BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN TIẾN LỢI
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
KIỂM TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ
TỈNH THÁI BÌNH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GVC.TS. VŨ QUANG
Hà Nội - 2016
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi, các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Thái bình, ngày tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Tiến Lợi
i
2.2.Thực trạng công tác kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh Thái Bình ..................41
ii
2.2.1.Công tác kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế ....................................................41
2.2.2 Công tác kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế ................................................48
2.3 Đánh giá chung về công tác kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh Thái Bình thời
gian qua ....................................................................................................................59
2.3.1 Những kết quả đạt được ...............................................................................59
2.3.2 Những tồn tại hạn chế và nguyên nhân........................................................61
Tóm tắt chương 2 ....................................................................................................69
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM
TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ TỈNH THÁI BÌNH ..............................................70
3.1 Quan điểm đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra thuế .................70
3.1.1 Việc hoàn thiện công tác kiểm tra thuế phải phù hợp với chiến lược cải
cách thuế ...............................................................................................................71
3.1.2 Công tác kiểm tra thuế phải được hoàn thiện theo hướng góp phần nâng cao
hiệu lực và hiệu quả của quản lý thuế ...................................................................71
3.1.3 Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế phải trên cơ sở phù hợp với điều kiện
thực tế khách quan ................................................................................................72
3.1.4 Hoàn thiện công tác kiểm tra thuế phải hướng tới tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế ......................................73
3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh
Thái Bình..................................................................................................................73
3.2.1 Giải pháp xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu người nộp thuế ....................73
3.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế: .......................75
3.2.3 Giải pháp kết hợp công tác kiểm tra với công tác chuyên môn khác để thu
nợ thuế đạt hiệu quả: .............................................................................................82
3.2.4 Nhóm giải pháp bổ sung để hoàn thiện công tác kiểm tra thuế: ..................84
TNCN
Thu nhập cá nhân
TTĐB
Tiêu thụ đặc biệt
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
XNK
Xuất nhập khẩu
SXKD
Sản xuất kinh doanh
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nguồn nhân lực văn phòng Cục Thuế năm 2013 - 2015..........................37
Hình 2.1: Biểu kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách nhà nước từ năm 2013 đến
năm 2015 ..................................................................................................40
Bảng 2.2: Số lượng cơ sở kinh doanh phải kiểm tra hồ sơ khai thuế giai đoạn 2013
– 2015 của Cục thuế tỉnh Thái Bình ........................................................44
hành chính thuế theo hướng đơn giản, rõ ràng, minh bạch, đáp ứng yêu cầu hội nhập
quốc tế và nâng cao hiệu lực của Hệ thống thuế.
Kiểm tra thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế theo mô
hình chức năng (bao gồm chức năng tuyên truyền hỗ trợ, kê khai, thu nợ và kiểm
tra). Kiểm tra thuế là một trong những chức năng quan trọng nhất của quản lý thuế,
bởi vì kiểm tra thuế là cách thức cơ bản để cơ quan thuế cảnh báo, ngăn ngừa, phát
hiện và xử lý những gian lận thuế. Kiểm tra thuế cũng giúp phát hiện những bất hợp
lý trong chính sách thuế và pháp luật thuế để nghiên cứu bổ sung, sửa đổi kịp thời
nhằm phát huy tốt nhất vai trò của thuế trong việc đảm bảo số thu cho ngân sách
nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bởi vậy, muốn nâng cao hiệu quả quản lý
thuế, một trong những việc mà cơ quan thuế các cấp phải làm là thường xuyên hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế.
Trong những năm qua, ngành Thuế tỉnh Thái Bình đã hoàn thành khá tốt
nhiệm vụ thu ngân sách, tốc độ tăng trưởng năm sau luôn cao hơn năm trước. Trong
kết quả chung của ngành Thuế tỉnh Thái Bình có phần đóng góp không nhỏ của
công tác kiểm tra thuế. Tuy nhiên, công tác kiểm tra thuế tại Thái Bình vẫn còn
những hạn chế nhất định, vẫn còn những bất cập, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng
đòi hỏi của thực tiễn vì vậy cần nghiên cứu hoàn thiện để góp phần nâng cao hiệu
quả quản lý thuế.
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp hoàn thiện
công tác kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh Thái Bình” là cần thiết và có ý nghĩa thực
tiễn thiết thực.
1
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận văn là tìm các giải pháp hoàn thiện công tác
kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh Thái Bình.
Các mục tiêu cụ thể của luận văn:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế và công tác kiểm tra thuế.
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh Thái Bình
giai đoạn 2013 - 2015.
Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế tại Cục
thuế tỉnh Thái Bình.
3
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ
1.1 Nhận thức chung về thuế và công tác kiểm tra thuế
1.1.1 Nhận thức chung về thuế:
a. Khái niệm và đặc điểm của thuế
Trong các sách báo kinh tế trên thế giới, cho đến nay vẫn chưa có sự thống
nhất tuyệt đối khái niệm về thuế. Nhiều quan điểm đưa ra mới nhìn nhận từ những
khía cạnh khác nhau của thuế nên chưa phản ánh được đầy đủ nhất bản chất của
phạm trù này.
Theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản. C.Mác đã chỉ
rõ: “Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có sự đóng góp của những người
công dân của Nhà nước đó là thuế má ...”
Sau này khái niệm về thuế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn. Trong
cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowers
cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn
nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về
hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”.
Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn “Kinh
tế học” của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy như sau: “Thuế là một khoản
chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các
công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận
Thứ hai, những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách
khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt – việc chuyển giao thu nhập có tính chất
bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước.
Thứ ba, xét theo khía cạnh luật pháp, thuế là một khoản nộp cho Nhà nước
được pháp luật quy định theo mức thu và thời hạn nhất định.
Từ những nội dung trên, có thể nêu lên khái niệm tổng quát về thuế như sau:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà
nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích
công cộng.
Để làm rõ hơn bản chất kinh tế của thuế cần tìm hiểu những đặc điểm
của thuế.
Thứ nhất, tính cưỡng chế và tính pháp lý cao.
5
Đặc điểm này được thể chế hóa trong mỗi Hiến pháp của mỗi quốc gia.
Trong các quốc gia, việc đóng thuế cho Nhà nước được coi là một trong những
nghĩa vụ bắt buộc của các tổ chức kinh tế và công dân cho Nhà nước. Các tổ chức
kinh tế và công dân thực hiện nghĩa vụ thuế theo các luật thuế cụ thể được cơ quan
quyền lực tối cao ở quốc gia đó quy định phù hợp với các hoạt động và thu nhập
của từng tổ chức kinh tế và công dân. Tổ chức hoặc cá nhân nào không thực hiện
đúng nghĩa vụ thuế của mình, tức là họ đã vi phạm luật pháp của quốc gia đó.
Đặc điểm này phân biệt sự khác nhau giữa thuế với các khoản đóng góp
mang tính tự nguyện cho ngân sách Nhà nước và thuế đối với khoản vay mượn của
Chính phủ.
Tuy nhiên, thuế là biện pháp tài chính mang tính chất bắt buộc của Nhà nước,
nhưng sự bắt buộc đó luôn được xác lập dựa trên nền tảng của các vấn đề kinh tế,
chính trị, xã hội trong nước và quan hệ kinh tế thế giới.
Thứ hai, thuế là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp.
từ thuế cũng phải điều chỉnh cho phù hợp. Tuy nhiên giới hạn thu từ thuế không
phải là vô tận mà hữu hạn bởi khả năng thu thuế.
Thứ hai, thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Nhà nước sử dụng nhiều công cụ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế và trong đó
thuế là một bộ phận của chính sách tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng bởi khả
năng tác động của thuế đến SXKD, tiêu dùng ngày càng rộng.
Khi nền kinh tế trì trệ, suy thoái, chính sách cắt giảm thuế sẽ làm tăng thu
nhập thực tế của dân cư đồng thời giảm chi phí các yếu tố đầu vào của sản xuất, hệ
quả làm khả năng thanh toán của cả xã hội tăng, giá cả hàng hóa có xu hướng giảm,
hàng hóa được tiêu thụ, sản xuất phát triển, nền kinh tế thoát khỏi suy thoái.
Khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, mức cung gia tăng nhanh chóng nhằm
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến cung
vượt cầu, sản xuất bị đình đốn, không tiêu thụ được hàng hóa, khi đó chính sách tăng
thuế sẽ làm giảm thu nhập của dân cư, gây sức ép tăng giá bán kéo theo nhu cầu tiêu
dùng bớt, nhu cầu đầu tư SXKD giảm bớt, cân bằng cung – cầu giữ mức ổn định.
Chính sách miễn giảm thuế được sử dụng điều tiết đầu tư SXKD. Các doanh
nghiệp coi thuế là một khoản chi phí, chi phí này xuất hiện ở tất cả các phương án
SXKD mà không thể tránh khỏi, tuy nhiên việc lựa chọn cách thức đầu tư, địa điểm
đầu tư, lĩnh vực đầu tư có thể đem lại những lợi ích về thuế do chính sách miễn
giảm thuế mà sắc thuế đó quy định. Trên nguyên lý lựa chọn phương án chịu mức
7
thuế thấp nhất, Nhà nước sử dụng các quy định miễn giảm thuế để điều tiết, hướng
dẫn sản xuất và tiêu dùng.
c. Phân loại thuế
Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống thuế bao
gồm nhiều loại thuế khác nhau. Để định hướng xây dựng và quản lý hệ thống thuế,
người ta tiến hành sắp xếp các sắc thuế có cùng tính chất theo những nhóm khác
năng nộp thuế
Thuế
trực
thu
Thuế
tổng
hợp
Thuế
gián
thu
Thuế
lựa
chọn
Theo phạm vi
thẩm quyền về
thuế
Thuế
trung
ương
Thuế
địa
phương
phương 100%.
d. Các yếu tố cấu thành sắc thuế
- Tên gọi của sắc thuế: Cho biết đối tượng tác động của sắc thuế đó. Ví dụ
tên gọi “Thuế tiêu thụ đặc biệt” cho biết sắc thuế này đánh trên hàng hóa, dịch vụ có
tính chất đặc biệt, “thuế giá trị gia tăng” là sắc thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm
của hàng hóa.
- Đối tượng nộp thuế: Xác định các chủ thể có nghĩa vụ nộp loại thuế đó cho
Nhà nước, có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Một chủ thể có thể chỉ kê khai và nộp
một loại thuế song có những chủ thể phải kê khai và nộp nhiều loại thuế khác nhau,
hầu hết các doanh nghiệp SXKD đều phải kê khai và nộp tối thiểu hai loại thuế:
thuế giá trị gia tăng và thu nhập doanh nghiệp.
9
- Đối tượng chịu thuế: Xác định cơ sở tính thuế là giá trị hàng hóa, dịch vụ,
nguồn thu nhập hoặc giá trị tài sản. Ngoài quy định về đối tượng chịu thuế, các sắc
thuế còn có các điều khoản xác định đối tượng không chịu thuế. Cơ sở loại trừ các
đối tượng không chịu thuế có thể do chính sách ưu đãi của Nhà nước hoặc do tính
hiệu quả trong việc quản lý thu thuế hay do tính chất của hàng hóa, dịch vụ, nguồn
thu nhập và do tập quán, thông lệ quốc tế có quy định loại trừ, ....
- Căn cứ tính thuế: Là căn cứ để xác định cơ sở tính thuế, đây là nội dung
quan trọng để các chủ thể tự xác định mức thuế mà mình phải nộp.
- Thuế suất: Được coi là “linh hồn” của các sắc thuế. Thuế suất xác định mức
động viên của sắc thuế đó trên một đơn vị cơ sở tính thuế. Các mức thuế suất của
một sắc thuế hợp thành một biểu thuế. Có nhiều loại thuế suất khác nhau như:
+ Thuế suất tỷ lệ cố đinh: Là loại thuế suất không thay đổi mặc dù cơ sở tính
thuế có thay đổi. Ví dụ thuế suất thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ
thông thường là 10%, dù giá trị hàng hóa có thay đổi nhưng mức thuế suất này là
không đổi.
thuế được thực thi nghiêm chỉnh.
Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình
thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt
ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình hình chấp hành
nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra.
Nội dung kiểm tra thuế là việc chấp hành pháp luật thuế. Thông qua các
phương pháp phân tích, đánh giá tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, hoạt động
kiểm tra giúp phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật thuế, góp phần
thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. Từ đó,
công tác quản lý thuế được hoàn thiện, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích hợp pháp của công dân.
b. Đặc điểm của công tác kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế là một lĩnh vực đặc thù với những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Phạm vi hoạt động của kiểm tra thuế rộng. Bởi đối tượng kiểm tra thuế
không chỉ là các tổ chức, cá nhân trong cơ quan thuế, mà còn bao gồm mọi tổ chức,
cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế.
11
- Kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó ảnh hưởng trực tiếp
tới lợi ích kinh tế của các đối tượng kiểm tra. Các đối tượng nộp thuế thường xuyên
tìm mọi biện pháp nhằm che đậy hành vi trốn thuế của mình, gây khó khăn cho
công tác kiểm tra thuế.
- Công tác kiểm tra thuế đòi hỏi cao về năng lực chuyên môn và phẩm chất
đạo đức của người cán bộ thuế. Phạm vi điều chỉnh của kiểm tra thuế là khá rộng,
đối tượng kiểm tra thuế là rất đa dạng, trên mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Điều đó
đòi hỏi cán bộ kiểm tra thuế phải không những vững về chuyên môn nghiệp vụ thuế
mà còn phải nắm bắt được bản chất của các hoạt động kinh tế khác. Đồng thời, do
đặc thù của kiểm tra thuế là tác động tới lợi ích của người nộp thuế đòi hỏi phẩm
công khai cho phù hợp để đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật người tố cáo, đảm
bảo lợi ích của nhà nước và công dân, đảm bảo hiệu quả kiểm tra cao nhất.
Tính dân chủ trong hoạt động kiểm tra thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn
trọng quần chúng, lấy dân làm gốc. Điều đó đòi hỏi phải coi trọng việc tiếp nhận,
thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều kiện cho đối tượng kiểm tra
được trình bày ý kiến của mình.
- Nguyên tắc tuân thủ kế hoạch và quy trình
Quy trình của hoạt động kiểm tra là xây dựng và chuẩn hóa nội dung, các
bước công việc trong hoạt động kiểm tra, trách nhiệm của từng bộ phận, từng cán
bộ tham gia quy trình.
Thực hiện theo quy trình giúp công tác kiểm tra thuế được thuận lợi, công
việc thực hiện theo chuyên môn, không thiếu sót trong quá trình kiểm tra. Quy trình
kiểm tra hợp lý sẽ tạo hiệu quả cao trong quá trình kiểm tra.
Việc xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm tra thuế một cách hợp lý giúp
nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra thuế. Bởi vậy, việc xây dựng kế hoạch và tổ
chức thực hiện kiểm tra theo kế hoạch được coi là một trong những nguyên tắc quan
trọng cần tuân thủ đối với hoạt động kiểm tra thuế.
- Nguyên tắc hiệu quả
Đây là nguyên tắc được đặt ra trong hầu hết các hoạt động quản lý, đặc biệt
là quản lý kinh tế, bởi vì, tính hiệu quả là chỉ tiêu tổng hợp nhất đánh giá chất lượng
của mọi hoạt động quản lý kinh tế.
13
Nguyên tắc hiệu quả đòi hỏi để đạt được những mục tiêu nhất định đã đề ra
hoạt động kiểm tra thuế phải bỏ ra chi phí thấp nhất. Nó cũng đòi hỏi với một
khoảng thời gian nhất định và một lực lượng nhất định, mức độ phát hiện các gian
lận thuế là cao nhất, không bỏ sót những gian lận lớn trong tổ chức thực hiện pháp
luật thuế và về phía cơ quan thuế, cán bộ thuế và người nộp thuế. Nguyên tắc này
+ Kiểm tra từng phần: thường được áp dụng với một sắc thuế nhất định hoặc
một phần của quy trình thu nộp.
+ Kiểm tra toàn phần: Áp dụng trên toàn diện các mặt công tác của một cơ
quan thuế, một cá nhân hay toàn bộ quá trình kê khai nộp thuế với tất cả các sắc
thuế có liên quan của một đối tượng nộp thuế.
- Theo địa điểm tiến hành kiểm tra:
+ Kiểm tra tại bàn (tại cơ quan thuế): Công tác kiểm tra các hồ sơ liên quan
đến việc xác định nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp được thực hiện tại cơ quan thuế.
+ Kiểm tra tại cơ sở kinh doanh: Công việc kiểm tra được thực hiện tại trụ sở
của người nộp thuế; cho phép cán bộ kiểm tra tiếp cận với tình hình thực tế, tài liệu
cụ thể của doanh nghiệp như sổ sách chứng từ kế toán, quỹ tiền mặt thực tế, sản
phẩm tồn kho thực tế, tài sản cố định thực tế…
e. Phương pháp kiểm tra thuế
Phương pháp kiểm tra đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy hiệu quả
của công tác kiểm tra. Những phương pháp được sử dụng trong công tác kiểm tra
bao gồm: Phương pháp vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro; phương pháp đi từ tổng
hợp đến chi tiết; phương pháp đối chiếu, so sánh; các phương pháp kiểm tra chứng
từ gốc; các bổ trợ. Cụ thể như sau:
-
Phương pháp vận dụng kỹ thuật quản lý rủi ro
Xét riêng trong lĩnh vực quản lý thuế, rủi ro được hiểu là những tổn thất có
thể xảy ra phát sinh từ các hoạt động không tuân thủ pháp luật thuế trong một môi
trường, hoàn cảnh cụ thể.
Căn cứ vào nguyên nhân rủi ro bao gồm: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát,
rủi ro phát hiện và rủi ro thanh tra. Trong đó:
15
16
lực có hạn để giảm thiểu nguy cơ xấu đe dọa đến sự thành công của tổ chức. Quản
lý rủi ro cũng là một quá trình đo lường hay đánh giá về quy mô và tính chất
nghiêm trọng của một sự việc, một hiện tượng, một vấn đề, trên cơ sở đó lập chiến
lược quản lý rủi ro. Như vậy, điều quan trọng trong quản lý rủi ro là dành ưu tiên
mọi nguồn lực vào quản lý những rủi ro có thể xảy ra tổn thất lớn nhất và những rủi
ro có nhiều khả năng xảy ra nhất, tiếp đến là quản lý những rủi ro có tổn thất thấp
hơn và ít có khả năng xảy ra hơn.
Việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong kiểm tra thực chất là việc phân
loại, đánh giá người nộp thuế dựa trên hệ thống những tiêu thức rủi ro về thuế nhằm
xác định những người nộp thế có mức độ tuân thủ thấp và khả năng gian lận cao về
thuế. Từ đó cơ quan thuế tập chung nguồn lực kiểm tra theo nguyên tắc ưu tiên
kiểm tra những người nộp thuế có thể mang lại tổn thất lớn nhất và những sai phạm
có nhiều khả năng xảy ra nhất.
-
Phương pháp đối chiếu, so sánh
Phương pháp đối chiếu, so sánh là phương pháp nghiệp vụ được sử dụng chủ yếu
trong suốt quá trình tiến hành một cuộc kiểm tra thuế.
Cán bộ kiểm tra thuế cần tiến hành so sánh, đối chiếu các nội dung cần kiểm
tra để xác định tính hợp lý, khách quan, trung thực của nội dung cuộc kiểm tra: Đối
chiếu tài liệu, số liệu của đơn vị được kiểm tra với đơn vị khác; đối chiếu giữa sổ kế
toán tổng hợp với báo cáo kế toán ; đối chiếu giữa sổ kế toán chi tiết với sổ kế toán
tổng hợpi; đối chiếu giữa số liệu thực tế trên hoá đơn và các chứng từ với số liệu
trên sổ sách kế toán …
-
Phương pháp kiểm tra bổ trợ
Các phương pháp kiểm tra bổ trợ bao gồm:
+ Phương pháp quan sát: Là quan sát trực tiếp, kín đáo và không gây trở ngại
những công việc có liên quan đến nội dung kiểm tra tại hiện trường.
+ Phương pháp phỏng vấn: Nhằm thu thập thông tin từ những người có quan
hệ trực tiếp đến nội dung kiểm tra.
+ Phương pháp thẩm tra và xác nhận từng phần (phương pháp phối hợp kiểm
tra nhiều nguồn): Theo phương pháp này, số liệu được đối chiếu với nhiều nguồn,
nhiều nguồn thông tin để kiểm tra đảm bảo khớp đúng sự việc. Cán bộ kiểm tra phải
có văn bản xác nhận về từng phần việc đã được xác minh, trên cơ sở xác nhận từng
phần để đi đến xác nhận toàn bộ.
+ Phương pháp toán học như số học, toán kinh tế… nhằm tính toán đối chiếu
và tổng hợp số liệu.
1.2. Nội dung công tác kiểm tra thuế tại Cục thuế các địa phương
Hoạt động kiểm tra của cơ quan thuế nhằm kiểm tra tính đầy đủ, chính xác
của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về
thuế của người nộp thuế.
18