TIỂU LUẬN TINH THẦN độc lập, tự CHỦ, SÁNG tạo của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM TRONG HOẠCH ĐỊNH ĐƯỜNG lối đổi mới (1979 1985) - Pdf 40

Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
hoạch định đường lối đổi mới (1979 - 1986)
1. Quá trình hình thành đường lối đổi mới (1979 - 1985)
1. 1. Tình hình thế giới và trong nước đặt ra yêu cầu đổi mới đất nước
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, cách mạng
nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc. Song, tình hình kinh tế - xã hội trong nước còn rất
nhiều khó khăn. Vào cuối năm 1979 đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng. Yêu cầu bức thiết là đưa đất nước ra khỏi tình trạng trên, ổn
định đời sống nhân dân. Trong khi đó, tình hình thế giới có nhiều biến động
phức tạp ảnh hưởng đến cách mạng nước ta (sự phát triển của cách mạng khoa
học - công nghệ; sự điều chỉnh thích nghi của chủ nghĩa tư bản; xu thế chung
của các nước xã hội chủ nghĩa là cải tổ, cải cách đổi mới). Trong điều kiện tình
hình trong nước và thế giới có nhiều biến động như vậy, đòi hỏi Đảng và nhân
dân ta phải suy nghĩ, tìm tòi con đường đổi mới để tháo gỡ khó khăn, đưa đất
nước đi lên. Từ những tìm tòi, sáng tạo ở địa phương, cơ sở, Đảng đã đề ra chủ
trương có tính chất đổi mới từng phần. Những đổi mới này có vị trí rất quan
trọng đối với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam.
1. 2. Quá trình tìm tòi đường lối đổi mới và tiến hành đổi mới từng
phần của Đảng
Tháng 8/1979 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khoá IV,
đã họp ra Nghị quyết bàn về những vấn đề cấp bách của tình hình kinh tế - xã
hội đất nước. Đây là bước đột phá đầu tiên của quá trình tìm tòi, cải tiến quản
lý kinh tế, thử nghiệm cách làm ăn mới. Hội nghị đã có những đổi mới tư duy
quan trọng, thể hiện trên những nội dung cơ bản về cơ chế quản lý kinh tế, về
những chính sách phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu, trước hết là sản xuất nông nghiệp.


2
Hội nghị cũng xác định rõ phải tận dụng các thành phần kinh tế ngoài
quốc doanh và tập thể, kể cả kinh tế tư bản tư nhân để phát triển sản xuất, kết

chững lại, do vẫn còn có những hạn chế, bất cập.
Trong lĩnh vực công nghiệp, trên cơ sở tổng kết các hiện tượng “xé
rào” và làm thí điểm nhằm phát triển công nghiệp, nhất là ở thành phố Hồ Chí
Minh và Long An, ngày 21/01/1981 Chính phủ đã ban hành Quyết định
25/CP về quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài
chính của các xí nghiệp quốc doanh. Cùng ngày 21/01/1981 Hội đồng Chính
phủ ban hành Quyết định 26/CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán,
lương sản phẩm và vận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất
kinh doanh của Nhà nước. Những chủ trương, chính sách nêu trên giúp các cơ
sở tự giải quyết một phần khó khăn, góp phần thực hiện kế hoạch Nhà nước.
Năm 1981, lần đầu tiên sau chiến tranh sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch,
riêng công nghiệp địa phương vượt kế hoạch 7,5%.
Trên mặt trận phân phối, lưu thông, ngày 23/6/1980 Bộ Chính trị ra
Nghị quyết 26/NQ - TW về cải tiến công tác phân phối, lưu thông. Nghị quyết
nhấn mạnh nguyên tắc giá cả phù hợp với chi phí sản xuất và lưu thông; tạo
tiền đề cần thiết để tiến tới xoá bỏ từng bước chế độ cung cấp theo tem phiếu.
Cùng với những chủ trương đổi mới từng phần trên lĩnh vực kinh tế xã hội, Đảng còn quan tâm kiện toàn bộ máy Nhà nước và tăng cường công
tác xây dựng Đảng.
Đến đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng, so với Đại hội IV,
Đại hội V diễn ra trong bối cảnh thế giới và trong nước có một số mặt thuận
lợi, nhưng cũng có nhiều khó khăn, phức tạp hơn.
Đầu những năm 80 của thế kỷ XX cách mạng thế giới tiếp tục phát triển,
sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa, của các lực lượng cách mạng tiến bộ
trên thế giới tạo cho ta điều kiện thuận lợi. Đất nước ta trải qua 5 năm thực hiện
Nghị quyết Đại hội IV đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong xây dựng
chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, tạo thêm thế và lực mới cho cách mạng Việt
Nam. Tuy nhiên, đất nước ta đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Chủ


4


5
dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, làm cho Đảng luôn
luôn giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, một Đảng thực sự trong sạch,
vững mạnh, gắn bó chặt chẽ với quần chúng.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã có những bước phát
triển nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta. Thành công của Đại hội đánh dấu sự trưởng thành của Đảng trong
việc thực hiện vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả
nước, về năng lực cụ thể hoá đường lối, tiếp tục sự tìm tòi tổng kết thực tiễn
để xác định bước đi, giải pháp phù hợp đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã
hội.
- Bước phát triển mới của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Xuất phát từ thực trạng đất nước vừa có hoà bình, vừa có chiến tranh
phá hoại nhiều mặt của kẻ thù, đồng thời sẵn sàng đối phó với tình huống địch
có thể gây chiến tranh xâm lược với quy mô lớn.
Đại hội V xác định cách mạng Việt Nam có hai nhiệm vụ chiến lược đó
là: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hai nhiệm vụ chiến lược mà Đại hội V xác định là sự kế thừa và phát
triển quan điểm của Đại hội IV về mối quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở đánh giá đúng những chuyển biến của tình
hình trong nước và thế giới.
Hai nhiệm vụ chiến lược mà Đại hội V xác định phản ánh quy luật
dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta trong thời đại mới, phù hợp với
quy luật phổ biến của cách mạng xã hội chủ nghĩa là xây dựng chủ nghĩa xã
hội đi đôi với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ mật thiết với nhau. Phải xây dựng
chủ nghĩa xã hội đạt những kết quả thiết thực làm cho đất nước ta mạnh lên về

Việc khẳng định trên thực tế cách mạng nước ta đang ở chỗ nào trên
con đường tiến lên có ý nghĩa quyết định việc tìm ra và nắm vững quy luật
1
2

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb ST, H, 1982, tr. 47.
Sđd, tr. 49.


7
khách quan, là cơ sở để cụ thể hoá đường lối, xác định chủ trương, chính sách
phù hợp với thực tiễn cách mạng, chống chủ quan, nôn nóng, đốt cháy giai
đoạn. Đại hội V chỉ rõ: “kinh nghiệm của 5 năm (1976 - 1980) cho thấy phải
cụ thể hoá đường lối của Đảng - đường lối chung của cách mạng xã hội chủ
nghĩa và đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta, vạch ra
chiến lược kinh tế, xã hội cho chặng đường đầu tiên của quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa”3.
Đảng ta sớm nhận thức đúng đắn công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là
nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, nội
dung chính của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên
là: “tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận
hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lớn lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra
sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành
công nghiệp nặng quan trọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp, hàng tiêu
dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý”4.
Nội dung đó phản ánh đúng nội dung bước đi của công nghiệp hoá xã
hội chủ nghĩa, phù hợp với thực tiễn nước ta, là cơ sở để thực hiện nhiệm vụ
chủ yếu của chặng đường đầu tiên là tạo ra những tiền đề cần thiết cho việc
đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo. Tuy
nhiên, Đảng đã mắc phải sai lầm, nóng vội, đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội

kinh tế 2 năm (1984 - 1985). Hội nghị lần thứ 6 (7/1984) tập trung bàn về
những nhiệm vụ cấp bách trong công tác cải tiến quản lý kinh tế (xoá bỏ cơ
chế hành chính, tập trung, quan liêu, bao cấp chuyển sang cơ chế hạch toán
kinh doanh xã hội chủ nghĩa; mở rộng quyền chủ động sản xuất kinh doanh ở
cơ sở). Hội nghị chủ trương tập trung giải quyết một số vấn đề cấp bách về
phân phối lưu thông, đặc biệt lĩnh vực lương, tiền phục vụ cơ sở: đẩy mạnh
thu mua nắm nguồn hàng, quản lý chặt chẽ thị trường tự do; thực hiện điều
chỉnh giá cả, tiền lương, tài chính cho phù hợp với thực tế. Hội nghị lần thứ 7
(12/1984) bàn về kế hoạch Nhà nước năm 1985. Hội nghị lần thứ 8 (6/1985)
bàn về vấn đề giá, lương, tiền. Hội nghị chủ trương dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, chuyển hẳn nền kinh tế sang hạch toán kinh doanh xã
hội chủ nghĩa, khâu đột phá có tính quyết định là xoá bỏ bao cấp trong giá và
lương, đây là bước đột phá thứ hai trong quá trình tìm tòi, đổi mới con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hội nghị này đánh dấu sự đổi mới tư duy một
cách căn bản trên lĩnh vực phân phối lưu thông của Đảng. Tinh thần cơ bản là


9
thừa nhận sản xuất hàng hoá, coi trọng thị trường. Sau Hội nghị Trung ương
lần thứ 8 (14/09/1985) Chính phủ tiến hành cuộc tổng điều chỉnh giá, lương,
tiền lần thứ hai, bắt đầu từ việc đổi tiền, ban hành một số giá mới và lương
mới, xoá bỏ hoàn toàn giá cung cấp và chế độ tem phiếu, chỉ giữ lại sổ gạo
cho người hưởng lương. Chủ trương đổi tiền nhằm tăng khả năng chi trả của
Ngân hàng bảo đảm yêu cầu đủ tiền cho tăng lương, tăng giá.
Đánh giá về cuộc cải cách giá, lương, tiền lần hai các Hội nghị Ban
Chấp hành Trung ương lần thứ 9 (12/1985) và lần thứ 10 (05/1986) đều cho
rằng: Việc khẳng định một lần nữa sự đúng đắn của chủ trương bù giá, thực
hiện chính sách bán lẻ theo một giá là cần thiết, phù hợp với quy luật của nền
sản xuất hàng hoá, nhưng vội vàng đổi tiền và tổng điều chỉnh giá, lương trong
tình hình chưa chuẩn bị sẵn sàng về mọi mặt là một sai lầm. Hậu quả lớn nhất

tập trung quan liêu bao cấp, đồng thời nêu lên nội dung chủ yếu của cơ chế
quản lý kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Những kết luận trên đây của Bộ Chính trị là cơ sở để đổi mới và hoàn
chỉnh dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội VI, là căn cứ để giải quyết
những vấn đề cấp bách trước mắt, đồng thời là sự đổi mới tư duy về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Tiếp theo những đổi mới từng phần ban đầu thời kỳ (1979 - 1981), thời kỳ
(1981 - 1985) là thời kỳ tiếp tục đổi mới từng phần nhưng toàn diện hơn, không
dừng lại ở đổi mới kinh tế mà còn đổi mới tư duy lý luận, tuy nhiên vẫn chủ yếu là
đổi mới kinh tế. Đó là quá trình tìm tòi con đường thích hợp lên chủ nghĩa xã hội.
2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đề ra
đường lối đổi mới toàn diện đất nước.
* Khái quát bối cảnh lịch sử
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng được tiến hành tại Thủ
đô Hà Nội từ (15 đến 18/12/1986). Đại hội diễn ra trong bối cảnh tình hình
thế giới và trong nước có nhiều biến đổi nhanh chóng, phức tạp.
- Tình hình thế giới: Chủ nghĩa xã hội thế giới hơn 70 năm qua đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn trên nhiều mặt, song cũng đang đứng trước nhiều


11
thách thức to lớn. Nhiều nước đang tiến hành công cuộc cải tổ, cải cách và đổi
mới nhằm khắc phục sự trì trệ của chủ nghĩa xã hội, đưa chủ nghĩa xã hội vào
giai đoạn phát triển mới.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại phát triển nhanh đã tạo
ra bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất đẩy nhanh quá trình quốc
tế hoá sản xuất vật chất và đời sống xã hội. Xu thế chung trên thế giới là đấu
tranh và hợp tác cùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị khác
nhau và đòi hỏi các quốc gia dân tộc phải tiến hành cải cách thể chế, cơ cấu
kinh tế và điều chỉnh chiến lược.

- Diễn biến của Đại hội VI
Trên cơ sở đánh giá nêu bật những thành tựu quan trọng trong 5 năm
(1981 - 1985), nghiêm khắc chỉ ra những khuyết điểm sai lầm còn mắc phải.
Đồng thời, chỉ ra nguồn gốc những sai lầm, khuyết điểm đó. Đại hội rút ra
bốn bài học kinh nghiệm lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của
Đảng từ đó về sau.
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy
dân làm gốc” chăm lo xây dựng phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hoạt động
theo quy luật khách quan.
Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trọng
điều kiện mới.
Bốn là, chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một Đảng cầm quyền
lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương còn xác định rõ quan
điểm chỉ đạo công cuộc đổi mới, xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát,
nhiệm vụ cụ thể và hệ thống các giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu nói trên.
Đại hội thông qua phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế xã
hội 5 năm (1986 - 1990).
* Nội dung cơ bản của đường lối đổi mới.
- Quan điểm chỉ đạo.


13
Đổi mới là tất yếu khách quan, là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách
mạng nước ta, là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, đối với cách
mạng Việt Nam. Chỉ có đổi mới Đảng ta mới thấy hết được những nhân tố
mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa, nhằm vận dụng đúng đắn chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh nước ta, phát huy
truyền thống dân tộc động viên tính năng động sáng tạo của nhân dân ta trong

Trên cơ sở nhiệm vụ bao trùm mục tiêu tổng quát, Đại hội đề ra 5 mục
tiêu cụ thể trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là:
Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ. Mục tiêu này gắn ổn định và cải
thiện đời sống của nhân dân với sản xuất và tích lũy. Sản xuất đủ tiều dùng
trong những năm trước mắt là hướng mọi cố gắng vào việc đáp ứng những
nhu cầu cấp bách và thiết yếu của xã hội dần dần ổn định và tiến lên cải thiện
một bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đi đôi với bảo đảm yêu
cầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân để đủ sức tiếp nhận và đưa vào
tái sản xuất mở rộng vốn vay và viện trợ của nước ngoài.
Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý là vấn đề có ý nghĩa quan
trọng để phát triển sản xuất. Trước hết là cơ cấu các ngành kinh tế phải phù
hợp với tính quy luật về phát triển các ngành sản xuất vật chất, phù hợp với
khả năng đất nước, với sự phân công lao động hợp tác quốc tế. Cơ cấu kinh tế
đó phải đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối với nhịp độ tăng trưởng ổn
định, hướng vào việc thực hiện ba chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực
phẩm, hàng tiêu dùng và xuất khẩu.
Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với
tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trên cơ sở trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng
quan hệ sản xuất mới diễn ra trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Tạo ra chuyển biến tốt về mọi mặt và bảo đảm nhu cầu củng cố quốc
phòng và an ninh.
Những mục tiêu trên là một tổng thể gắn bó chặt chẽ với nhau, bao quát
mọi lĩnh vực từ sản xuất đến phân phối lưu thông, từ lực lượng sản xuất đến
quan hệ sản xuất, từ kinh tế đời sống đến quốc phòng an ninh. Những mục tiêu
đó phù hợp quy luật đi lên trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên


15
chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng thời, những mục tiêu đó xuất phát từ đường

16
mạnh phải xây dựng Đảng thực sự ngang tầm với một Đảng cầm quyền, có
trọng trách lãnh đạo toàn xã hội thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược.
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách
mạng Việt Nam. Để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng
bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng ngang tầm nhiệm vụ giai đoạn mới, Đại
hội chủ trương đổi mới công tác xây dựng Đảng gồm những nội dung sau:
Đổi mới tư duy, nâng cao phẩm chất cách mạng của người cán bộ, đảng
viên.
Đổi mới đội ngũ cán bộ, kiện toàn các cơ quan lãnh đạo và quản lý.
Đổi mới phong cách làm việc, giữ vững nguyên tắc tổ chức sinh hoạt
trong Đảng.
Nâng cao chất lượng đảng viên, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực.
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng.
Tăng cường đoàn kết nhất trí trong Đảng.
Đường lối đổi mới do Đại hội lần thứ VI của Đảng xác định, đó là
đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để. Đường lối đó là sản phẩm
của ý Đảng lòng dân, được Đảng ta tìm tòi, tổng kết thông qua các phong trào
cách mạng của quần chúng, dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh. Do đó, đường lối đổi mới sớm được thực hiện hoá, mang lại kết
quả trong cuộc sống, mở ra bước ngoặt phát triển mới của cách mạng Việt
Nam.
3. Giá trị lịch sử và hiện thực.
Với thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật,
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đã tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết
Đại hội V và 10 năm đầu cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội đã chỉ
ra những thành tựu, những khó khăn về kinh tế, xã hội, phân tích nguyên nhân
của nó và rút ra những bài học kinh nghiệm quý.
Đổi mới từng phần trong những năm từ (1979 - 1981) là những chủ
trương, giải pháp mang tính tình thế, nhằm tháo gỡ những khó khăn trước

Tây Nguyên có tiến bộ trong sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới. Cùng với
việc áp dụng những thành tựu về khoa học, kỹ thuật, việc thực hiện chính


18
sách khoán sản phẩm trong nông nghiệp, tuy chưa hoàn thiện nhưng đã góp
phần quan trọng tạo nên bước phát triển của sản xuất nông nghiệp, mở ra
phương hướng đúng đắn cho việc củng cố quan hệ kinh tế tập thể ở nông
thôn.
Nhà nước và nhân dân ta cố gắng chăm lo bảo đảm các nhu cầu của
quốc phòng an ninh, thi hành chính sách hậu phương quân đội.
Tình hình đời sống, văn hoá, xã hội có chuyển biến tích cực. Sự nghiệp
văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, văn học, nghệ thuật phát triển và có
những đóng góp nhất định vào việc xây dựng nền văn hoá mới, con người
mới.
Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị và làm nghĩa
vụ quốc tế của quân và dân ta đã giành thêm những thắng lợi to lớn.
Sau khi đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới phái Tây
Nam và biên giới phía Bắc, chúng ta đã làm thất bại thêm một bước quan
trọng âm mưu của bọn bá quyền chống nước ta, củng cố hơn nữa khả năng
quốc phòng của đất nước. Chúng ta đã tăng cường thế phòng thủ ở biên giới
phía Bắc, chiến đấu ngăn chặn địch lấn chiếm có hiệu quả. Đã làm thất bại
một bước chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch. Việc xây dựng nền quốc
phòng toàn dân đạt kết quả đáng kể trên một số mặt: củng cố thế trận chiến
tranh nhân dân, củng cố cơ sở chính trị ở những địa bàn xung yếu, xây dựng
lực lượng vũ trang có tiến bộ.
Quân và dân ta tiếp tục thực hiện nghĩa vụ quốc tế đối với Lào và
Campuchia, củng cố liên minh chiến lược Việt Nam - Lào - Campuchia, tăng
cường thế và lực cách mạng của cả ba nước trên bán đảo Đông Dương.
Những thành tựu trên bắt nguồn từ đường lối chung và đường lối kinh

giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế - xã hội của đất nước đã có nhiều thiếu
sót. Do đó, trong nhiều năm qua, đã vi phạm nhiều sai lầm trong việc xác định
mục tiêu, bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa
và quản lý kinh tế. Đại hội IV của Đảng chưa xác định được chặng đường đầu
tiên và mục tiêu của nó, trong những năm (1976 - 1980) đã nóng vội đẩy mạnh
công nghiệp hoá khi chưa đủ các tiền đề cần thiết. Đại hội lần thứ V đã cụ thể


20
hoá một bước đường lối kinh tế trong chặng đường trước mắt, nhưng trong chỉ
đạo thực hiện đã không quán triệt và thực hiện tốt, chưa kiên quyết khắc phục
tư tưởng nóng vội, bảo thủ, thể hiện chủ yếu trong các chủ trương về cơ cấu
kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và cơ chế quản lý kinh tế.
Về bố trí cơ cấu kinh tế: Việc bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu
sản xuất và cơ cấu đầu tư có nhiều sai lầm. Trong những năm (1976 - 1980)
đã thiên về phát triển công nghiệp nặng và những công trình có quy mô lớn,
không tập trung sức giải quyết căn bản các vấn đề lương thực, thực phẩm,
phát triển sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Kết quả đầu tư nhiều
nhưng hiệu quả thấp. Trên cơ sở xác định nội dung chính của công nghiệp
hoá, Đại hội lần thứ V đã chủ trương bố trí lại cơ cấu kinh tế, nhưng trên thực
tế đã không chấp hành nghiêm chỉnh Nghị quyết của Đại hội lần thứ V. Nông
nghiệp chưa thực sự được coi là mặt trận hàng đầu.
Về cải tạo xã hội chủ nghĩa, củng cố quan hệ sản xuất mới: Chưa xác
định rõ ràng, nhất quán những quan điểm, chủ trương và chính sách chỉ đạo
công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, nóng nội trong xác định mục tiêu, bước
đi. Về nội dung cải tạo quan hệ sản xuất thường nhấn mạnh việc thay đổi
quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất mà không coi trọng giải quyết các vấn đề
tổ chức quản lý và chế độ phân phối. Về cách làm lại theo kiểu chiến dịch, gò
ép, chạy theo số lượng. Trên thực tế trong nhận thức và hành động chúng ta
chưa thực sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, chưa nắm vững và

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, quần chúng là người làm nên
lịch sử. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” vốn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc
trong quá trình dựng nước và giữ nước. Ngày nay Đảng ta lãnh đạo nhân dân
ta làm cách mạng không có mục đích nào khác là vì hạnh phúc của nhân dân.
Nhân dân ta rất cách mạng và có phẩm chất rất quý báu, sức mạnh của cách
mạng chính là sức mạnh của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mọi thành
tựu hay khó khăn của cách mạng đều do Đảng có xây dựng được mối quan hệ
mật thiết với nhân dân hay không, có tập hợp và phát huy được sức mạnh của
nhân dân hay không.
6

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb ST, H, 1987, tr. 26.


22
Để giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng thì
trong mọi hoạt động của mình Đảng phải luôn quán triệt tư tưởng “lấy dân làm
gốc”. Trong điều kiện Đảng cầm quyền phải đặc biệt chăm lo củng cố sự liên
hệ giữa Đảng và nhân dân, ngăn ngừa và khắc phục chủ nghĩa quan liêu. Mọi
đảng viên cộng sản phải thực sự là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung
thành của nhân dân. Mọi chủ trương chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi
ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự
đồng tình, hưởng ứng của quần chúng. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần
chúng, đi ngược lại lợi ích của nhân dân là làm suy yếu sức mạnh của Đảng.
Hai là, Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động
theo quy luật khách quan.
Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện bảo đảm
cho sự lãnh đạo đứng đắn của Đảng. Để khắc phục được khuyết điểm, chuyển
biến được tình hình, Đảng ta trước hết phải thay đổi nhận thức, đổi mới tư
duy. Phải nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống quy luật

Sau thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,
Đảng đã kịp thời lãnh đạo thực hiện bước chuyển giai đoạn cách mạng đưa cả
nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Thời kỳ (1975 - 1985) Đảng có ưu điểm và thành tựu trong hoạch định
đường lối, trong lãnh dạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng đã có cố gắng
tìm tòi, đổi mới từng phần, từng bước hình thành tư duy mới về chủ nghĩa xã
hội và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, thời kỳ này
Đảng còn bộc lộ sự lạc hậu trong nhận thức lý luận, vừa khuynh hướng, hữu
khuynh trong tổ chức thực hiện.
Từ những thành tựu và những khuyết điểm, sai lầm Đảng đã rút ra
những bài học kinh nghiệm quý, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, là cơ
sở hình thành đường lối đổi mới toàn diện được xác định ở Đại hội Đại biểu
toàn quốc lần thứ VI của Đảng.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng là Đại hội đổi mới, xác
định đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt cho sự phát triển mới của
cách mạng Việt Nam.


24
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ ra lối thoát cho
cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm, đặt nền tảng cho việc
tìm ra con đường thích hợp quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đường lối đổi mới do Đại hội lần thứ VI của Đảng xác định, đáp ứng
được yêu cầu bức thiết của đất nước ta, có giá trị chỉ đạo sự nghiệp đổi mới
toàn diện đất nước, đưa tới những thành tựu quan trọng giữ vững ổn định kinh
tế - xã hội, tạo đà cho những bước phát triển tiếp theo.
Tiếp tục kế thừa, phát triển sự nghiệp đổi mới đất nước, từ đổi mới
từng phần Đảng ta tiến đến đổi mới toàn diện đất nước làm cho nền kinh tế
nước ta từ nền kinh tế bao cấp, trì trệ, bị bao vây, cấm vận, đời sống nhân dân
hết sức kho khăn, đến nay, sau 20 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status