BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM PHẠM THỊ THANH HÒA
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM TRA THUẾ
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CỦA CHI CỤC THUẾ
HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và
chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thanh Hòa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của mình, ngoài sự nỗ lực
cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và
tập thể.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp đỡ, chỉ bảo tận
tình của các thầy, cô giáo khoa Quản trị kinh doanh; Ban quản lý Đào tạo – Học
viện Nông nghiệp Việt Nam; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ dẫn tận tình của thầy giáo
PGS. TS Trần Hữu Cường đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện
luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các Tổ, Đội, Chi cục thuế huyện
Gia Lộc đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và thu thập tài liệu
phục vụ cho luận văn.
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình và bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
thế giới 19
2.2.2 Kinh nghiệm kiểm tra đối tượng nộp thuế ở Việt Nam 24
2.2.3 Một số bài học kinh nghiệm rút ra 29
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 31
3.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Gia Lộc 31
3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 34
3.1.3 Tình hình sản xuất của huyện 38
3.1.4 Giới thiệu về chi cục thuế huyện Gia Lộc - tỉnh Hải Dương 39
3.2 Phương pháp nghiên cứu 43
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 43
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 44
3.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 46
3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 46
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49
4.1 Thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp do chi cục
thuế Gia Lộc, tỉnh Hải Dương quản lý. 49
4.1.1 Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lộc 49
4.1.2 Tổ chức triển khai thực hiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh
nghiệp tại chi cục thuế huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương 55
4.1.3 Tiến trình công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp tại chi cục thuế
huyện Gia Lộc 67
4.1.4 Đánh giá công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp từ góc độ chi
cục thuế và doanh nghiệp do chi cục thuế quản lý 87
4.1.5 Đánh giá chung hoạt động kiểm tra đối tượng nộp thuế 91
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kiểm tra thuế đối với các doanh
nghiệp ở Chi cục thuế huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương 94
GTGT Giá trị gia tăng
GTSXBQ Giá trị sản xuất bình quân
HC-TV-AC, NVDT Hành chính- tài vụ- ấn chỉ- nghiệp vụ dự toán
KK, TTHTNNT Kê khai, tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế
KT, QLN Kiêm tra, quản lý nợ
LĐ Lao động
NN Nông nghiệp
NTTS Nuôi trồng thủy sản
SL Số lượng
SXNN Sản xuất nông nghiệp
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TNCN, TB Thu nhập cá nhân, Trước bạ
TTCN – XDCB Tiểu thủ công nghiệp – Xây dựng cơ bản
TTHTNNT Tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế
Tr.đ Triệu đồng
UBND Ủy ban nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT Tên bảng Trang
3.1 Tình hình đất đai của huyện Gia Lộc qua 3 năm (2011 - 2013) 33
3.2 Tình hình dân số, lao động, thu nhập và chi tiêu bình quân đầu
người/tháng huyện Gia Lộc 2004 - 2013 35
4.8 Nội dung công văn chỉ đạo xây dựng kế hoạch kiểm tra qua 3
năm 2011 - 2013 68
4.9 Hoạt động kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan thuế năm 2011-2013 73
4.10 Kiểm tra hồ sơ hoàn thuế tại cơ quan thuế năm 2011-2013 74
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
4.11 Hoạt động kiểm tra thuế tại trụ sở doanh nghiệp năm 2011-2013 77
4.12 Vi phạm về đăng ký, kê khai và thực hiện kê khai thuế của các
doanh nghiệp do chi cục thuế huyện Gia Lộc quản lý 2011- 2013 79
4.13 Vi phạm qua kiểm tra hoá đơn doanh nghiệp của chi cục thuế
huyện Gia Lộc 2011 - 2013 80
4.14 Số vụ vi phạm về chế độ quyết toán và sử dụng hóa đơn của các
doanh nghiệp tại Chi cục thuế huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương
(2011 - 2013) 82
4.15 Số vụ vi phạm tính thuế và nộp thuế của các doanh nghiệp do chi
cục thuế huyện Gia Lộc quản lý (2011 - 2013) 84
4.16 Kết quả đánh giá của cán bộ thuế trong chi cục đối với cán bộ
làm công tác kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 89
4.17 Đánh giá của doanh nghiệp về công tác kiểm tra thuế của chi cục
thuế huyện Gia Lộc 90
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế luôn là vấn đề quan trọng nhạy cảm của mọi quốc gia cũng như mọi
thời kì. Thứ nhất, nhạy cảm bởi vì đây là kênh lớn nhất lấy tiền ra khỏi xã hội của
CP mà người bị lấy chính là nhân dân (trực tiếp hoặc gián tiếp). Do đó ảnh hưởng
trực tiếp đến thu nhập của họ. Thứ hai, không phải ngẫu nhiên mà nó trở nên quan
trọng, không những là một công cụ tài khóa hiệu quả thường xuyên được CP sử
dụng để kiềm chế lạm phát mà còn là nguồn sống của cả một bộ máy điều hành đất
nước. Ngoài ra, khi nhìn vào số tiền và tốc độ tăng trưởng thuế hàng năm các
chuyên gia cũng có thể dự đoán được tình trạng kinh tế của mỗi vùng. Tuy nhiên,
do tính chất phức tạp của các hoạt động đa dạng của các thành phần trong nền kinh
tế thị trường còn đang non trẻ nên trong quá trình làm luật và áp dụng luật còn rất
nhiều vấn đề xảy ra. Các vấn đề như doanh nghiệp ma và trốn thuế vẫn diễn ra tràn
lan dẫn đến thất thu lớn cho đất nước gây ra thiệt hại cho nền kinh tế.
Luật quản lý thuế thuế từ quản lý theo sắc thuế nay chuyển sang quản lý theo
chức năng đó là: Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế, thanh tra kiểm tra; kê khai kế
toán thuế; quản lý nợ và cưỡng chế thuế. Do vậy, trong hệ thống quản lý thuế thì
kiểm tra thuế là một phạm trù lịch sử gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà
nước nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị. Hiện nay, để thực hiện cơ chế
công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp của Chi cục thuế huyện Gia
Lộc, tỉnh Hải Dương ”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu thực trạng công tác kiểm tra thuế. Đồng thời xác định các yếu tố ảnh
hưởng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với các doanh
nghiệp của chi cục thuế huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác kiểm tra thuế
đối với các doanh nghiệp.
- Phân tích thực trạng công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp trên địa
bàn huyện Gia Lộc.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với các
doanh nghiệp do Chi cục thuế huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương quản lý.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp nằm
trong diện kiểm tra thuế của chi cục thuế huyện Gia Lộc.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các vấn đề lý thuyết và thực tiễn của việc
hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng
tới hoạt động công tác kiểm tra thuế ở Chi cục thuế huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
Từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra thuế đối với doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu công tác kiểm tra thuế đối với các doanh
nghiệp tại chi cục thuế huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
- Phạm vi thời gian:
Từ sự phân tích trên, ta có khái niệm kiểm tra thuế là hoạt động xem xét
tình hình thực tế của đối tượng được kiểm tra để đánh giá, nhận xét và xử lý của cơ
quan thuế đối với việc thực hiện pháp luật thuế của người nộp thuế và công tác quản
lý, hành thu, kiểm tra của cán bộ thuế.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
2.1.2 Mục tiêu và nguyên tắc của kiểm tra thuế
2.1.2.1.Mục tiêu của kiểm tra thuế
Theo Nguyễn Văn Thắng ( 2012), hoạt động kiểm tra thuế nhằm giúp các Đối
tượng nộp thuế và cơ quan thuế thực hiện nghiêm chỉnh các Văn bản pháp luật về
công tác quản lý thu Ngân sách đảm bảo thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các
khoản thu vào ngân sách Nhà nước, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của
ngành thuế, phát hiện các kẽ hở của chính sách thuế, chủ động phòng ngừa và đấu
tranh có hiệu quả đối với các hành vi vi phạm pháp luật thuế.
Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành các luật thuế
của các đối tượng nộp thuế và người thu thuế nhằm phát huy nhân tố tích cực, đấu
tranh ngăn ngừa và xử lý những mặt tiêu cực.
Căn cứ vào những kiến nghị của kết quả kiểm tra thuế cơ quan thuế các cấp
có thể đề ra các giải pháp cụ thể để thực hiện, đưa Luật thuế vào cuộc sống thực tế,
đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện luật Thuế, đồng thời cải cách được các
quy trình quản lý thu thuế ngày càng hợp lý hơn.
Thông qua công tác kiểm tra thuế nhằm hướng dẫn, giúp đỡ đối tượng nộp thuế
nắm được nghĩa vụ và quyền lợi của đơn vị khi thực hiện Luật thuế; đồng thời nâng
cao trách nhiệm của công chức ngành thuế khi thi hành công vụ.
Thông qua công tác kiểm tra nội bộ nhằm kịp thời ngăn chặn, phòng ngừa
những hành vi tiêu cực, tham nhũng phát sinh, để xây dựng cơ quan thuế trong sạch
Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan và công chức kiểm tra thuế
phải thực hiện đúng chức năng, trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật qui định; xem
xét đúng sai của đối tượng kiểm tra phải căn cứ vào qui định của pháp luật mà
không tuân theo ý kiến tác động của bất cứ một cơ quan hoặc một cá nhân nào.
- Hai là, nguyên tắc chính xác, khách quan
Đảm bảo chính xác, khách quan là vấn đề có tính nguyên tắc cao trong hoạt
động kiểm tra. Có chính xác trong công tác kiểm tra mới cho phép đánh giá đúng
thực trạng của đối tượng kiểm tra, giúp cho việc xử lý đúng người, đúng việc, đúng
pháp luật.
Nguyên tắc khách quan đòi hỏi trong hoạt động kiểm tra phải tôn trọng sự
thật, đánh giá sự vật, hiện tượng đúng như nó vốn có, không suy diễn hay qui chụp
một cách tùy tiện chủ quan. Tính khách quan và chính xác trong kiểm tra có quan
hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Có thái độ khách quan, không thiên vị mới
đảm bảo tính chính xác trong đánh giá, kết luận vấn đề và ngược lại, có chính xác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
mới thể hiện được việc làm khách quan.
Để thực hiện nguyên tắc này, đòi hỏi chủ thể kiểm tra phải có quan điểm đúng
đắn, có bản lĩnh vững vàng và phải có kiến thức, năng lực cao.
- Ba là, nguyên tắc công khai, dân chủ và kịp thời
Công khai trong hoạt động kiểm tra tức là phải được dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra để thu hút sự tham gia, đồng tình ủng hộ của nhân dân. Việc công
khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như sau: công khai quyết định kiểm tra, công khai
tiếp xúc với các đối tượng có liên quan và công khai kết luận kiểm tra. Tuy nhiên,
tuỳ theo tính chất vụ việc mà có hình thức công khai cho phù hợp, trong phạm vi
cho phép, vừa đảm bảo giữ gìn bí mật quốc gia, bí mật người tố cáo, đảm bảo lợi
ích của Nhà nước và công dân, vừa đảm bảo hiệu quả kiểm tra cao nhất.
Dân chủ trong hoạt động kiểm tra là thể hiện sự tôn trọng khách quan, tôn
trọng quần chúng, lấy dân làm gốc. Phải lôi cuốn quần chúng nhân dân tham gia
cao nhất, góp phần phát huy dân chủ XHCN và tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước.
2.1.3 Vai trò của kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
- Kiểm tra thuế đã góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách pháp luật về thuế.
Hệ thống thuế ở nước ta hiện nay bao gồm nhiều sắc thuế khác nhau. Mỗi sắc
thuế điều tiết đến một số đối tượng xã hội nhất định và có những phương pháp quản
lý thu khác nhau. Về cơ bản mỗi sắc thuế khi được ban hành đều đã được nghiên
cứu kỹ và chuẩn bị chu đáo nhưng do đặc điểm nền kinh tế nước ta đang ở thời kỳ
chuyển đổi từ hành chính, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, bất cập. Chính vì vậy, kiểm tra
thuế là nơi cung cấp các căn cứ, các bằng chứng cụ thể phản ánh một cách chân
thực, sống động các hoạt động diễn ra trong thực tế, để phục vụ cho việc hoàn thiện,
bổ sung các chính sách cho phù hợp.
- Kiểm tra thuế là phương tiện phòng ngừa hành vi vi phạm pháp luật và tội
phạm nảy sinh trong hoạt động quản lý thuế.
Với tư cách là công cụ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, kiểm tra thuế
chính là việc xem xét tại chỗ việc làm của các tổ chức, cơ quan và các cá nhân có
đúng quy định của chính sách, pháp luật về thuế hay không? Qua đó sử dụng các
biện pháp chế tài bằng mệnh lệnh hoặc các quyết định hành chính nhằm ngăn ngừa
hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế.
Thực tế cho thấy không có hệ thống pháp luật nào có thể đảm bảo là không
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
khiếm khuyết. Đây chính là nguyên nhân để các đối tượng lợi dụng, cố tình lách
luật để trục lợi cá nhân. Kiểm tra thuế phải phát hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực
để ngăn ngừa kịp thời.
- Kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong việc cải cách thủ tục hành chính
cả về quy chế và tổ chức thực hiện.
Thông qua hoạt động kiểm tra thuế giúp hạn chế mức tối đa các thủ tục, quy
chế không cần thiết gây khó khăn cho các đối tượng nộp thuế trong quá trình cơ
đăng ký thuế. Cần coi trọng việc kiểm tra nội dung ghi trong đăng ký kinh doanh,
đăng ký thuế, vì đây là khâu đầu tiên trong quy trình quản lý thu thuế, để tránh bỏ
sót đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, bỏ sót nguồn thu.
Hai là, kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ.
Việc thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ có liên quan mật thiết đến
việc tính thuế, nộp thuế và công tác quản lý của nhà nước. Nội dung kiểm tra này
bao gồm: kiểm tra việc tổ chức thực hiện Luật kế toán của các cơ sở kinh doanh,
việc lập và sử dụng hoá đơn, chứng từ có liên quan đến việc tính thuế. Nội dung của
kiểm tra chứng từ, hoá đơn là xác định tính hợp pháp, hợp lý, tính trung thực của
từng loại chứng từ, hoá đơn có liên quan như sau: hoá đơn bán hàng, phiếu xuất
kho, chứng từ thu chi…
Qua kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, chứng từ, hoá đơn đảm
bảo chính xác các căn cứ tính thuế, ngăn chặn kịp thời việc hạch toán sai để trốn lậu
thuế. Do vậy, nội dung kiểm tra này được tiến hành thường xuyên; đây là nội dung
kiểm tra phức tạp nhất, tốn nhiều thời gian và công sức nhất.
Ba là, kiểm tra việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế.
Kê khai, tính thuế, nộp thuế là nghĩa vụ của các doanh nghiệp, tổ chức, cá
nhân kinh doanh. Nội dung công tác kiểm tra việc kê khai tính thuế, nộp thuế bao gồm:
- Kiểm tra để xác định đúng đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế là yêu
cầu bắt buộc phải làm trước khi xác định mức thuế phải nộp. Trong thực tế, nhiều
hoạt động kinh doanh phức tạp phải kiểm tra để xác định đối tượng chịu thuế, đối
tượng nộp thuế đúng với quy định của từng sắc thuế tránh bỏ sót nguồn thu.
- Kiểm tra căn cứ tính thuế trên cơ sở kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ, hoá
đơn và các tài liệu có liên quan nhằm xác định đúng số thuế phải nộp, số thuế đã
nộp, số thuế được miễn, giảm, số thuế được hoàn trong kỳ của đơn vị. Đối chiếu số
liệu trên các tờ khai, bảng kê, quyết toán thuế đơn vị đã kê khai với số liệu kiểm tra
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
trên sổ sách kế toán và tình hình thực tế của đơn vị để phát hiện số thuế đơn vị kê
Page 12
- Lập biên bản kiểm tra;
- Xử lý kết quả kiểm tra thuế;
- Chuyển hồ sơ để kiểm tra thuế;
- Tổng hợp báo cáo
* Trình tự và thủ tục kiểm tra thuế
- Công bố quyết định kiểm tra thuế khi bắt đầu tiến hành kiểm tra thuế;
- Đối chiếu nội dung khai báo với sổ kế toán, chứng từ kế toán, báo cáo tài
chính, các tài liệu có liên quan, tình trạng thực tế trong phạm vi. Nội dung của quyết
định kiểm tra thuế;
- Thời hạn kiểm tra thuế không quá năm ngày làm việc, kể từ ngày công bố
quyết định kiểm tra; trường hợp kiểm tra theo kế hoạch đối với hàng hóa xuất khẩu
thì thời hạn không quá mười năm ngày;
- Trong trường hợp cần thiết, quyết định kiểm tra thuế được gia hạn một lần;
thời gian gia hạn không quá thời hạn quy định;
- Lập biên bản kiểm tra thuế trong thời hạn năm ngày làm viêc, kể từ ngày
hết thời hạn kiểm tra;
- Xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cấp có thẩm quyền xử lý theo kết quả
kiểm tra.
2.1.4.3 Các hình thức kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Việc kiểm tra thuế có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức đa dạng. Có thể
phân loại các hình thức này theo nhiều tiêu thức khác nhau:
a. Căn cứ vào tính chất kế hoạch của hoạt động kiểm tra
-
Kiểm tra thuế theo chương trình, kế hoạch được tiến hành theo chương trình,
kế hoạch đã được phê duyệt.
-
Kiểm tra thuế đột xuất được tiến hành khi phát hiện người nộp thuế thuộc địa
bàn quản lý có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế; theo yêu cầu của việc giải quyết
Kiểm tra thuế tại trụ sở cơ quan quản lý thuế
Kiểm tra tính chất đầy đủ, đúng đắn và kịp thời của việc ghi chép phản ánh
các chỉ tiêu trong Hồ sơ khai thuế.
Trường hợp phát hiện người nộp thuế không ghi chép, phản ánh đầy đủ, đúng
đắn và kịp thời các chỉ tiêu trong hồ sơ khai thuế, cán bộ kiểm tra thuế phải báo cáo
Thủ trưởng cơ quan Thuế ra thông báo yêu cầu người nộp thuế bổ sung các chỉ tiêu
chưa phản ánh hoặc phản ánh sai trong hồ sơ khai thuế.
Kiểm tra các căn cứ tính thuế để xác định số thuế phải nộp; số tiền thuế được
miễn, giảm; số tiền hoàn thuế theo phương pháp đối chiếu, so sánh:
Kiểm tra, đối chiếu báo cáo tình hình chấp hành việc in, phát hành, quản lý,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
sử dụng hóa đơn bán hàng hóa dịch vụ theo quy định.
- Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế được thực hiện thường xuyên đối với các
hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong
hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của doanh nghiệp nộp thuế;
- Khi kiểm tra hồ sơ thuế, công chức quản lý thuế thực hiện việc đối chiếu so
sánh nội dung trong hồ sơ thuế với các thông tin, tài liệu có liên quan, các quy định
của pháp luật về thuế, kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết
đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
*Kiểm tra thuế tại trụ sở của doanh nghiệp nộp thuế
Công tác kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế tập trung vào các nội dung
trọng tâm sau:
-
Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ đầu ra, đầu vào; có đối chiếu so
sánh với số liệu trên Tờ khai, các quy định của pháp luật thuế; Kiểm tra căn cứ xác
định các chỉ tiêu liên quan đến từng loại thuế mà DN phải nộp như:
+ Đối với thuế TNDN: Doanh thu tính thuế; Tổng thu nhập chịu thuế; Chi phí
được khấu trừ;
hồ sơ khai thuế còn phức tạp, không minh bạch khó hiểu, khó vận dụng sẽ không
chỉ làm cản trở tới việc thực hiện nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế mà còn gây
tốn kém rõ ràng nghĩa vụ thuế, làm cho đối tượng nộp thuế khai sai số thuế phải
nộp, nộp thiếu hồ sơ, không đúng thời gian… Doanh nghiệp nộp thuế phải bỏ thêm
chi phí để khắc phục sai sót, cơ quan thuế tăng chi phí về quản lý và việc chấp hành
nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế cũng bị ảnh hưởng. Tuy không là căn cứ trực
tiếp của hoạt động quản lý thuế, nhưng pháp luật, chính sách thuế là yếu tố trực tiếp
chi phối hiệu quả quản lý và hiệu quả kiểm tra thuế. Pháp luật, chính sách thuế chi
phối tới hoạt động kiểm tra thuế:
+ Lựa chọn đối tượng để kiểm tra thuế.
+ Yêu cầu doanh nghiệp nộp thuế giải trình, chứng minh và cung cấp hồ sơ có
liên quan đến nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp.
+ Đưa ra quyết định về thực trạng chấp hành pháp luật thuế của doanh nghiệp
nộp thuế sau khi kết thúc kiểm tra.
+ Đề xuất ý kiến với cơ quan có thẩm quyền và doanh nghiệp nộp thuế thực
hiện các biện pháp để khắc phục hậu quả do vi phạm pháp luật thuế: Truy thu thuế,
phạt chậm nộp thuế, không được hoàn thuế…