TINH THẦN ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO, TRONG ĐƯỜNG
LỐI TIẾN HÀNH ĐỒNG THỜI HAI CHIẾN LƯỢC CÁCH MẠNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
============================
Việt Nam đánh Mỹ và thắng Mỹ là chiến công oanh liệt vào bậc nhất
của dân tộc ta, là một trong những sự kiện nổi bật của thế kỷ XX: “một
trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc và là một sự kiện có tầm
quan trọng quốc tế to lớn và có tính chất thời đại sâu sắc” 1. Cuộc chiến
tranh đã chấm dứt cách đây trên 40 năm, nhưng nhiều người trên thế giới
còn chưa hiểu nổi và chưa cắt nghĩa nổi “hiện tượng kỳ lạ” này. Câu hỏi
“vì sao Việt Nam thắng Mỹ” vẫn tiếp tục thu hút sự quan tâm của nhiều
chính khách và học giả, nhất là người Mỹ.
Đánh giá về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đại hội lần
thứ IV của Đảng (12-1976) đã nêu rõ, thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống Mỹ trước hết bắt nguồn từ đường lối độc lập, tự chủ, đúng đắn và
sáng tạo của Đảng, đường lối nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội...
Thực tế đã chứng minh: Sự lãnh đạo của Đảng trước hết bằng đường
lối, là nguồn gốc dẫn đến mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hơn 70
năm dưới lá cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cách mạng Việt
Nam liên tiếp giành được những thắng lợi to lớn, làm rạng rỡ truyền thống
dân tộc, khẳng định vị trí Việt Nam trên trường quốc tế. Từ chỗ là một xã
hội thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân sống cơ cực lầm than dưới gót giày
xâm lược, cách mạng tưởng như “trong đêm tối không có đường ra”, đến
nay đất nước đã hoàn toàn độc lập, đang vững bước trên con đường quá độ
1
ĐCSVN: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb ST, H,1977, tr.6.
2
Ph. Ăngghen- lãnh tụ thiên tài của giai cấp vô sản thế giới đã chỉ rõ:
Một dân tộc muốn giành độc lập cho mình thì không giới hạn trong những
phương thức thông thường để tiến hành chiến tranh, khởi nghĩa quần
chúng, chiến tranh cách mạng, các đội du kích ở khắp mọi nơi- đó là
phương thức duy nhất nhờ đó mà một nước nhỏ có thể chiến thắng được
một nước lớn, một đội quân ít mạnh hơn có thể chống trả được một đội
quân mạnh hơn. Vận dụng những quan điểm quân sự của chủ nghĩa MácLênin, kế thừa truyền thống đánh giặc của dân tộc và kinh nghiệm của các
nước, trên cơ sở đường lối chính trị đúng đán, Đảng ta đã sáng tạo ra
đường lối chiến tranh nhân dân, huy động được cả dân tộc vào cuộc kháng
chiến trường kỳ đầy khó khăn gian khổ, tạo nên sức mạnh tổng hợp để
nhấn chìm mọi bè lũ cướp nước và bán nước. Sau chín năm nêu cao tinh
thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đồng thời tranh thủ mọi khả năng và
sự giúp đỡ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo
sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đã làm lên thắng lợi Địên Biên phủ rạng rỡ
non sông, chấn động địa cầu, buộc đế quốc Pháp phải ký hiệp định
Giơnevơ (20-7-1954) chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và
Đông Dương. Với thắng lợi này đã chấm dứt ách đô hộ gần một trăm năm
của chủ nghĩa thực dân cũ trên đất nước ta, miền Bắc hoàn toàn độc lập, tạo
điều kiện thuận lợi tiến tới thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống thực
dân Pháp xâm lược, góp phần thúc đẩy thế chiến lược tiến công của các lực
lượng tiến bộ thế giới, làm cho lực lượng cách mạng thế giới vốn đang trên
đà phát triển, càng phát triển mạnh mẽ hơn, tạo ra cán cân so sánh lực
lượng giữa cách mạng và phản cách mạng ngày càng có lợi cho cách
mạng, tạo ra khả năng ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ hoà bình thế giới, thúc
4
5
hội đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam còn nằm dưới ách đô hộ của
chủ nghĩa thực dân mới, đời sống nhân dân cơ cực lầm than.
Sau những năm thực hiện những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân
tộc dân chủ nhân dân, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã
thu được nhiều thành tựu to lớn. Ở miền Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
mà trực tiếp là Đảng bộ miền Nam, cách mạng miền Nam từng bước vượt
qua khó khăn thử thách, đưa phong trào cách mạng từ thế giữ gìn lực lượng
sang thế chiến lược tiến công. Tình hình cách mạng đòi hỏi phải không
ngừng tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu hoạch định đường lối
đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển đi lên.
Đáp ứng yêu cầu của tình hình cách mạng, tiếp tục tư tưởng quan
điểm của hội nghị Bộ Chính trị tháng 9-1954, tháng 6-1956, Hội nghị Ban
chấp hành Trung ương 7 (3-1955), Hội nghị BCHTƯ 8 (8-1955). “Đề
cương cách mạng miền Nam” (1956), Hội nghị Ban chấp hành Trung ương
9 (6-1956), hội nghị BCHTU 12 (3-1957), Hội nghị BCHTU13 (12-1957),
Hội nghị BCHTU14 (11-1958) và Hội nghị BCHTU 15 (1-1959), Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, sau khi kiểm
điểm, phân tích đánh giá đặc điểm tình hình đất nước, đã xác định: "Nhiệm
vụ cách mạng của nhân dân trong giai đoạn hịên nay là: Tăng cường đoàn
kết toàn dân kiên quyết đấu tranh giữ gìn hoà bình đẩy mạnh cách mạng
XHCN ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân
chủ xây dựng một nước Việt Nam hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ và
giầu mạnh thiết thực góp phần tăng cường phe XHCN và hoà bình ở Đông
Nam Á và thế giới"2.
ĐHĐBTQ lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam- BCHTU Đảng Lao động Việt Nam xuất bản
1960, tr.35.
không cho phép chúng ta nhập cách mạng ở hai miền là một, mà bắt buộc
phải thực hiện hai chiến lược cách mạng khác nhau. Song quá trình vận
7
động giải quyết mâu thuẫn, nhiệm vụ, mục tiêu của mỗi miền đều tiến tới
nhằm giải quyết mâu thuẫn chung đó là: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc
Việt Nam với đế quốc Mỹ và tay sai của chúng, thực hiện nhiệm vụ chung
là giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc tiến tới mục tiêu thống nhất
nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước,
đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Từ sự khác nhau của hai chiến lược cách mạng đã tạo nên vị trí riêng
của mỗi chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vị trí quyết
định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước và đối với sự thống
nhất nước nhà bởi lẽ theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin: Trong chiến
tranh, hậu phương luôn là nhân tố quyết định tới thắng lợi, mà hậu phương
vững chắc nhất là hậu phương XHCN. Ở miền Bắc nước ta lúc này đã giành
được độc lập, hoàn thành sự nghiệp cải tạo XHCN, đẩy mạnh phát triển kinh
tế, văn hoá, xã hội, để tạo ra những nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật làm cho
miền Bắc mạnh lên về mọi mặt đủ sức bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở
miền Bắc, đồng thời chi viện đắc lực sức người sức của cho sự nghiệp giải
phóng miền Nam. Việc xây dựng CNXH ở miền Bắc còn thể hiện bản chất
ưu việt của chế độ xã hội mới, thật sự là niềm cổ vũ động viên nhân dân miền
Nam kiên quyết chiến đấu giải phóng miền Nam khỏi ách đô hộ của chủ
nghĩa đế quốc, đồng thời nó còn giữ định hướng cho cuộc đấu tranh của cách
mạng miền Nam trong hiện tại và trong tương lai của sự phát triển.
Trên thực tế, miền Bắc đã thật sự trở thành hậu phương lớn của cách
mạng miền Nam và của cả nước, tranh thủ điều kiện hoà bình, miền Bắc đã
không ngừng đẩy mạnh xây dựng đời sống mới, phát triển kinh tế, văn hoá,
Không có lý gì sau nhiều năm phấn đấu đầy hy sinh gian khổ, chúng ta chỉ
dừng lại ở điểm khởi đầu, càng không có lý gì, chúng ta đưa miền Bắc đi
theo con đường mà dân tộc đã từng phải đổ biết bao xương máu để loại bỏ
nó. Vì vậy, sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, miền
Bắc đi lên CNXH hoàn toàn chính xác. Điều này được chủ nghĩa MácLênin chỉ rõ: "Từ cách mạng dân chủ, chúng ta sẽ bắt đầu chuyển ngay và
chính là tuỳ theo lực lượng của chúng ta, lực lượng của giai cấp vô sản giác
ngộ và có tổ chức, mà chuyển ngay lên cách mạng XHCN, chúng ta chủ
11
trương làm cách mạng không ngừng, chúng ta quyết không dừng lại nửa
chừng"5.
Miền Bắc nước ta lúc này đã đáp ứng được những đòi hỏi của Lênin,
những điều kiện cho sự chuyển biến giai đoạn cách mạng cũng đã sãn sàng,
đó là: Có sự lãnh đạo của Đảng lao động Việt Nam, có chính quyền dân
chủ nhân dân sãn sàng làm nhiệm vụ của chuyên chính vô sản, có liên minh
công nông vững chắc được xây dựng trong thực tế đấu tranh cách mạng
làm nòng cốt để đoàn kết toàn dân phát huy tinh thần cách mạng, năng
động, sáng tạo kiên quyết thực hiện sự nghiệp cách mạng cao cả là xây
dựng CNXH. Đồng thời với tính cách mạng triệt để, cách mạng XHCN ở
miền Bắc luôn nhận được sự đoàn kết giúp đỡ của các nước XHCN anh
em, và các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Việc thực hiện xây dựng CNXH
ở miền Bắc còn là điều kiện cơ sở bảo đảm và phát huy thành quả của 30
năm đấu tranh không mệt mỏi của nhân dân miền Bắc nói riêng, cả dân tộc
ta nói chung, là việc trung thành và giải quyết thực hiện sáng tạo cương
lĩnh đầu tiên của Đảng trong điều kiện và hoàn cảnh mới.
Điều này hoàn toàn không trái với tính liên tục, tính giai đoạn trong
tư tưởng cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác- Lênin, mà là sự vận
dụng sáng tạo tư tưởng vĩ đại ấy trong hoàn cảnh mới: đất nước ta tạm thời
CNXH là: "Đoàn kết toàn dân phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn, truyền
thống chiến đấu anh dũng và lao động cần cù của nhân ta, đồng thời tăng
cường đoàn kết với các nước XHCN anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa
miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH xây dựng đời sống
ấm no hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh
cho cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng
cường phe XHCN bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới"6 .
Như thế, việc quyết định đưa miền Bắc đi lên CNXH là quyết định
đúng đắn sáng tạo của Đảng ta, được xác định trên cơ sở xem xét phân tích
đánh giá một cách khách quan khoa học tình hình mọi mặt của miền Bắc và
ĐHĐBTQ lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam- Văn kiện đại hội Tạp 1, BCHTU Đảng lao động
Việt Nam, xuất bản 1960, tr.179.
6
13
tình hình chung của cả nước cũng như tình hình thế giới, đặt cách mạng
XHCN ở miền Bắc trong mối quan hệ tổng thể cách mạng của cả nước và
trong việc giữ gìn hoà bình thế giới. Vấn đề này hoàn toàn không chịu ảnh
hưởng, không bị chi phối bởi cái gọi là "Thuyết noi gương" mà một số lực
lượng đã khuyên chúng ta rằng: "tập trung sức lực mọi mặt để xây dựng,
phát triển miền Bắc làm tấm gương cho miền Nam noi theo", bởi tư tưởng
này đã tách cách mạng miền Nam ra khỏi mối quan hệ với miền Bắc, tạo
nên sự độc lập tách rời giữa cách mạng hai miền. Điều này có thể do họ
còn hạn chế trong nhận thức, nhưng cũng rất có thể họ muốn kìm hãm sự
phát triển của cách mạng nước ta, muốn giữ nguyên trạng tình hình cách
mạng Việt Nam sau hiệp định Giơnevơ để thực hiện mưu đồ chính trị cuả
họ.
Ngược lại với "thuyết noi gương"đó, Đảng ta chủ trương đưa miền Bắc
nhất. Đây là đòi hỏi thực tế của xã hội miền Nam và là nguyện vọng thiết
tha của nhân dân miền Nam và của nhân dân cả nước.
Việc thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam
chính là việc tiếp tục quán triệt tư tưởng cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta,
nó phù hợp với lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin về tính liên tục, tính giai
đoạn của cách mạng và là việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân. Vì ở miền Nam lúc này chưa hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân, muốn xây dựng CNXH, muốn có cuộc sống ấm no hạnh phúc tất
yếu phải giành được độc lập dân tộc. Cho nên, việc tiến hành cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân lúc này ở miền Nam là trực tiếp giải quyết
những yêu cầu của giai đoạn trong tư tưởng cách mạng không ngừng của
chủ nghĩa Mác Lênin, là thực hiện quá trình "đào huyệt chôn chủ nghĩa tư
bản" và là quá trình đấu tranh để giai cấp công nhân "tự trở thành dân
15
tộc"...làm tiền đề cơ sở để bước vào giai đoạn thứ hai là xây dựng chủ
nghĩa xã hội.
Quá trình tiến hành và phát triển của cách mạng miền Nam là quá
trình đoàn kết tổ chức và phát triển các lực lượng chống Mỹ Diệm để phá
tan âm mưu chuẩn bị chiến tranh của chúng, duy trì và củng cố hoà bình,
chống lại chính sách độc tài phát xít và chính sách bần cùng hoá nhân dân
của chúng, đòi tự do dân chủ và cải thiện đời sống nhân dân, đồng thời
cũng là để chống ách nô dịch và âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta của
Mỹ Diệm đòi độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Đó là quá trình kết
hợp mục tiêu trước mắt với mục tiêu lâu dài của cách mạng, nhằm thực
hiện sứ mệnh thiêng liêng giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế
quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước tạo điều kiện đưa cả nước lên
hội III của Đảng chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: "Giải
phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và phong kiến, thực hiện
độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước Việt
Nam hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh"7.
Để thực hiện thắng lợi được nhiệm vụ mà đại hội III đặt ra, trước
mắt Đảng ta phải kiên quyết lãnh đạo cho được: "Đoàn kết toàn dân kiên
quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập
đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập
một chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập
dân tộc, các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững
hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ tích
cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới"8.
ĐHĐB toàn quốc lần thứ III của ĐLĐVN: VKĐH, tập 1, BCHTU Đảng lao động Việt Nam xuất bản
9-1960, tr. 176.
8
ĐHĐB toàn quốc lần thứ III của ĐLĐVN: VKĐH, tập 1, BCHTU Đảng lao động Việt Nam xuất bản
9-1960, tr. 177
7
17
Như vậy, việc xác định thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
ở miền Nam của Đảng ta hoàn toàn được dựa trên cơ sở khoa học, được xem
xét phân tích khách quan, toàn diện, dựa trên tình hình cụ thể của cách mạng
miền Nam, tình hình cách mạng cả nước và tình hình thế giới. Nó hoàn toàn
phù hợp với lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin về việc thực hiện sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân và đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, về tính
giai đoạn, tính liên tục trong tư tưởng cách mạng không ngừng. Việc kiên
quyết giải phóng miền Nam trong chủ trương của Đảng ta hoàn toàn không
Trong khó khăn phức tạp, tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo, tự lực,
tự cường của Đảng ta được phát huy tới cao độ. Vì thế mà trong hoàn cảnh
phức tạp của cuối những năm 50 đầu những năm 60 của thế kỷ XX, Đảng
ta đã đứng thẳng bằng chính khả năng sức lực của mình, của dân tộc mình,
vượt qua mọi sự khuyên can của các lực lượng khác nhau, với các ý đồ
khác nhau, để xây dựng nên một đường lối cách mạng khoa học có một
không hai trong lịch sử đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân thế
giới. Đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng
XHCN ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
Đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng là kết quả
của một quá trình đấu tranh kiên cường bất khuất của Đảng ta, thể hiện bản
lĩnh chính trị vững vàng, sáng tạo trong nắm bắt tình hình, phân tích đánh
giá điều kiện khả năng mọi mặt của tình hình cách mạng trong nước và cách
mạng thế giới. Không những chỉ trung thành mà còn vận dụng một cách
sáng tạo không dập khuôn máy móc những tư tưởng quan điểm cơ bản cốt
lõi của chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện thực tế đất nước, giải quyết
chính xác yêu cầu của lịch sử đặt ra, mang lại thành công to lớn cho cách
mạng.
19
Tính cách mạng, khoa học, sáng tạo của đường lối được thể hiện ở sự
kết hợp nhuần nhuyễn, tạo nên mối quan hệ tự nhiên bền chặt, tác động, hỗ
trợ lẫn nhau giữa hai chiến lược cách mạng; tạo nên sự phát triển đồng đều
của cả hai nhiệm vụ cách mạng, bởi lẽ: Hai chiến lược cách mạng khác nhau
được thực hiện ở hai miền đất nước có chế độ chính trị khác nhau nhưng lại
do một Đảng thống nhất lãnh đạo, một đội quân chính trị thực hịên trong cùng
một thời điểm trên một đất nước. Trên cả lý luận và thực tế chưa có tiền lệ.
Về mặt lý luận, chủ nghĩa Mác- Lênin đã đề cập rất nhiều tới tính
báu cho các Đảng cộng sản và phong trào công nhân thế giới trong sự
nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con
người, xây dựng xã hội mới, thực hiện tính triệt để cách mạng trong quá
trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Bởi lẽ: ở thời kỳ
đó, nhiều nước cũng ở điều kiện, hoàn cảnh tương tự như chúng ta, cũng bị
chia cắt thành hai miền đất nước, song vì lý do nào đó đã không xây dựng
được một đường lối phù hợp với điều kiện thực tế, đã dẫn đến một hệ quả
là đất nước bị chia cắt lâu dài, từ một quốc gia thống nhất đã trở thành hai
quốc gia riêng biệt với hai chế độ chính trị khác và xã hội khác nhau thậm
chí đối lập nhau, chẳng hạn như Đông Đức và Tây Đức, Nam và Bắc Triều
Tiên...
Như thế, rõ ràng là đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách
mạng của Đảng ta, đã thể hiện tính đúng đắn, độc lập tự chủ, sáng tạo, tự
lực, tự cường cao độ trong tiến trình đấu tranh cách mạng, trong hoạch định
đường lối cách mạng của Đảng ta. Nó thể hiện tính độc đáo sáng tạo có
một không hai trong lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Nó
xứng đáng là một cống hiến lớn lao trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải
phóng nhân loại và tiến bộ thế giới.
Đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng không chỉ
đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của lịch sử cách mạng Việt Nam, đáp ứng nguỵên
21
vọng tha thiết của nhân dân Việt Nam mà nó còn thoả mãn đầy đủ các nhu
cầu, yếu tố thời đại. Không chỉ là sự vận dụng trung thành sáng tạo lý luận
chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh mà nó còn góp phần bổ sung,
phất triển làm phong phú thêm những tư tưởng vĩ đaị ấy. Không chỉ nhằm
thực hiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mà còn góp phần
làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc, đẩy lùi chiến tranh, bảo vệ hoà bình khu
kinh tế là: "Bệnh chủ quan, duy ý trí, lối suy nghĩ hành động giản đơn,
nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan là khuynh hướng buông lỏng
trong quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và
nguyên tắc của Đảng. Đó là tư tưởng tiểu tư sản vừa "tả" khuynh vừa
"Hữu" khuynh"9 Nhưng sai lầm đó đã gây nên hoạc làm trầm trọng thêm
tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội, không phát huy đầy đủ tính chủ
động sáng tạo của quần chúng, không tạo ra được động lực thúc đẩy sự
phát triển năng động của nền kinh tế xã hội.
Thực chất ở đây, chính là chúng ta đã vi phạm những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH và con
đường lên CNXH, chúng ta đã vận dụng, áp dụng máy móc thiếu cơ sở
khoa học những tư tưởng vĩ đại ấy và những mô hình cụ thể chưa phù hợp
với điều kiện hoàn cảnh nước ta.
Những đòi hỏi từ thực tiễn đất nước cùng với những thay đổi to lớn của
tình hình thế giới cũng như thay đổi trong quan hệ giữa các nước do tác động
mạnh mẽ của cuộc cách mạnh khoa học công nghệ, nhất là trước những
khủng hoảng trầm trọng của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã đòi
hỏi chúng ta cần phải đổi mới và nó trở thành vấn đề có ý nghĩa sống còn, cấp
bách với cách mạng nước ta, đồng thời phù hợp với xu thế chung của thời đại.
Trong khó khăn phức tạp, bài học về độc lập tự chủ, sáng tạo, tự lực,
tự cường lại trở lên sống động và được phát huy đến cao độ. Tiếp nối
9
ĐCSVN: Văn kiện đại hội Đảng bộ toàn quốc lần thứ VI, Nxb ST, H1987, tr.26.
23
những tư tưởng cách mạng và khoa học trong đường lối tiến hành đồng thời
hai chiến lược cách mạng cũng như chính quá trình đấu tranh hoạch định
24
trình xây dựng và thực hiện, các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội xét lại
được dịp vùng dậy đòi xem xét lại những giá trị hiện thực của chủ nghĩa
Mác- Lênin, về chủ nghĩa xã hội. Với nước ta chúng tìm mọi cách để xuyên
tạc chủ trương chính sách, đường lối của Đảng, phủ nhận những thành tựu
cách mạng mà nhân dân ta đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong
đó có đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng. Dựa vào sự
sát nhập giữa cộng hoà dân chủ Đức và cộng hoà liên bang Đức, và những
tiến triển trong quan hệ ngoại giữa Nam Bắc Triều Tiên... họ lớn tiếng phê
phán rằng: Đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng do đại
hội III đề ra là sai lầm nên đã làm cho cả dân tộc phải tốn kém tiền của và
công sức, phải chịu nhiều hy sinh gian khổ và mất mát mà hậu qủa của nó
tới ngày nay vẫn chưa khắc phục hết. Họ cho rằng, vì lựa chọn con đường
độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội mà đất nước ta đã phải tổn thất
quá nhiều xương máu và của cải trong hai cuộc chiến tranh giải phóng. Họ
lập luận rằng, không tiến hành chiến tranh, không phải đổ máu, chúng ta
cũng có thể giành được độc lập như Ấn Độ, hoặc họ cho rằng xu thế của
thời đại sẽ không cho một dân tộc này cai trị một dân tộc khác, chúng ta sẽ
được “trao trả” độc lập. Dù họ không hiểu hay cố tình phủ nhận lịch sử với
mục đích chính trị đen tối thì cũng là sự xúc phạm tới sự hy sinh cao cả của
hàng triệu người con đất Việt đã ngã xuống vì độc lập tự do của Tổ quốc.
Đắng cay hơn, những quan điểm này còn là sự phủ nhận cả truyền thống
văn hoá giữ nước đã được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc
ta, truyền thống đó được nâng lên một tầm cao mới ở thời đại Hồ Chí Minh
là: “Không, chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ”. Trên thực tế, sự hy sinh xương máu không thể tính
bằng tiền của hơn 1 triệu 100 nghìn liệt sĩ, 600 nghìn thương binh trong
cuộc chiến tranh giải phóng ấy đã góp phần quan trọng làm sụp đổ cả chủ
hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân quyết tâm đánh thắng đế quốc