thiết lập và vận hành hiệu quả.
Lĩnh vực đầu tư kinh doanh bất động sản và thi công xây dựng có vai trò quan
trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Với những mục tiêu trong Chiến lược
phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt, phấn đấu đến năm 2020 diện tích nhà ở bình quân toàn
sản phẩm dở dang quá nhiều, hàng tồn kho lớn, chậm luân chuyển, nợ phải trả lớn,
nợ phải thu chậm thu hồi, doanh thu, thu nhập giảm mạnh, kinh doanh kém hiệu quả.
Chính vì vậy, một trong những nội dung quan trọng tại Quyết định số 806/QĐ-BXD
của Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành ngày 29/8/2013 về việc phê duyệt đề án tái cơ
cấu Tổng công ty đầu tư phát triển nhà và đô thị giai đoạn 2013 – 2015, có tính đến
2020, đã nhấn mạnh đến việc xây dựng hoàn thiện hệ thống KSNB tại các doanh
nghiệp trong Tổng công ty để giúp các doanh nghiệp trong Tổng công ty vượt qua
khó khăn, phát triển ổn định, bền vững.
Xuất phát từ những lý do trên, hoàn thiện hệ thống KSNB tại các doanh
nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị trở thành vấn đề có tính
cấp bách trong quản lý, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Hoàn
thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư
phát triển nhà và đô thị” để nghiên cứu.
2. Những kết quả nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài và
những định hướng nghiên cứu tiếp của đề tài
Nghiên cứu tổng quan của nghiên cứu sinh về các công trình nghiên cứu trong
và ngoài nước liên quan đến đề tài cho thấy, tầm quan trọng của kiểm soát đối với
quản lý luôn là đề tài thu hút sự quan tâm, chú ý, và từ lâu đã được nhiều tổ chức và
các nhà khoa học tiếp cận, nghiên cứu ở các khía cạnh và lĩnh vực khác nhau.
2.1 Các nghiên cứu về hệ thống KSNB của các tổ chức, các nhà nghiên cứu trên
thế giới
Trên thế giới, lý luận về hệ thống KSNB đã các tổ chức được nghiên cứu trải
qua hơn một thế kỷ với bốn thời kỳ từ thời sơ khai cho đến thời kỳ hiện đại hiện nay.
3
Trong thời kỳ sơ khai từ năm 1900 đến năm 1949, những nhận thức ban đầu
về KSNB được hình thành gắn với việc phục vụ cuộc kiểm toán và mục tiêu của
KSNB, giải thích thêm các thủ tục KSNB về kế toán, đảm bảo nghiệp vụ chỉ được
thực hiện khi đã được phê chuẩn, ghi nhận đúng đắn mọi nghiệp vụ để lập báo cáo,
hạn chế sự tiếp cận tài sản và kiểm kê. Sau đó, AICPA đã ban hành các chuẩn mực
kiểm toán (SAS - Statement on Auditing Standard) thay thế cho các thủ tục kiểm
4
toán (SAP), trong đó SAS1 về trách nhiệm của kiểm toán viên đã soát xét lại SAP 54
và đưa ra một khuôn khổ đầy đủ hơn về kiểm soát kế toán.
Trong thời kỳ phát triển từ năm 1973 đến năm 1992, với sự ra đời của Báo
cáo COSO năm 1992, lần đầu tiên khuôn mẫu lý luận về KSNB được nghiên cứu và
trình bày một cách đầy đủ và có hệ thống. Năm 1977, nhằm đáp ứng sự quan tâm của
công chúng đối với BCTC của các công ty kinh doanh Mỹ có hoạt động ở nước
ngoài, Quốc hội Mỹ đã thông qua Luật về chống hối lộ nước ngoài (Foreign Corrupt
Practices Act). Trong Luật này, có những yêu cầu đã dựa trực tiếp vào những quy
định mà AICPA đã đặt ra là cần phải duy trì KSNB nhằm đảm bảo độ tin cậy của các
thông tin tài chính trong các tổ chức. Sau đó, Ủy ban Giao dịch Chứng khoán Mỹ
(SEC – Security Exchange Commission) cũng đưa ra yêu cầu bắt buộc các công ty
niêm yết phải báo cáo về KSNB đối với công tác kế toán ở đơn vị mình. Yêu cầu về
báo cáo KSNB của công ty cho công chúng chưa thực sự thuyết phục, có nhiều tranh
luận về việc đánh giá tính hữu hiệu của KSNB. Trước thực tế này, năm 1985, Ủy ban
chống gian lận về BCTC thuộc Hội đồng Quốc gia Mỹ đã thành lập tổ chức COSO
(Committee of Sponsoring Organization). COSO được thành lập với mục đích thống
nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau và đưa
ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị có thể xây dựng một hệ thống KSNB hữu
hiệu. Sau thời gian dài làm việc, đến năm 1992, COSO đã phát hành báo cáo dưới tiêu
đề Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất (Internal Control – Intergrated framework).
Báo cáo COSO năm 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa về
KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống. Báo cáo COSO năm 1992 đã mở rộng phạm vi
khi có báo cáo COSO năm 1992, KSNB không chỉ đảm bảo các mục tiêu truyền
thống như trước nữa mà còn là công cụ để phục vụ quản trị rủi ro và tạo ra giá trị gia
tăng cho một tổ chức.
Trên thế giới, bên cạnh các nghiên cứu của các tổ chức về KSNB có không ít
các tác phẩm về kiểm toán của các nhà nghiên cứu đề cập đến KSNB trong mối liên
hệ với kiểm toán. Có thể kể đến một số tác giả và tác phẩm như: Nghiên cứu của tác
giả Robert Montgomery (1905) trong tác phẩm “Lý thuyết và thực hành kiểm toán”
đã đề cập đến hệ thống kiểm tra nội bộ (System of internal check) là cơ sở ban đầu
để phát triển lên thành KSNB; Tác giả Victor Z. Brink và Herbert Witt (1941) trong
tác phẩm “Kiểm toán nội bộ hiện đại” đã đề cập đến KSNB trong các hoạt động kế
toán và các hoạt động khác; các tác giả Alvin A.Arens và Jame Loebecke trong tác
phẩm “Kiểm toán” đã đề cập đến KSNB trong Chương 9 – Nghiên cứu về cơ cấu
KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát, các tác giả đã đưa ra lý do để các công ty xây
dựng một hệ thống KSNB và nội dung trọng tâm của hệ thống KSNB được khẳng
định là các quá trình kiểm soát; Tác giả Lois D.Etherington và Irene M.Gordon trong
tác phẩm “Internal controls in Canadian corporations” đã nghiên cứu hệ thống KSNB
trên các khía cạnh kiểm soát quản lý, kiểm soát hoạt động và kiểm soát kế toán [96].
Ngoài lĩnh vực kiểm toán, những nghiên cứu về KSNB trong mối quan hệ với quản
trị doanh nghiệp cũng được các nhà nghiên cứu đề cập trong nhiều tác phẩm, có thể
kể đến như: Tác giả Merchant,K.A (1985) về “Kiểm soát trong tổ chức kinh doanh”;
Tác giả Anthony, R.N và Dearden, J Bedford (1989) về “Hệ thống kiểm soát quản
lý”; Tác giả Bob Tricker (2009) về “Kiểm soát quản trị”;...
Như vậy, đến nay, sau hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, hệ thống lý
luận về KSNB đã có được khung lý thuyết căn bản và đầy đủ, tuy nhiên cùng với sự
6
biến đổi của môi trường kinh doanh, khả năng tư duy, nhận thức của nhà quản lý và
các cá nhân có liên quan, lý luận về KSNB vẫn tiếp tục được nghiên cứu bổ sung và
bản về hệ thống KSNB như khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và các thành phần của hệ
thống KSNB. Đề tài cũng trình bày các đặc điểm tổ chức hoạt động SXKD và cơ chế
quản lý tài chính, đồng thời chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của hệ thống KSNB đối
với quản lý tài chính tại Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam. Trên cơ sở đó,
7
Đề tài đã đề xuất các giải pháp để thiết kế và vận hành hệ thống KSNB giúp tăng cường
quản lý tài chính tại Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam. Tuy nhiên, đề tài
chưa làm rõ các RRTC để làm căn cứ đánh giá và đề xuất các giải pháp hoàn thiện các
chính sách, thủ tục kiểm soát tại Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam nhằm
kiểm soát các rủi ro này [77].
+ Đề tài khoa học “Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, đánh giá hệ
thống kiểm soát nội bộ các tập đoàn kinh tế Nhà nước trong quá trình kiểm toán do
Kiểm toán Nhà nước tiến hành”, do GS.TS Ngô Thế Chi và TS Phạm Tiến Hưng
đồng chủ nhiệm thực hiện năm 2013. Đề tài đã khái quát hóa những vấn đề lý luận
về đặc điểm tập đoàn kinh tế Nhà nước và hệ thống KSNB của TĐKT Nhà nước để
làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và đánh giá hệ thống KSNB do Kiểm toán Nhà
nước thực hiện. Đề tài tiếp cận hệ thống KSNB từ góc độ đánh giá hệ thống KSNB
để phục vụ hoạt động kiểm toán khi thực hiện quá trình kiểm toán tại các TĐKT Nhà
nước. Hệ thống KSNB chỉ là một nội dung trong đề tài. Nội dung chính của đề tài là
tập trung nghiên cứu, xác định mục tiêu, đối tượng, nội dung, tiêu chí nghiên cứu và
đánh giá hệ thống KSNB của các TĐKT Nhà nước cũng như xây dựng quy trình
nghiên cứu và đánh giá hệ thống KSNB của các TĐKT Nhà nước. Vì vậy, hệ thống
KSNB được trình bày trong đề tài chưa thật đầy đủ trên các phương diện thiết lập và
vận hành nhằm đối phó với các rủi ro của doanh nghiệp [19].
Về các luận văn, luận án có liên quan
Qua khảo sát, tìm hiểu tại các trường đại học lớn (Đại học Kinh tế quốc dân,
Học viện Tài Chính, Học viện Ngân hàng, Đại học Thương Mại, …) và các công bố
được thực trạng của hệ thống KSNB tại các đơn vị này trong việc ngăn ngừa, giảm
thiểu rủi ro và chưa đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB theo hướng
giúp các đơn vị kiểm soát rủi ro một cách hữu hiệu [47].
- Luận án: “Hoàn thiện hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp sản xuất xi
măng thuộc Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam” - Học viện Tài chính Nguyễn Thu Hoài (năm 2011). Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn các vấn
đề lý luận cơ bản về hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp sản xuất dưới góc độ
quản trị doanh nghiệp nhằm định hướng cho các nội dung hoàn thiện hệ thống KSNB,
phù hợp với đặc thù tổ chức kinh doanh và tổ chức quản lý của các doanh nghiệp sản
xuất xi măng trong Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam. Luận án đã đề cập
tới việc kiểm soát trong điều kiện ứng dụng phần mềm kế toán và hệ thống hoạch
định nguồn lực doanh nghiệp (ERP), các thành phần của hệ thống KSNB được trình
bày trong luận án gắn với đặc điểm của doanh nghiệp xi măng và trong điều kiện vận
dụng công nghệ thông tin. Tuy nhiên, luận án cũng chưa chỉ ra được các rủi ro đặc
thù, trọng yếu của các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng công ty xi măng
Việt Nam vì vậy các giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB vẫn hướng đến các chu
trình chủ yếu của quá trình sản xuất kinh doanh như: chu trình bán hàng và thu tiền,
chu trình mua hàng và thanh toán, chu trình hàng tồn kho và sản xuất, chu trình tiền
lương và nhân sự,...giống như khá nhiều các luận văn, luận án khác, mà chưa hướng
đến mục tiêu kiểm soát rủi ro [38].
- Luận án: “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại Tập đoàn Hóa chất Việt Nam” Trường Đại học Kinh tế quốc dân – Nguyễn Thị Lan Anh (năm 2014). Luận án đã hệ
thống hóa các vấn đề lý luận chung về hệ thống KSNB và thực hiện khảo sát phân tích
các yếu tố cấu thành của hệ thống KSNB tại Tập đoàn Hoá chất Việt Nam để đưa ra các
9
giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại Tập đoàn. Tuy nhiên, luận án chưa làm rõ
được đặc điểm về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, về mối quan hệ giữa công ty mẹ với
các công ty thành viên trong Tập đoàn đã ảnh hưởng đến hệ thống KSNB, để trên cơ sở
đó có đề xuất những giải pháp hoàn thiện phù hợp và khả thi hơn [2].
giả Nguyễn Minh Đức (năm 2006) về “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong
10
quản lý hoạt động tiêu thụ ở Công ty Cổ phần Hỗ trợ phát triển tin học – HIPT”; Tác
giả Đào Việt An (năm 2007) về “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ với việc tăng
cường quản lý tài chính tại Tổng công ty Khai thác Cảng hàng không Miền”; Tác giả
Đinh Thị Liên (năm 2007) về “Tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH
PRIMEGROUP”; Tác giả Cao Thanh Hoa (năm 2008) về “Hoàn thiện hệ thống kiểm
soát nội bộ tại Công ty cổ phần Toyota Mỹ Đình”; Tác giả Nguyễn Ngọc Bích (năm
2008) về “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với các hoạt động thu, chi bảo
hiểm xã hội tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội”; Tác giả Hoàng Thị Ánh Nga
(năm 2008) về “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Công ty American
Standard Việt Nam”; Tác giả Hoàng Thị Thanh Thủy (năm 2010) về “Hoàn thiện hệ
thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí Việt Nam”; Tác
giả Trần Thị Thúy Lan (năm 2010) về “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong
công tác quản lý tài chính tại Trường cao đẳng nghề cơ điện Phú Thọ”; Dương Thị
Thanh Hiền (năm 2011) về “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ chu trình bán hàng và thu
tiền tại Công ty thương mại và dịch vụ tổng hợp Hoà Khánh”...Các luận văn thạc sỹ
khi nghiên cứu về đề tài hoàn thiện hệ thống KSNB thường ở trong một phạm vi hẹp,
chỉ gắn với một đơn vị, thậm chí là chỉ liên quan đến một chu trình hay một mảng
hoạt động của đơn vị, và không chỉ ra các rủi ro đặc thù mà đơn vị phải đối phó để
làm cơ sở đánh giá và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB nhằm ngăn
ngừa, giảm thiểu các rủi ro đó.
Nhìn chung, đến nay ở Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hệ thống
KSNB trong các ngành khác nhau, tuy nhiên qua nghiên cứu tác giả nhận thấy vẫn
còn có những khoảng trống để đề tài tiếp tục nghiên cứu và khai thác, cụ thể là:
Về nội dung: Trên phương diện nghiên cứu lý luận về hệ thống KSNB phần
lớn các đề tài tiếp cận hệ thống KSNB dưới góc độ quản trị doanh nghiệp tuy nhiên
Về phạm vi nghiên cứu: Theo nghiên cứu tổng quan của tác giả đến nay
chưa có đề tài nào nghiên cứu về hệ thống KSNB trong các doanh nghiệp theo mô
hình công ty mẹ - công ty con hoạt động trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh bất động
sản và thi công xây dựng.
Từ các nhận xét trên, tác giả cho rằng khoảng trống để tác giả nghiên cứu đề
tài: “ Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp trong Tổng công ty
Đầu tư phát triển nhà và đô thị” là hoàn toàn phù hợp và cần thiết.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu nhằm các mục đích chủ yếu sau:
- Hệ thống hóa và bổ sung các vấn đề mang tính chất lý luận về hệ thống
KSNB và hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty con.
- Tổng kết và đánh giá trung thực, khách quan ưu điểm, hạn chế và nguyên
nhân của những hạn chế trong việc thiết lập và vận hành hệ thống KSNB tại các
doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị.
- Nghiên cứu và đề xuất các phương hướng, giải pháp để hoàn thiện hệ thống
KSNB tại các doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị trên cả hai
phương diện thiết lập và vận hành hệ thống KSNB nhằm ngăn ngừa, hạn chế tới mức thấp
nhất ảnh hưởng bất lợi của các rủi ro trọng yếu đến các mục tiêu của hệ thống KSNB.
12
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp trong
Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị. Cụ thể, nghiên cứu lý luận chung về hệ
thống KSNB và hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công
ty mẹ - công ty con. Qua đó, tác giả sẽ đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp
hoàn thiện hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát
triển nhà và đô thị.
- Luận án sử dụng các phương pháp xử lý thông tin về hệ thống KSNB tại các
doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị như: phương pháp tổng
hợp; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp tính toán;…
- Luận án sử dụng các phương pháp trình bày kết quả nghiên cứu như: phương
pháp quy nạp; phương pháp diễn giải; phương pháp thống kê;… để tổng hợp kết quả
khảo sát và đưa ra các phân tích, đánh giá, nhận định về hệ thống KSNB tại các
doanh nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị
6. Đóng góp của đề tài về mặt khoa học và thực tiễn
Việc hoàn thành luận án có ý nghĩa lý luận khoa học và vận dụng thực tiễn.
Về lý luận: Luận án đã khái quát hóa và phát triển những vấn đề lý luận về hệ
thống KSNB, mối quan hệ giữa hệ thống KSNB với quản trị rủi ro doanh nghiệp và hệ
thống KSNB tại các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con.
Về thực tiễn:
- Nghiên cứu các đặc điểm và rủi ro trọng yếu trong lĩnh vực đầu tư kinh
doanh bất động sản và thi công xây dựng tại các doanh nghiệp trong Tổng công ty
Đầu tư phát triển nhà và đô thị.
- Khảo sát thực trạng hệ thống KSNB đã được xây dựng, áp dụng tại các doanh
nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị, đánh giá mức độ hiệu quả của
hệ thống KSNB hiện hành, đặc biệt là trong việc kiểm soát nhằm giảm thiểu các rủi ro
trọng yếu trong lĩnh vực đầu tư kinh doanh bất động sản và thi công xây dựng công trình.
- Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, khảo sát và đánh giá, luận án đề xuất những
phương hướng, giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB tại các doanh
nghiệp trong Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị với trọng tâm hướng đến
kiểm soát các rủi ro trọng yếu ảnh hưởng đến việc hoàn thành các mục tiêu của đơn vị.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài lời mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục nội dung chính của luận án
được kết cấu trong ba chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về hệ thống kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát
nội bộ trong các doanh nghiệp theo mô hình công ty mẹ - công ty con
Chương 2: Thực trạng hệ thống kiểm soát nội bộ tại các doanh nghiệp trong
quản lý: “Quản lý là một quá trình do một hay nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp
các hoạt động của những người khác đạt được kết quả mà một người hành động
riêng rẽ không thể nào đạt được” [80, tr12]. Tiếp cận quản lý ở góc độ sử dụng các
tài nguyên hữu hiệu và hiệu quả trong tổ chức để đạt mục tiêu, tác giả Dương Hữu
Hạnh trong cuốn “Các nguyên tắc quản trị hiện đại trong nền kinh tế toàn cầu” đã
nhìn nhận: “Quản lý có thể được định nghĩa là một loạt các hoạt động được điều
khiển, chỉ huy với việc sử dụng các tài nguyên có hiệu quả và hữu hiệu để theo đuổi
một hay nhiều mục tiêu đã đề ra” [32, tr31]. Với các cách tiếp cận và lý giải quản lý
ở các góc độ khác nhau, có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý, nhưng tựu chung
lại “Quản lý là hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với
nhau trong một tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung” [56, tr10]. Để đạt
15
được mục tiêu của tổ chức trong điều kiện môi trường bên trong và bên ngoài tổ
chức luôn thay đổi, thì nhà quản lý cần phải thực hiện các chức năng của quản lý.
Các chức năng quản lý là những nhiệm vụ lớn nhất, bao trùm trong các hoạt động
quản lý, về điều này cũng có những ý kiến khác nhau. Henry Fayol ngay từ năm
1916 đã nêu lên năm chức năng: lập kế hoạch (planning), tổ chức (organizing), chỉ
huy (command), phối hợp (coordination) và kiểm soát (control). James Stoner và
Stephen Robins chia hoạt động quản lý với bốn chức năng: lập kế hoạch, tổ chức,
lãnh đạo, kiểm soát. Gwick và Urwich nêu lên bảy chức năng của quản lý: lập kế
hoạch, tổ chức, bố trí nhân sự, chỉ huy, phối hợp, kiểm soát, dự toán. Robert Kreitner
lại cho là có tám chức năng sau: lập kế hoạch, ra quyết định, tổ chức nhân sự, truyền
thông, động viên, lãnh đạo và kiểm soát [56, tr23]. Nhìn chung, các quan điểm khác
nhau về các chức năng của quản lý thường tập trung ở vấn đề quản lý con người
trong một tổ chức, tuy nhiên các quan điểm này thường thống nhất ở các nội dung:
trong quá trình quản lý không thể thiếu được việc lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát
để đạt được mục tiêu.
- Mục đích của kiểm soát trong một tổ chức là: Bảo đảm kết quả đạt được phù
hợp với mục tiêu của tổ chức; Bảo đảm các nguồn lực của tổ chức được sử dụng hiệu
quả; Phát hiện kịp thời các vấn đề và có sự điều chỉnh phù hợp.
1.1.1.2 Các loại kiểm soát
Kiểm soát trong quá trình quản lý một tổ chức có nhiều loại khác nhau tùy
theo tiêu thức phân loại khác nhau, như:
Căn cứ vào mục tiêu kiểm soát, kiểm soát được chia thành: kiểm soát ngăn
ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát điều chỉnh.
Kiểm soát ngăn ngừa tập trung chủ yếu vào việc quản lý nhân sự, xây dựng
các quy trình, quy phạm thực hiện các thao tác nghề nghiệp để ngăn chặn các sai
phạm hoặc điều kiện dẫn đến sai phạm. Kiểm soát ngăn ngừa thường được thực hiện
trước khi nghiệp vụ xảy ra.
Kiểm soát phát hiện tập trung vào việc phát hiện và đánh giá các gian lận và
sai sót đã xảy ra trong quá trình tác nghiệp nhằm giúp các nhà quản lý có các quyết
định xử lý kịp thời để hạn chế thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra. Kiểm soát phát
hiện được thực hiện trong hoặc sau quá trình thực hiện nghiệp vụ.
Kiểm soát điều chỉnh hướng tới việc cung cấp những thông tin cần thiết cho
việc ra các quyết định xử lý các gian lận và sai sót đã phát hiện.
Căn cứ vào nội dung kiểm soát, kiểm soát được chia thành: kiểm soát tổ chức
và kiểm soát kế toán.
Kiểm soát tổ chức là hệ thống các chính sách, các thủ tục được nhà quản lý
thiết lập nhằm đảm bảo sự tuân thủ của tổ chức đối với các chính sách, kế hoạch, thủ
tục pháp luật và các quy định hiện hành. Kiểm soát tổ chức gắn liền với việc thực
hiện mục tiêu của một tổ chức và là cơ sở cho kiểm soát kế toán.
Kiểm soát kế toán bao gồm các kế hoạch, tổ chức và các trình tự hồ sơ cần
thiết cho việc bảo vệ tài sản và độ tin cậy của sổ sách tài chính, do đó phải đảm bảo
hợp lý rằng: các nghiệp vụ được tiến hành theo sự chỉ đạo chung hoặc cụ thể của
quản lý; các nghiệp vụ được ghi sổ là cần thiết để lập BCTC trên cơ sở các nguyên
tắc chung được chấp nhận rộng rãi hoặc các tiêu chuẩn áp dụng và duy trì khả năng
kiểm soát này có tác dụng to lớn trong việc phát hiện kịp thời những sai lệch, vướng
mắc từ đó có những điều chỉnh phù hợp đảm bảo cho các kế hoạch được thực hiện.
Kiểm soát sau thực hiện là kiểm soát sau khi kế hoạch, nghiệp vụ đã được
thực hiện, không có tác dụng điều chỉnh quá trình đó mà thông qua việc so sánh giữa
kết quả đạt được và kế hoạch đã đề ra để đánh giá trách nhiệm của các bộ phận, xác
định nguyên nhân của những sai lệch giữa kế hoạch với thực tế, từ đó có những điều
chỉnh cho những nghiệp vụ tương tự sau này.
Căn cứ vào mối quan hệ giữa chủ thể với khách thể kiểm soát, kiểm soát được
chia thành: kiểm soát từ bên ngoài (ngoại kiểm) và kiểm soát nội bộ (nội kiểm).