SKKN công tác chủ nhiệm lớp 2 - Pdf 40

Trường Tiểu học số 1 Phước Hòa

SỞ GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO BÌNH ĐỊNH
PHÒNG GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO TUY PHƯỚC
TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 PHƯỚC HÒA

ĐỀ TÀI:

TRƯỜNG TH SỐ 1 PHƯỚC HÒA

Người viết : TRẦN THỊ HẰNG NGA
Chức vụ : GIAO VIÊN

Năm học: 2016 - 2017

GV: Trần Thị Hằng Nga

1


Trường Tiểu học số 1 Phước Hòa

I.ĐẶT VẤN ĐỀ:
1) Thực trạng của vấn đề:
Giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học có một vai trò vô cùng quan trọng
trong việc hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu, nền móng đầu tiên cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ
năng sống cơ bản để học sinh tiếp tục học lên các lớp trên.
Ở đầu mỗi năm học, ở cùng một trường học, cùng một khối lớp, chất lượng
học tập của học sinh cũng tương đương nhau. Nhưng tại sao đến cuối năm, chất
lượng học tập và hạnh kiểm của học sinh lớp này lại vượt trội hẳn so với các lớp


xin lỗi, cách trình bày trong vở, cách làm vệ sinh lớp, đề ra các nội qui của lớp,
…và phải thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn những sai sót của học sinh nên có
lúc rất căng thẳng, mệt mỏi. Vì vậy, tôi khẳng định rằng công tác của giáo viên
chủ nhiệm lớp ở Tiểu học là cực kì quan trọng, là nhân tố số một quyết định chất
lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
Đó là lí do tôi chọn để viết sáng kiến kinh nghiệm năm học này : “Kinh
nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp”. Tôi mong được chia sẻ và nhận được
những đóng góp chân tình từ các thầy giáo, cô giáo.
II- PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH:
1/ Cơ sở lí luận:
Giáo viên không chỉ có nhiệm vụ truyền đạt tri thức cho học sinh mà còn
có chức năng tác động tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách cho
các em. Công tác chủ nhiệm lớp là một nội dung về chuyên môn nghiệp vụ của
giáo viên tiểu học. Công tác chủ nhiệm quyết định chất lượng dạy và học của
giáo viên và học sinh. Làm tốt công tác chủ nhiệm tức là người giáo viên đã
hoàn thành tốt việc giảng dạy các bộ môn và tổ chức giáo dục, rèn luyện đạo
đức cho học sinh. Đặc biệt trong nhà trường tiểu học, vai trò của người giáo viên
chủ nhiệm hết sức quan trọng. Giáo viên chủ nhiệm là người quản lý, điều hành
lớp, trực tiếp giáo dục tư tưởng đạo đức, hình thành nhân cách cho học sinh; là
cầu nối giữa ba môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, công tác chủ nhiệm lớp ngày càng đòi hỏi sự dày
công của người giáo viên bởi yêu cầu ngày càng cao của xã hội đang phát triển,
bởi tình hình cuộc sống vẫn đang tồn tại những tác động xấu đến học sinh, bởi
sự mưu sinh của gia đình nên không ít phụ huynh đã giao phó việc giáo dục con
cái cho nhà trường. Chính vì vậy, người giáo viên phải có kiến thức sư phạm
cao. Đặc biệt phải có “ Kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm lớp ” mới có thể
nắm bắt hết đặc điểm tâm lý trình độ từng học sinh để có hướng giảng dạy và
giáo dục đạt kết quả tốt.
2 / Các biện pháp tiến hành:

kê hết được. Trong sáng kiến kinh nghiệm này, tôi chỉ đi sâu vào 3 nội dung
chính sau đây:
1. Xây dựng nề nếp lớp học.
2. Xây dựng nội quy lớp học
3. Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà.
Sau đây là các biện pháp tôi đã tiến hành:
1) Xây dựng nề nếp lớp học:
a) Nắm thông tin về học sinh ghi vào Sổ theo dõi chất lượng giáo dục.
Mỗi giáo viên chủ nhiệm lớp, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, muốn
đề ra các biện pháp giáo dục học sinh phù hợp, đạt hiệu quả thì trước hết giáo
viên phải hiểu học sinh, phải nắm được đầy đủ các thông tin cần thiết về từng
học sinh. Do vậy, ngay từ ngày đầu nhận lớp, tôi thực hiện ngay công tác điều
tra thông qua phiếu sau đây. Tôi phát cho mỗi em một phiếu điều tra và yêu cầu
các em điền đầy đủ thông tin trong phiếu:

GV: Trần Thị Hằng Nga

4


Trường Tiểu học số 1 Phước Hòa

ĐIỀU TRA THÔNG TIN CÁ NHÂN HỌC SINH
1. Họ và tên:…………………………Nam ( Nữ)……..Dân tộc:…….
2. Sinh ngày….tháng….năm….Nơi sinh………………………………
3. Chỗ ở hiện nay:................................................................................
4. Hộ khẩu thường trú:.........................................................................
5. Tình trạng sức khỏe:........................................................................
6. Có năng khiếu:................................................................................
7. Họ tên cha:......................................................................................


Trường Tiểu học số 1 Phước Hòa

quá trình học tập, tôi thường xuyên theo dõi xem em nào có đủ tố chất, đủ yêu
cầu có thể làm ban cán sự lớp tôi sẽ lựa chọn em đó.
Các em có tinh thần xung phong ứng cử mình làm ban cán sự lớp sẽ có tinh
thần trách nhiệm hơn, luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ mà cô giao.
c) Phân công nhiệm vụ cụ thể cho Ban Cán sự lớp:
Sau khi đã bầu chọn được Ban Cán sự của lớp, tôi giao nhiệm vụ cụ thể cho
từng em như sau:
* Nhiệm vụ của lớp trưởng:
- Theo dõi, kiểm tra mọi hoạt động của lớp.
- Điểm danh và ghi sĩ số của lớp vào góc trên (bên phải bảng) ngay sau khi
xếp hàng vào lớp.
- Báo cáo sĩ số
- Hướng dẫn các bạn truy bài.
- Điều khiển các bạn xếp hàng vào lớp, xếp hàng chào cờ đầu tuần, xếp
hàng tập thể dục.
- Giữ trật tự lớp khi giáo viên chấm bài, khi giáo viên có việc phải ra khỏi
lớp và khi lớp dự lễ chào cờ đầu tuần.
- Nhắc nhở các bạn tổ trưởng kiểm tra bài tập về nhà, đồ dùng học tập trong
tổ hàng ngày.
* Nhiệm vụ của lớp phó học tập, lớp phó lao động:
- Cùng lớp trưởng tổ chức lớp truy bài 15 phút đầu giờ; giúp đỡ các bạn
học bài, làm bài.
- Làm mọi việc của lớp trưởng khi lớp trưởng vắng mặt hoặc nghỉ học.
- Phân công, theo dõi và kiểm tra các tổ trực nhật.
- Phối hợp với lớp trưởng, lớp phó học tập giữ trật tự lớp.
- Nhắc nhở các bạn giữ gìn vệ sinh trong lớp, trường
Mỗi em sẽ làm đúng các nhiệm vụ của mình. Ngoài ra, lớp trưởng và 2

Công việc xây dựng nội quy lớp học được tôi tiến hành từng bước như sau:
a)Trang trí lớp học sạch- đẹp
Lớp học thân thiện phải luôn sạch sẽ, ngăn nắp và được trang trí đẹp, đảm
bảo tính thẩm mĩ và tính giáo dục cao. Do vậy, tôi hướng dẫn và cùng với học
sinh thực hiện các công việc sau đây:
- Trang trí lớp đẹp, hài hòa đảm bảo tính thẩm mĩ và tính giáo dục cao. Phần
trang trí lớp, tôi giao trực tiếp cho học sinh, mỗi bạn sẽ vẽ bức tranh theo chủ đề
tự chọn. Bức tranh nào đẹp sẽ được tuyên dương và dán vào góc học tập cuối
bảng lớp.
b) Nội quy lớp học:
NỘI QUY HỌC SINH
A .Kỉ luật, nề nếp:
1. Đi học đúng giờ, nghe hiệu lệnh trống xếp hàng tập thể dục. Nghỉ học
phải xin phép GVCN.
2. Duy trì nếp chào hỏi, lễ phép với người lớn, thầy cô.
3. Không mang tiền, đồ chơi, trang sức đến trường.
4. Lớp học phải sạch sẽ trong suốt buổi học, bàn ghế phải ngay ngắn,
không có học sinh xả rác bừa bãi.
5. Không đùa nghịch, chạy nhảy đá bóng trong lớp, trên hành lang và trên
cầu thang.
6. Mặc đồng phục theo đúng quy định của nhà trường.
B. Học tập:
1. Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng, sách vở trước khi đến lớp.
GV: Trần Thị Hằng Nga

7


Trường Tiểu học số 1 Phước Hòa


cuối hàng theo dõi thành viên trong lớp.
- Các em được xếp từ thấp đến cao, thời gian đầu giáo viên chủ nhiệm và cán bộ
lớp sắp xếp các con đúng vị trí. Sau một vài lần xếp chỗ các con nhớ vị trí của
mình và sắp xếp theo hàng.

GV: Trần Thị Hằng Nga

8


Trường Tiểu học số 1 Phước Hòa

- Mỗi khi xếp hàng và đi theo hàng các bạn cán bộ lớp theo dõi và nhắc nhở các
bạn đi trật tự, không chen lấn, xô đẩy, đùa giỡn gây ảnh hưởng thi đua của lớp.

Lớp 2A2 xếp hàng ra về giờ tan học
c) Xây dựng mối quan hệ thầy - trò và bạn bè trong lớp
* Xây dựng mối quan hệ thầy- trò:
Trước đây, quan hệ thầy, trò là quan hệ chịu ơn - ban ơn; bề trên - kẻ dưới;
giảng giải - ghi nhớ. Ngày nay, quan hệ này được thay bằng quan hệ phân cônghợp tác. Thầy thiết kế - trò thi công. Thầy làm mẫu, giao việc - trò làm theo mẫu
của thầy. Mỗi lời thầy nói ra phải là một “lệnh” (một lời giao việc). Do vậy, mọi
yêu cầu tôi đưa ra, học trò phải thi hành thật nghiêm. Ngay từ đầu, tôi yêu cầu
học trò phải cố gắng làm cho đúng. Nếu chưa đúng thì phải làm lại cho đúng
mới thôi. Đúng là đúng từ việc làm, nghiêm là nghiêm trong việc làm chứ không
phải ở thái độ khắt khe, gay gắt. Quan hệ cơ bản nhất của tôi và học trò là quan
hệ hợp tác làm việc: tôi giao việc- học trò làm; tôi hướng dẫn- học trò thực hiện.
- Khi giao việc, tôi chỉ nói một lần, nhưng chỉ nói khi lớp trật tự. Với cách
làm này, tự nhiên thầy sẽ trở nên nói ít, học trò sẽ làm nhiều. Làm việc như thế
GV: Trần Thị Hằng Nga


một học sinh quậy phá, hay lơ đãng không học bài, làm bài, tôi không phạt ngay
mà bình tĩnh chờ đến hết buổi học gặp riêng các em để hỏi cho rõ nguyên nhân.
Tôi nhẹ nhàng nhắc nhở, kèm thêm cho các em.
- Hàng ngày, tôi luôn khích lệ và biểu dương các em kịp thời, ca ngợi những
ưu điểm của các em nhiều hơn là phê bình khuyết điểm. Tôi cố tìm ra những ưu
điểm nhỏ nhất để khen ngợi động viên các em. Nhưng trong khi khen, tôi cũng
không quên chỉ ra những thiếu sót để các em khắc phục và ngày càng hoàn thiện
hơn.
- Khi nói chuyện, khi giảng, cũng như khi nghiêm khắc phê bình lỗi lầm của
học sinh, tôi luôn thể hiện cho các em thấy tình cảm yêu thương của một người
GV: Trần Thị Hằng Nga

10


Trường Tiểu học số 1 Phước Hòa

thầy đối với học trò. Theo qui luật phản hồi của tâm lí, tình cảm của thầy trước
sau cũng sẽ được đáp lại bằng tình cảm của học trò. Lòng nhân ái, bao dung, đức
vị tha của người thầy luôn có sức mạnh to lớn để giáo dục và cảm hóa học sinh.
Bên cạnh đó, giáo viên phải luôn vui vẻ, niềm nở, khi nhìn giáo viên vui vẻ, học
sinh cũng sẽ vui hồn nhiên. Người giáo viên phải dễ gần để học sinh có thể nói
chuyện, để các em muốn hỏi điều gì có thể hỏi giáo viên được ngay. Giáo viên
biết yêu quý học sinh, ngay cả với những học sinh không phải học tốt nhất lớp.
“Lớp học thân thiện” chỉ có được khi người thầy có tấm lòng nhân hậu, bao
dung, hết lòng vì học sinh thân yêu của mình. Có một người thầy như vậy thì
chắc chắn học sinh sẽ chăm ngoan, tích cực và ham học, thích đi học.
- Tôi luôn khuyến khích, động viên các em phải biết giúp đỡ bạn bè như khi
bạn ốm phải nghỉ học có thể giảng bài cho bạn, bạn quên bút sẵn sàng cho bạn
mượn....Tôi nhắc nhở các em biết nói lời cảm ơn khi ai đó giúp mình, phải biết

Thích sinh hoạt tập thể và tham gia các trò chơi bổ ích là nhu cầu, là sở
thích của hầu hết các học sinh tiểu học. Vì vậy, khi tổ chức cho các em sinh hoạt
tập thể và tham gia các trò chơi là giáo viên đã giúp các em “học mà chơi, chơi
mà học”, kiến thức và kĩ năng ở mỗi em sẽ được hình thành và rèn luyện một
cách nhẹ nhàng, tự nhiên, không gây căng thẳng, gò bó đối với các em. Tổ chức
sinh hoạt tập thể và vui chơi còn giúp các em phát triển và hoàn thiện nhân cách,
bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng tạo. Ngoài ra, việc tổ chức các hoạt động
tập thể còn là sợi dây gắn bó, kết nối, đoàn kết các em lại với nhau.
Các hoạt động sinh hoạt tập thể và một số trò chơi đơn giản, gọn nhẹ, tôi có
thể tổ chức ngay trong mỗi buổi học chính khóa và cả các buổi sinh hoạt ngoài
giờ lên lớp.
* Tổ chức các họat động sinh hoạt tập thể và vui chơi thông qua hoạt động
ngoài giờ lên lớp
Ở Tiểu học, giáo dục ngoài giờ lên lớp được qui định trong chương trình
chính khóa, không bắt buộc giáo viên chủ nhiệm phải lên tiết ngoài giờ lên lớp.
Nhưng nếu các hoạt động này chỉ diễn ra ở các tiết học chính khóa trên lớp thì
sẽ mất rất nhiều thời gian, nếu như giáo viên vận dụng và tổ chức không khéo
léo thì sẽ làm ảnh hưởng đến tiến trình giờ học. Do vậy, đối với những hoạt
động chiếm nhiều thời gian, cần nhiều sức lực, tôi tổ chức cho học sinh tham gia
mỗi tuần 1 buổi vào chiều thứ ba hàng tuần.
- Tổ chức cho học sinh ôn luyện kiến thức bằng các trò chơi như: Rung
chuông vàng, Hái hoa dân chủ, Thi tìm hiểu về An toàn giao thông,..Nội dung
thi được tôi soạn bằng gây được sự thích thú, hào hứng cho học sinh mỗi lần
tham gia.
- Cuối tuần các em được tham gia sinh hoạt Sao do các anh chị Đội viên phụ
trách. Các em được trả lời câu đố vui, được chơi các trò chơi dân gian.
Nhờ thường xuyên tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể và các trò chơi
cho cả lớp nên các em trở nên rất tự tin, rất năng động sáng tạo. Và điều quan
trọng là tôi đã thực sự xây dựng được một môi trường học tập thân thiện, học
sinh tích cực. Sĩ số của lớp tôi luôn đảm bảo, chất lượng học tập của học sinh .

- Sau mỗi tuần thi đua bầu chọn một học sinh tuyên dương trước lớp về mọi
mặt và nhận thưởng.
- Để tránh trường hợp một em nhận liên tục nhiều lần, theo qui ước 3 tuần
mới được nhận thưởng lại( nếu em đó điểm nhất tổ thì chọn em điểm nhì tổ..)
- Đặc biệt chú ý đến học sinh chậm trong học nhưng có tiến bộ vẫn được
khen thưởng.
g) Phối hợp với gia đình:
- Đầu năm, tôi phát cho mỗi em 01 quyển vở Dặn dò mục đích ghi những yêu
cầu của cô giao cho học sinh. Trong ngày bạn nào ngoan, có ý thức tốt sẽ được
cô khen và thông báo cho phụ huynh. Nếu bạn nào vi phạm lỗi: nói chuyện, đi
học muộn, đi dép lê tôi ghi lại vào vở để phụ huynh nắm được tình hình của con
mình để kịp thời nhắc nhở.
3) Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà

GV: Trần Thị Hằng Nga

13


Trường Tiểu học số 1 Phước Hòa

Một học sinh muốn có kết quả học tập tốt ngoài việc tiếp thu những kiến
thức ở trên lớp thôi chưa đủ mà việc học bài cũ, chuẩn bị bài mới tại nhà cũng
vô cùng quan trọng. Trong khi đó, tôi thấy điều kiện gia đình, không gian sống
của học sinh cũng như nhận thức của cả phụ huynh lẫn học sinh chỉ dừng lại ở
nhận thức học tại lớp là đủ.Và điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học
tập của các em. Muốn học sinh tự học ở nhà có kết quả thì các em phải có góc
học tập và mỗi em phải có phương pháp tự học ở nhà. Về phương pháp học tập,
tôi có thể hướng dẫn cho từng em. Nhưng còn góc học tập thì gia đình phải làm
cho con em của mình.

trọng của việc tự học ở nhà của con em mình, phối hợp với tôi trong việc dạy dỗ
và giáo dục các em nên người.
Khi các em đã có góc học tập, tôi yêu cầu mỗi em phải lập thời gian biểu
buổi chiều và buổi tối thật cụ thể, phù hợp với tình hình của gia đình và phải
được cha mẹ kí xác nhận. Thông qua thời gian biểu, tôi biết được chính xác thời
GV: Trần Thị Hằng Nga

14


Trường Tiểu học số 1 Phước Hòa

gian học bài ở nhà của từng em. Sau đây là mẫu thời gian biểu tôi làm mẫu để
hướng dẫn học sinh trong những buổi không học ở trường tự học ở nhà như sau:
THỜI GIAN BIỂU
Thời gian
1 giờ chiều
1 giờ 30 – 3 giờ
3 giờ - 4 giờ
4 giờ - 5 giờ
5 giờ - 7 giờ
7 giờ - 8 giờ
8 giờ - 9 giờ

Công việc
Thức dậy.
Học bài: học bài cũ và xem trước bài mới.
Làm việc nhà giúp đỡ cha mẹ.
Đi chơi thể thao.
Tắm rửa, ăn tối, chò chuyện với gia đình.


GV: Trần Thị Hằng Nga

15


Trường Tiểu học số 1 Phước Hòa

Bản thân giáo viên khi thấy lớp mình đạt được những mục tiêu mà mình đề
ra là một sự thành công lớn. Nhìn các em vui khi nhận phiếu thưởng, quà tặng;
thấy các em hăng hái thi đua học tốt, tích cực hoạt động phong trào tôi thực sự
thấy hạnh phúc, thấy vui cùng niềm vui của các em và sự phấn khởi của phụ
huynh học sinh . Đó chính là thành quả to lớn nhất mà người giáo viên nào cũng
mong muốn đạt được.

Theo tôi, muốn trở thành một nhà sư phạm, một giáo viên chủ nhiệm lớp
giỏi, khéo léo, tinh tế trong ứng xử và thành công trong việc giáo dục học sinh
thì mỗi người giáo viên chủ nhiệm cần phải:
- Tìm hiểu để biết được một cách toàn diện, sâu sắc về từng học sinh. Hiểu
rõ hoàn cảnh gia đình, đặc điểm tâm lí, tính cách, sở thích, thói quen,...của từng
học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp.
- Chú trọng xây dựng và bồi dưỡng Ban Cán sự lớp, huấn luyện để các em
trở thành những “người lãnh đạo nhỏ” tài ba.
- Phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu về nghệ thuật (vẽ, hát, múa, làm hoa…)
sẽ tăng thêm sự tự tin vào khả năng của chính bản thân mỗi học sinh.
- Luôn giữ được sự bình tĩnh trước lỗi lầm của học sinh, tìm hiểu cặn kẽ
thấu đáo nguyên nhân của mỗi tình huống xảy ra để có cách xử lí đúng đắn, hợp
tình, hợp lí; tránh trách nhầm, trách oan học sinh làm các em hoang mang, thiếu
niềm tin vào người thầy.
- Luôn biết khích lệ, biểu dương các em kịp thời. Hãy khen ngợi những ưu

GV: Trần Thị Hằng Nga

17


Trường Tiểu học số 1 Phước Hòa

Phước Hòa, ngày 26 tháng 11 năm 2016
Người viết :

Trần Thị Hằng Nga

NHẬN XÉT CỦA HĐXD SKKN
TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 PHƯỚC HÒA
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….

…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………….
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
................................................................................................................................

GV: Trần Thị Hằng Nga

19


Trường Tiểu học số 1 Phước Hòa

Sáng kiến kinh nghiệm của tôi là những biện pháp tôi đã làm cũng rất đỗi bình
thường. Nhưng kết quả đạt được lại rất khả quan. Rõ ràng qua cách làm này, tôi
thấy kết quả học tập của học sinh ngày càng tiến bộ rõ rệt. Các em ngày càng
chăm ngoan. Điều đó làm tôi rất vui mừng và vơi đi những vất vả, mệt nhọc.
Tình cảm thầy- trò, bạn bè ngày càng gắn bó và thân thiện .
Bản thân giáo viên khi thấy lớp mình đạt được những mục tiêu mà mình
đề ra là một sự thành công lớn. Nhìn các em vui khi nhận phiếu thưởng, quà
tặng; thấy các em hăng hái thi đua học tốt, tích cực hoạt động phong trào tôi
thực sự thấy hạnh phúc, thấy vui cùng niềm vui của các em và sự phấn khởi của
phụ huynh học sinh . Đó chính là thành quả to lớn nhất mà người giáo viên nào
cũng mong muốn đạt được. Sáng kiến kinh nghiệm của tôi là những biện pháp
tôi đã làm cũng rất đỗi bình thường. Nhưng kết quả đạt được lại rất khả quan.
Rõ ràng qua cách làm này, tôi thấy kết quả học tập của học sinh ngày càng tiến

Dạy học Tiếng Việt là dạy học tiếng mẹ đẻ. Dạy học Tiếng Việt giúp các
em hình thành 4 kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết. Phân môn Tập làm văn
trong môn Tiếng Việt hội tụ đủ 4 kỹ năng trên. Đối với HS lớp 2 thì đây là một
phân môn khó. Bởi ở lứa tuổi của các em, vốn kiến thức và hiểu biết còn hạn
hẹp. Bên cạnh đó còn có một số khó khăn khách quan như điều kiện, hoàn cảnh
sống của học sinh ở địa bàn dân cư lao động nghèo, gia đình không có điều kiện
để quan tâm đến các em, việc diễn đạt ngôn ngữ kém, việc tiếp thu kiến thức khá
chậm, học sinh nghèo vốn từ ngữ…Điều này ảnh hưởng nhiều đến việc học tập
nói chung, học phân môn Tập làm văn nói riêng.
2)Ý nghĩa và tác dụng :
Trong chương trình Tiếng Việt lớp 2, ngay từ đầu năm học, các em đựơc làm
quen với đoạn văn và được rèn kỹ năng viết đoạn văn. Trong quá trình làm bài,
tôi nhận thấy các em còn lúng túng, nhiều học sinh làm bài chưa đạt yêu cầu.
Các em thường lặp lại câu đã viết, dùng từ sai, có em viết không đúng yêu cầu
của đề bài hoặc có những bài làm đảm bảo về số câu nhưng viết không đủ ý.
Là một giáo viên giảng dạy ở lớp 2, tôi rất băn khoăn và trăn trở: Làm thế
nào để giúp các em thực hiện được mục tiêu đã đề ra? Bản thân tôi luôn cố gắng
để tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng học tập cho học sinh của lớp
mình. Đây là lý do tôi chọn và áp dụng “Kinh nghiệm viết đoạn văn trong
môn tập làm văn lớp 2”. Sau đây, tôi xin trình bày một số giải pháp mà bản
thân đã đúc kết được trong thời gian qua.
II- PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH:
1 . Cơ sở lí luận :
Ngôn ngữ dưới dạng viết giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát
triển của xã hội. Chính vì vậy, hướng dẫn học sinh học tốt phân môn Tập làm
văn là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ nặng nề đó phụ thuộc phần lớn vào việc giảng
dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng.
Như chúng ta đã biết, Tập làm văn có tầm quan trọng đặc biệt ở bậc tiểu
học. Nếu học sinh viết tốt bài Tập làm văn, đủ số lượng câu, đủ ý, diễn đạt rõ
ràng, hấp dẫn người đọc thì học sinh đó có điều kiện học tập tốt hơn môn Tiếng

đồng nghiệp, hi vọng sẽ góp một phần nhỏ bé của mình đem lại kết quả khả
quan cho học sinh. Để từ đó, giúp các em học sinh lớp 2 ngày càng viết văn hay
trong phân môn Tập làm văn hơn, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của
quá trình giáo dục.
Trong thực tế hiện nay, việc rèn cho học sinh viết đoạn văn hay chưa được
giáo viên chú tâm nhiều. Bên cạnh đó, nhiều học sinh khi viết bài còn viết bừa,
viết cẩu thả, không đúng yêu cầu, viết lan man, không đủ số câu, sai ý, trình bày
ý lộn xộn, thiếu tự nhiên, sai nhiều chính tả, … Hơn thế nữa, một số em thiếu tự
tin trong giờ Tập làm văn dễ dẫn đến hậu quả là các em chán nản, thiếu quyết
tâm trong học tập. Để khắc phục tình trạng này, đòi hỏi người giáo viên phải có
kinh nghiệm và sáng tạo trong giảng dạy, phải thật kiên trì và nhẫn nại, giúp học
sinh nhận thức được tầm quan trọng của môn học. Từ đó, giáo dục cho các em ý
thức rèn luyện bài viết của mình đạt yêu cầu cao hơn.
Khảo sát tình hình lớp khi chưa áp dụng đề tài như sau:
Sĩ số: 22 học sinh ở lớp 2B1
TSHS

Hoàn thành bài văn

Hoàn thành bài văn

tốt
22

TS
5

%
22,7 %


b) Phương pháp thực hành giao tiếp
Thông qua phương pháp quan sát, giáo viên rèn cho học sinh kỹ năng nói,
trình bày miệng bài nói, trước khi làm bài viết. Trên cơ sở đó, giáo viên điều
chỉnh giúp học sinh hoàn thiện bài viết. Với phương pháp này, tôi thường tổ
chức cho học sinh luyện nói cá nhân, luyện nói trong nhóm (HS có thể kết nhóm
theo ý thích, để có sự thoải mái tự nhiên, tự tin khi tham gia làm việc trong
nhóm).
c) Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Học sinh lớp 2 chưa được học về lý thuyết, ngữ pháp, các khái niệm từ và
câu được hình thành thông qua thực hành luyện tập. Chính vì vậy, việc tăng
cường sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ rất cần thiết trong giờ học Tập
làm văn. Sử dụng phương pháp này để giáo viên có cơ sở giúp học sinh nhận ra
cấu tạo câu, nhằm giúp các em viết câu đúng, đủ bộ phận, diễn đạt ý rõ ràng, dễ
hiểu.
Ví dụ:
Dựa vào các mẫu câu được học trong phân môn Luyện từ và câu: “ Ai – là
gì?”, “ Ai – làm gì?”, “ Ai – như thế nào?”, GV hướng dẫn HS nhận biết những
vấn đề sau:
- Câu văn của em viết ra đã đủ hai bộ phận chưa: Bộ phận trả lời cho câu
hỏi Ai?( hoặc Cái gì?/ Con gì)?, bộ phận trả lời cho câu hỏi Là gì (hoặc Làm gì?/
Như thế nào? ( Đó chính là đảm bảo về hình thức cấu tạo).
- Người đọc, người nghe có hiểu nội dung chưa? (Đảm bảo về mặt nghĩa)
Trên cơ sở đó, giáo viên hướng dẫn học sinh viết dấu chấm câu phù hợp khi hết
câu.
d) Phương pháp sử dụng từ ngữ trong câu
Với lứa tuổi của các em học sinh lớp 2, việc sử dụng từ ngữ trong bài tập
làm văn còn nhiều hạn chế. Hầu hết học sinh sử dụng từ ngữ chưa phù hợp, chưa
chính xác. Vì vậy, giáo viên cần cung cấp, giúp các em lựa chọn, phân tích để sử
dụng từ ngữ cho hợp lý. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần giới thiệu, cung cấp
thêm các từ đồng nghĩa phù hợp với bài văn.


II – MÔ TẢ GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI:
1- Thuyết minh tính mới của đề tài:
1.1 ) Về kỹ năng
Để tránh tình trạng học sinh không làm được bài hoặc viết lan man quá
nhiều câu dẫn đến lạc đề, giáo viên giúp học sinh cần biết làm như thế nào để
viết được một đoạn văn và cần phải viết những gì trong đoạn văn ấy.
a) Giúp HS có một hệ thống câu hỏi gợi ý rõ ràng
Trong chương trình, hầu hết các bài văn đều có câu hỏi gợi ý rõ, đầy đủ.
Giáo viên có thể tranh thủ thời gian cuối tiết học hướng dẫn học sinh chuẩn
bị, đọc câu hỏi gợi ý, suy nghĩ bài viết cho tiết sau. Hoặc chuẩn bị phần tự học
khi ở nhà, trước khi lên lớp. Đối với những bài không có câu hỏi gợi ý, giáo
viên có thể soạn, cung cấp cho các em.
Ví dụ:
ö Bài viết về một người thân:
- Người thân của em là ai?
- Năm nay người ấy bao nhiêu tuổi? Làm công việc gì?
- Tình cảm của người ấy đối với em ra sao?
- Em sẽ làm gì để đền đáp lại sự quan tâm của người ấy dành cho em?
ö Bài viết về một loại quả:
- Tên loại quả ấy là gì? Em đã nhìn thấy nó ở đâu?
- Hình dáng bên ngoài ra sao? Bên trong như thế nào?
- Vì sao em thích loại quả ấy?
ö Bài viết về một loài hoa:
- Loài hoa ấy có tên là gì? Em đã thấy ở đâu?
GV: Trần Thị Hằng Nga

24



Nhà em có nuôi một con chó tên là Ki Ki.

Phát triển: Kể về con
Nó có bộ lông màu vàng mượt như tơ. Đôi
chó
mắt của nó rất sáng và đôi tai vểnh lên trông
mới đáng yêu làm sao! Nó thường nằm
trước cửa để giữ nhà.
Câu kết thúc: Tình
Hằng ngày, em thường cho nó ăn. Em rất
cảm của em đối với yêu quý con chó của nhà em.
con chó này.
Giáo viên cần giúp cho học sinh hiểu có nhiều cách diễn đạt để bài làm
các em được phong phú, tránh tình trạng dạy học sinh làm văn mẫu. Cần chủ
động hình thành kỹ năng từng bước ở từng thời điểm thích hợp. Không nên áp
đặt và đòi hỏi các em phải thể hiện được ngay những kỹ năng mới được hình
GV: Trần Thị Hằng Nga

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status