TIỂU LUẬN tôn GIÁO tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về tôn GIÁO và CÔNG tác tôn GIÁO, sự vận DỤNG của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM TRONG sự NGHIỆP đổi mới HIỆN NAY - Pdf 38

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO.
SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG
SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
Xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa hiện nay đang tạo ra những cơ hội thuận
lợi cho sự phát triển đất nước, đời sống đa phần nhân dân được cải thiện, trong
đó có các tín đồ tôn giáo; bên cạnh đó cũng tạo môi trường khách quan, thuận
lợi cho sự phát triển tín ngưỡng tôn giáo và tàng trữ trong lòng nó những yếu tố
tiêu cực. Cùng với những vấn đề “dân tộc”, “dân chủ”, “nhân quyền”, vấn đề tôn
giáo hiện nay đang là một vấn đề nhạy cảm và có nhiều diễn biến phức tạp. Các
thế lực thù địch đang lợi dụng vấn đề “tôn giáo” để tác động, can thiệp vào công
việc nội bộ của nước ta, phục vụ các ý đồ chính trị phản động của chúng. Tình
trạng lợi dụng tôn giáo để chống phá, vu khống đường lối lãnh đạo của Đảng,
phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc đang có xu hướng tăng lên. Một số lực lượng
trong các tôn giáo đang có ý định liên kết với nhau, thực hiện “liên tôn” chống
cộng.
Tình hình đó đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu sâu sắc tư tưởng Hồ Chí
Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo, nghiên cứu sự vận dụng của Đảng ta
trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, làm sáng tỏ hơn giá trị của tư tưởng Hồ Chí
Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo đối với cách mạng Việt Nam, đồng thời
vận dụng linh hoạt phương pháp Hồ Chí Minh để giải quyết vấn đề tôn giáo hiện
nay. Dựa trên thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng và những
kiến thức lý luận đã được trang bị về chủ nghĩa vô thần khoa học, tác giả lựa
chọn vấn đề “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo. Sự vận
dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới hiện nay” để làm
chủ đề của tiểu luận.
NỘI DUNG
1. Những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác
tôn giáo.
Trong hoạt động lý luận của mình, Hồ Chí Minh luôn kế thừa và phát
triển sáng tạo những quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin

Về mặt tích cực của tôn giáo: Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, đối với
người có tín ngưỡng, đức tin tôn giáo và lòng yêu nước không mâu thuẫn nhau,
mà ngược lại luôn thống nhất với nhau. Vì thế, Hồ Chí Minh không bao giờ xúc
phạm đến đức tin tôn giáo, Người lên án khía cạnh chính trị của tôn giáo, nhưng
lại rất trân trọng những những giá trị văn hoá, yếu tố tích cực về đạo đức và
những khía cạnh nhân văn, niềm tin vào con người của tôn giáo. Người nói: “vì
lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát
minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá” 4. Theo
Người, ưu điểm của tôn giáo là có tính hướng thiện. Người chỉ ra các ưu điểm
cụ thể của các tôn giáo như: Đạo Khổng có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá
nhân; đạo thiên chúa có lòng nhân ái cao cả; đạo phật có lòng từ bi hỷ xả…đó
chính là những giá trị nhân văn của nhân loại cần được bảo vệ, giữ gìn và phát
triển.
Từ quan niệm đúng đắn về tín ngưỡng, tôn giáo, Hồ chí Minh đã nhìn
thấy sự tương đồng, sự phù hợp giữa mục đích của tôn giáo với sự nghiệp giải
phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới ở nước ta. Người đã nhiều lần nói với
đồng bào có tín ngưỡng rằng, mục tiêu của Đức Chúa, Đức Phật… không khác
gì mục tiêu của những người cách mạng. Đến với đồng bào theo Phật giáo,
Người nói: “Đức Phật đại từ, đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra
khỏi khổ nạn, Người phải đấu tranh diệt lũ ác ma. Nay đồng bào ta đại đoàn kết
hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng để đánh tan thực dân phản
động, để cứu dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập cho Tổ
Hå ChÝ Minh, Toµn tËp, S®d, tËp 7, tr.115.
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.225.
4
Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, tËp 3, tr.431.
2
3

khích chia sẻ hận thù dân tộc…
Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng kịp thời biểu dương những gương tốt,
việc tốt của đồng bào theo đạo, theo Hồ Chí Minh: đồng bào lương, giáo đều
tốt. Đồng thời, Người còn trực tiếp khen ngợi những linh mục thực sự sống tốt
đời, đẹp đạo, như linh mục Lê Văn Liêm, khen ngợi đồng bào theo đạo Hoà Hảo
đã quay súng về với Tổ quốc chống xâm lược. Người hết sức tôn trọng sự hy
sinh cao cả của những người sáng lập ra tôn giáo. Người viết: “Chúa cơ đốc hy
sinh để cứu loài người khỏi ách nô lệ và đưa loài người về hạnh phúc, bình
đẳng, bác ái, tự do”8, hoặc Phật, Khổng Tử, Chúa trời là những vị chí tôn...
Quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo còn được thể hiện ở sự nhận
thức đúng và giải quyết đúng giữa tôn giáo và chính trị, giữa đạo và đời, giữa
đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Đặc biệt là tư tưởng về mối quan hệ
giữa tôn giáo và chính trị: Tôn giáo không thể tách ra khỏi đời sống chính trị,
Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.197.
Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd, tập 7, tr.197.
7
Hå ChÝ Minh, Toµn tËp, S®d, tËp 1, tr.229.
8
Hå ChÝ Minh, Toµn tËp, S®d, tËp 7, tr.197.
5
6


4
Người đã phê phán kịch liệt quan điểm của linh mục Nguyễn Văn Lý đòi tách
tôn giáo ra khỏi đời sống chính trị. Theo Hồ Chí Minh: Tổ quốc độc lập, tổ quốc
được giải phóng thì tôn giáo mới tự do. Đồng bào ta no ấm phần xác, thong
dong phần hồn, cha chỉ lo phần hồn còn phần đời là của chính phủ...
Những quan điểm trên đã thể hiện đầy đủ tính cách mạng và khoa học
của Hồ Chí Minh trong quá trình vận dụng quan điểm của Mác - Lê nin về tôn

lễ cầu hồn khi đồng bào công giáo bị giặc Pháp giết hại, hoặc tự tay vẽ ảnh phật
cho đồng bào theo đạo phật.
Một mặt, Hồ Chí Minh giáo dục cho mọi người cần tôn trọng tư do tín
ngưỡng; mặt khác, Người cũng nghiêm khắc phê phán những phần tử lợi dụng
9

Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 4, tr.9.
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, tập 5, tr.409.

10


5
tín ngưỡng, tôn giáo, những kẻ hành nghề mê tín dị đoan, phê phán những việc
làm sai chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Chính phủ, ở cả giáo
chức, tín đồ và cán bộ, đảng viên. Mê tín dị đoan là những hành vi lợi dụng
niềm tin mê muội, không phù hợp với tiến bộ chung, trái với lợi ích xã hội, gây
thiệt hại trực tiếp cho chính người tin theo. Mê tín dị đoan là vấn đề phức tạp,
việc khắc phục nó không đơn giản, vì thế Hồ Chí Minh, luôn khuyên cán bộ
phải kiên trì giáo dục quần chúng, phải dạy cho đồng bào: 1. Thường thức vệ
sinh để cho dân bớt đau ốm. 2. Thường thức khoa học để bớt mê tín nhảm.
Đồng thời, Hồ Chí Minh đã tố cáo mạnh mẽ sự vi phạm tự do tín ngưỡng
của địch: “Bọn đế quốc phản động do Mỹ cầm đầu thường vẫn tuyên bố là kính
trọng tôn giáo. Chúng lại mở mồm vu cáo Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân,
các đảng cộng sản và công nhân không tôn trọng tôn giáo.... - và Hồ Chí Minh
khẳng định: Bọn đế quốc phản động không có chút gì kính trọng tôn giáo, và
những lời chúng nói toàn là để lừa bịp những người tôn giáo”11.
Hai là, theo quan điểm của Hồ Chí Minh: mọi công tác tôn giáo đều
hướng tới xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng khối đoàn kết giữa
đồng bào theo đạo và không theo đạo, giữa đồng bào lương và đồng bào theo

6
các di sản văn hoá của tôn giáo như: đình, chùa, miếu, nhà thờ, bảo vệ quyền tự
do tín ngưỡng của nhân dân; giáo dục tư tưởng cho cán bộ của Chính phủ quán
triệt tinh thần ấy để một mặt thực hiện tốt chính sách tôn giáo đối với đồng bào
có đạo, mặt khác phải kiên quyết đấu tranh, vạch trần những kẻ lợi dụng tôn
giáo để chống nhân dân, chống chế độ; quan tâm thực sự đến đời sống vật chất
cũng như tinh thần của đồng bào các tôn giáo.v.v.
Hồ Chí Minh đã chỉ ra những giải pháp cơ bản để xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân. Trước hết để chăm lo khối đại đoàn kết toàn dân, cần phải
giáo dục mục đích của đoàn kết là kháng chiến kiến quốc chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ nền độc lập dân tộc. Trong thư gửi đồng bào
nhân ngày lễ thiên chúa giáng sinh: Người chỉ rõ: “Toàn thể đồng bào ta, không
chia lương giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông
tổ quốc, mà cũng để giữ gìn quyền tôn giáo tự do” 12. Trên cương vị là người
đứng ở vị trí cao nhất của Đảng, Nhà nước, Người đã đưa ra chính sách và các
việc làm cụ thể để xây dựng khối đại đoàn kết tôn giáo. Chẳng hạn, thông qua
các vị chức sắc trong tôn giáo để xây dựng khối đoàn kết đồng bào giáo dân.
Trong “Thư gửi giám mục Lê Hữu Từ”. Người viết: “Thưa Cụ, chính phủ dự bị
phái đại biểu vào miền Nam Trung bộ để uý lạo đồng bào trong đó. Vì ở miền
đó cũng có nhiều đồng bào công giáo, nên tôi muốn nhờ cụ chọn cho một vị linh
mục thân tín của cụ cùng đi với các đại biểu của chính phủ vào thăm đồng bào
ta”13. Hơn nữa, ở đâu? nơi nào? kẻ thù hoặc những kẻ đội lốt tôn giáo phá hoại
khối đại đoàn kết tôn giáo thì Người đã trực tiếp chỉ đạo hoặc cử cán bộ tin cậy
vào giải quyết. Chẳng hạn khi Bác cử đồng chí Vũ Đình Huỳnh đến phát hiện
nơi đang có biến cố về tôn giáo, Bác đã căn dặn: Nhiệm vụ của chú ở đó là giàn
xếp mối quan hệ giữa cụ Từ và chính quyền địa phương để xây dựng khối đại
đoàn kết..., bất kì thế nào chú phải đi gặp cụ Từ để giải thích cho hết sự hiểu lầm
đó... Quan điểm của Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo còn nhằm vào mục đích
của sự đoàn kết toàn dân, đoàn kết lương giáo để cứu nước, cứu dân là vô cùng
cần thiết, đồng thời, Người cũng bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc. Trong

trong công tác tôn giáo.
Trong công tác tôn giáo, Hồ Chí Minh không cứng nhắc hình thức và
phương pháp tiến hành mà Người luôn luôn có sự sáng tạo về hình thức và
phương pháp mới cho phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn. Chính những
cái không thành công trong công tác tôn giáo vừa chứng minh sự cao cả vĩ đại
của Hồ Chí Minh, vừa minh chứng cho sự sáng tạo hình thức, phương pháp mới
về công tác tôn giáo. Hồ Chí Minh định chủ trương xây dựng giáo hội việc làm
theo tam đồng: tự sinh, tự dưỡng và tự lập không dính dáng đến toà thánh
Vaticăng nhưng không được. Hay sau năm 1956, Người có ý định thành lập tổ
chức tin lành yêu nước, Người gọi mục sư Lê Văn Thái để thuyết phục nhưng
không thành vì mục sư Lê Văn Thái cho rằng: tôn giáo của chúng tôi không phải
là tôn giáo nhập thế..., mong cụ thứ lỗi cho.. đơn cử những việc làm của Hồ Chí
Minh như vậy chúng ta càng tự hào về Bác.
Mặt khác, sự sáng tạo vận dụng nhiều hình thức, phương pháp mới của
Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo còn được thể hiện ở việc: Hồ Chí Minh tìm
kiếm sự đồng thuận giữa mục tiêu của cách mạng với mục đích của những
người sáng tạo ra tôn giáo. Dĩ nhiên là mục tiêu cách mạng đồng thuận với mục
đích của tôn giáo nguyên thủy chứ không phải thứ tôn giáo bị lợi dụng hoặc
trong quá trình vận động, nó có thể bị biến chất, bị tha hoá. Hồ Chí Minh tiến
hành công tác tôn giáo với tư tưởng của những người đồng cảm với suy nghĩ,
tình cảm, niềm tin của những người đồng thuận vì lợi ích của dân tộc, tổ quốc.
Ngay trong cách sử dụng ngôn ngữ, văn phong của mình cũng rất gần gũi và gây
được sự đồng cảm với đồng bào tôn giáo, Người chưa bao giờ gọi công giáo là
“thiên chúa giáo”, mà Người thừa nhận tên gọi của họ, Người rất thiên tài trong
sử dụng ngôn từ, nắm chắc nội dung của các giáo lý, giáo luật để thu phục đồng
bào theo đạo. Đồng thời, bằng thủ pháp vạch rõ âm mưu chia rẽ của bọn thực
dân đế quốc như một mặt đối lập để làm công tác tôn giáo. Người viết: “bọn
thực dân Pháp và can thiệp Mỹ mưu cướp nước ta, bọn Việt gian bù nhìn mưu
bán nước ta. Chúng muốn bắt dân ta làm nô lệ. Chúng phạm nhiều tội ác, như
đốt phá tượng thánh, nhà thờ, giết hại nhân dân lương và giáo. Chúng đã bạo

ngoài, như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Bà-la-môn,... còn có các
tôn giáo nội sinh, như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân
Hiếu Nghĩa, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam,... Các tôn giáo ở nước ta, mặc dù
độc lập về nghi lễ nhưng gắn bó với nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Bên cạnh đó,
còn có nhiều tín ngưỡng dân gian với các nghi lễ đặc sắc, phong phú, được đông
đảo người dân sùng kính, như tín ngưỡng thờ Mẫu, thờ Vua Hùng, thờ Đức
thánh Trần,...
Theo thống kê, ở nước ta hiện có khoảng 25 triệu tín đồ tôn giáo, chiếm
khoảng 27% dân số cả nước. Trong đó, chủ yếu là tín đồ Phật giáo (hơn 11 triệu
người), Công giáo (gần 7 triệu người), Tin Lành (hơn 1 triệu người), Cao Đài
(2,4 triệu người), Phật giáo Hòa Hảo (1,5 triệu người), Tịnh độ Cư sĩ Phật hội
Việt Nam (hơn 1 triệu người); còn lại là tín đồ các tôn giáo khác, chiếm gần nửa
triệu người. Số lượng chức sắc, nhà tu hành khá đông, khoảng 83 nghìn người;
ngoài ra còn có 250 nghìn chức việc trông coi việc đạo ở khoảng 28 nghìn cơ sở
thờ tự.
* Một số vấn đề phức tạp trong tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện
nay
Tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay, về cơ bản là ổn định,
do nhận thức ngày càng rõ của đại bộ phận tín đồ, chức sắc tôn giáo về đường
lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Hệ thống
16

Phạm Văn Đồng, “1 con người, 1dân tộc, 1 sự nghiệp”, Nxb Sù thËt, Hà Nội, 1990, tr. 19.


9
quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo được bổ sung, hoàn thiện; công tác
vận động quần chúng và công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, về
an ninh, trật tự ở cơ sở ngày càng được chú trọng. Ban lãnh đạo các cấp của hầu

Việt Tân”, một số nhóm, cá nhân ở trong nước và nước ngoài tiến hành tuyên
truyền, kích động nhân dân gây rối, chống lại chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới, đạo lạ và tà đạo. Theo thống kê,
ở Việt Nam hiện có khoảng 60 hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới, du nhập từ
nước ngoài hoặc nội sinh (thực chất là các tổ chức tín ngưỡng mang màu sắc tôn
giáo). Một số hiện tượng tín ngưỡng đang hình thành tổ chức, tiến tới đăng ký
hoạt động tôn giáo mới. Tuy nhiên, hoạt động của nhiều nhóm trong số này có
biểu hiện dị đoan, gây ảnh hướng xấu đến đời sống văn hóa. Một số tổ chức
phản động cũng núp dưới danh nghĩa tôn giáo để tập hợp lực lượng, như “Hội
đồng Công luật công án Bia Sơn”, “Cây Thập giá Chúa Giê-su Cờ-rít”,...


10
* Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống
phá nước ta thể hiện trên một số vấn đề cơ bản sau đây:
Trong sự nghiệp đổi mới, CNĐQ và các thế lực phản động chưa từ bỏ dã
tâm đen tối, lợi dụng tôn giáo để thực hiện mục đích chính trị chống phá cách
mạng nước ta, sử dụng tôn giáo làm “ngòi nổ” hòng thực hiện âm mưu “diễn
biến hòa bình”. Trong điều kiện nước ta tích cực, chủ động hội nhập quốc tế,
cần tăng cường cảnh giác với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch,
dùng đòn “tôn giáo” để “hạ bệ” chủ nghĩa Mác - Lênin, lợi dụng vấn đề “tôn
giáo” để can thiệp vào nội bộ nước ta, đòi nước ta phải theo “Luật tự do tôn giáo
quốc tế” (HR2431) mà Mỹ đã dựng lên.
Một là, tìm mọi cách để đưa các chức sắc tôn giáo đã bỏ ra nước ngoài trở
lại Việt Nam. Tiếp tục kiện toàn tổ chức, tạo dựng ngọn cờ, tập hợp lực lượng,
âm thầm phát triển. Với các thủ đoạn cụ thể: bước đầu tránh đụng độ với chính
quyền, lợi dụng đầu tư, lợi dụng hội nhập kinh tế quốc tế, lợi dụng tình hình
tham nhũng để can thiệp sâu hơn vào vấn đề tôn giáo.
Hai là, xúi giục đòi tự do dân chủ, nhân quyền, đòi tự do tôn giáo, gây ra

ta về vấn đề tôn giáo hiện nay.
2.2. Quan điểm, chủ trương của Đảng ta về công tác tôn giáo trong thời
kỳ đổi mới hiện nay
* Thành tựu trong đổi mới công tác tôn giáo
Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta về tự do tín
ngưỡng, tôn giáo và đoàn kết dân tộc qua các thời kỳ cách mạng, trong công
cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã có nhiều chủ trương về tín ngưỡng, tôn giáo
và công tác tôn giáo. Nghị quyết số 24/NQ-TW, ngày 16-10-1990, của Bộ Chính
trị khóa VI “Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” đã nêu hai
luận điểm mang tính đột phá: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân” và “Tôn giáo có những giá trị văn hóa, đạo đức phù hợp
với chế độ mới”. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 7 khóa IX, Đảng ta đã thông
qua Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12-3-2003, “Về công tác tôn giáo”. Đại hội
XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về
tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị
văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức
sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội XII bổ sung: “Quan tâm và tạo điều kiện cho
các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã
được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật. Đồng thời, chủ động
phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn
giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc hoặc những hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật”(1).
Quan điểm, chủ trương của Đảng ta về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn
giáo thể hiện tập trung ở những nội dung chủ yếu: Xây dựng hệ thống chính
sách, pháp luật để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân;
thống nhất quyền lợi, nghĩa vụ của công dân để các chức sắc, nhà tu hành, tín đồ
tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”; phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp
của các tôn giáo trong xây dựng xã hội mới; công tác vận động chức sắc, tín đồ
tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị; kiên quyết đấu

Nghị định số 92/2012/NĐ-CP, ngày 8-11-2012, của Chính phủ “Quy định
chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo”, hướng dẫn thi
hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó bổ sung nhiều
điểm mới về quản lý đối với hoạt động tín ngưỡng; điều kiện, quy trình và thời
hạn giải quyết đăng ký sinh hoạt tôn giáo, đăng ký hoạt động tôn giáo, thời hạn
công nhận là tổ chức tôn giáo; quản lý đối với trường đào tạo tôn giáo trong việc
tuyển sinh; đăng ký hiến chương, điều lệ sửa đổi (nếu có) của tổ chức tôn giáo
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hoạt động tôn giáo tại cơ sở được xếp
hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; phân loại các công trình tín
ngưỡng, tôn giáo, công trình phụ trợ và yêu cầu về cấp phép xây dựng nhằm bảo
đảm tuân thủ pháp luật về xây dựng; sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại
cơ sở tôn giáo của Việt Nam;...
Quốc hội đã thông qua nhiều đạo luật, nghị quyết điều chỉnh các mối quan
hệ nảy sinh trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, như Bộ luật Hình sự, Luật Đất
đai, Nghị quyết số 23/2003/QH11, ngày 26-11-2003, “Về nhà đất do Nhà nước
đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà
đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991”,...
Công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, quan điểm, chính sách nhất quán của
Đảng, Nhà nước ta về tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện cởi mở hơn,
nhất là từ khi thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004) đến nay, đã
tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Các lễ
trọng của các tôn giáo hằng năm, các đại hội nhiệm kỳ của các tổ chức tôn
giáo,... được tổ chức trọng thể, trang nghiêm, an toàn, với quy mô ngày càng lớn
hơn, thu hút đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều lễ hội tôn giáo đã trở thành sinh
hoạt văn hóa chung của cộng đồng, như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Nô-en
của Công giáo và Tin Lành,... Nhiều cơ sở thờ tự của các tôn giáo được các cấp
chính quyền tạo điều kiện cho xây dựng, tu sửa khang trang; việc phong chức,
phong phẩm, thuyên chuyển nơi tu hành của các chức sắc cũng dễ dàng hơn.
Các hoạt động thuần tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng ổn định theo đúng

Hảo...
Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức trọng thể, thành công ở
nước ta thời gian qua được dư luận thế giới đánh giá cao, là minh chứng sinh
động về chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Điển hình là các hoạt
động: Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (Vesak) năm 2008; Hội nghị Nữ giới Phật
giáo thế giới lần thứ XI (năm 2009 - 2010); Lễ Khai mạc Năm Thánh của Giáo
hội Công giáo năm 2009; Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu lần thứ X
(năm 2012);... Nhìn chung, các hoạt động tôn giáo quốc tế nói trên đều thành
công tốt đẹp, đạt được mục tiêu. Nhờ có sự giúp đỡ của Nhà nước ta, các hoạt
động đó đều tuân thủ pháp luật, an toàn, hoành tráng, giàu bản sắc dân tộc Việt
Nam, gây ấn tượng với bạn bè quốc tế.
* Một số vấn đề đặt ra trong đổi mới công tác tôn giáo trước tình hình
mới hiện nay
Thứ nhất, sửa đổi một số nội dung của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo,
tiến tới xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Hiện nay, vấn đề “thể nhân” và
“pháp nhân” của các tổ chức tôn giáo chưa rõ ràng. Các tổ chức tôn giáo được
công nhận, được đăng ký hoạt động, song lại không có quyền pháp nhân, như
các hội đoàn, các tổ chức phi chính phủ,… (Trong Luật Dân sự chưa quy định
chỗ đứng cho các tổ chức tôn giáo). Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng mà các


14
tôn giáo và người làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo đang lúng túng
trong việc xử lý.
Nhiều mối quan hệ của tín ngưỡng, tôn giáo chưa có quy phạm pháp luật
điều chỉnh, do đó, chưa đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế (chẳng hạn, chưa có quy
định về “tà đạo”, về hoạt động của các giáo hội tôn giáo Việt Nam ở nước ngoài;
hoặc quy định chưa đầy đủ về các hoạt động xã hội của tôn giáo, về hoạt động,
sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài ở Việt Nam;…). Vấn đề quản lý nhà

Phải xem xét các vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trên quan điểm lịch sử - cụ
thể để xử lý một cách biện chứng. Chủ động phát hiện nguyên nhân các vấn đề
có thể nảy sinh trong tín ngưỡng, tôn giáo để chủ động xử lý, không để bùng
phát thành “điểm nóng”, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự xã hội và quan
hệ quốc tế, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Nếu đã nảy sinh các vụ,
việc về tín ngưỡng, tôn giáo thì chủ động xử lý tại cơ sở, không để lây lan trên
diện rộng. Phải hình thành tư tưởng “chủ động trong công tác tôn giáo”.


15
Thứ tư, hình thành nguyên tắc, phương châm trong công tác tôn giáo. Cần
quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng về lực lượng quần chúng cách mạng, về
tín ngưỡng, tôn giáo, về vấn đề dân tộc. Phải thấy được rằng, giải quyết vấn đề
tôn giáo là giải quyết vấn đề lực lượng cách mạng; công tác tôn giáo phải là
công tác của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của
Đảng. Trong công tác tôn giáo, luôn bảo đảm nguyên tắc: Giải quyết vấn đề tôn
giáo phải dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ chính trị là chính; phải vận dụng đường lối
của Đảng về vấn đề dân tộc, tôn giáo, quốc tế một cách sáng tạo trong khi áp
dụng các biện pháp pháp luật. Giải quyết vấn đề tôn giáo phải nhằm đạt được
kết quả toàn diện, lâu dài. Đồng thời, cần quán triệt phương châm: Luôn luôn sử
dụng các yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc để giải quyết các vấn đề tín
ngưỡng, tôn giáo; phải vừa tranh thủ, vừa đấu tranh khi giải quyết các vấn đề tín
ngưỡng, tôn giáo, lấy tranh thủ là chính.
Thứ năm, chú trọng công tác đối ngoại tôn giáo. Cần nghiên cứu, xem xét
mở rộng mặt trận đối ngoại thông qua con đường tôn giáo (bao gồm cả đối ngoại
nhân dân và đối ngoại nhà nước) nhằm phục vụ công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc và hội nhập quốc tế, trong đó chú trọng quan hệ với Va-ti-can, các quốc
gia có đông tín đồ Hồi giáo ở Trung Đông, Đông Nam Á và các quốc gia có
đông tín đồ Phật giáo ở Đông Nam Á, đặc biệt là với Lào và Cam-pu-chia là hai
quốc gia láng giềng thân thiện, có từ 90% đến 95% dân số theo đạo Phật.

Một là, không ngừng tuyên truyền, giáo dục quan điểm, chính sách tôn
giáo của Đảng và Nhà nước cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và cho nhân
dân địa phương nơi đóng quân
Hiện nay, có nhiều yếu tố làm cho tín ngưỡng, tôn giáo tác động tiêu cực
vào đời sống tinh thần quân nhân. Trong đó có cả yếu tố khách quan, chủ quan,
yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội tác động tổng hợp tạo nên. Những tai
hoạ do thiên nhiên gây ra, những cuộc chiến tranh xâm lược, xung đột sắc tộc, ô
nhiễm môi trường, sự phân hoá giàu nghèo, bệnh tật... vấn đề công ăn, việc làm;
sự chống phá của kẻ thù trên các lĩnh vực của đời sống xã hội... đã và đang là
mảnh đất thuận lợi cho tín ngưỡng, tôn giáo len lỏi xâm nhập vào đời sống tinh
thần quân nhân. Cùng với những yếu tố khách quan kể trên, yếu tố chủ quan của
mỗi con người trong quá trình tồn tại, hoạt động cũng tạo ra khe hở cho tín
ngưỡng, tôn giáo xâm nhập vào đời sống tinh thần của họ. Thực tế cuộc sống
cho thấy, ngoài quân nhân có đạo chịu sự chi phối quy định của thế giới quan
tôn giáo thì bộ phận quân nhân khác không theo tôn giáo nào vẫn ít nhiều chịu
sự tác động của tín ngưỡng, tôn giáo.
Ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng, tôn giáo đối với đời sống tinh thần
quân nhân theo nhiều chiều: cản trở việc hình thành, phát triển thế giới quan
khoa học của quân nhân; cản trở sự phát triển văn hoá, đạo đức của quân nhân
và cản trở việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của quân nhân. Do vậy mỗi đơn vị
quân đội cần thường xuyên tổ chức học tập, bồi dưỡng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, chiến sĩ, làm cho quân nhân nhận thức đầy đủ
tính chất phản khoa học của tín ngưỡng tôn giáo, từ đó xây dựng lập trưòng tư
tưởng cách mạng khoa học. Tập trung giáo dục, tuyên truyền toàn diện, chú
trọng vào những quan điểm, chính sách, nhiệm vụ công tác tôn giáo, nhằm
thống nhất nhận thức của cán bộ, chiến sĩ, loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực của
tín ngưỡng tôn giáo ra khỏi đời sống tinh thần của quân nhân.
Tăng cường việc tuyên truyền đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và
Nhà nước cho nhân dân địa phương, công tác tuyên truyền phải giúp nhân dân
hiểu được cái tốt, cái xấu, cái đúng, cái sai; nhận rõ âm mưu thâm độc của các

trực tiếp đối thoại thẳng thắn, lắng nghe, chân tình, cởi mở với họ, tạo sự hiểu
biết, sự đồng tình ủng hộ của các chức sắc, chức việc, nhà tu hành và đồng bào
tôn giáo. Trong quan hệ với các chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các
tôn giáo phải giữ đúng nguyên tắc, có thái độ đúng mực trong quan hệ ứng xử
phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc, phù hợp với điều lệnh của quân
đội. Tôn trọng các lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo của các tín đồ, không vi phạm đến
nơi thờ cúng tôn nghiêm của các giáo hội. Với tác phong quần chúng, đến từng
nhà kể cả gia đình đang có vấn đề bức xúc, mâu thuẫn với cấp uỷ, chính quyền
địa phương để kiên trì giải thích làm rõ đúng, sai, vận động họ chấp hành đúng
đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, không nghe theo tin
thất thiệt để kẻ xấu lợi dụng kích động. Nhân ngày lễ, tết của đất nước, các lễ
trọng của bà con theo đạo cần tổ chức thăm hỏi, chúc mừng và tặng quà các
chức sắc, chức việc, nhà tu hành và bà con giáo dân theo khả năng của mình, tạo
quan hệ gần gũi, gắn bó giữa các chức sắc và đồng bào tôn giáo với quân đội.
Thường xuyên tổ chức các đợt cho cán bộ, chiến sĩ của mình thực hiện
chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Như tổ chức các cuộc hành quân dã
ngoại giúp đỡ đồng bào tín đồ các tôn giáo sản xuất, kinh doanh; xây dựng các
công trình công cộng của địa phương; xây dựng môi trường văn hoá, cảnh quan
môi trường; tu sửa đường làng ngõ xóm; tổ chức giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể
dục thể thao giữa đoàn thanh niên của đơn vị với đoàn viên, thanh niên của địa
phương... qua đó tạo mối quan hệ gần gũi, gắn bó, tin tưởng giữa đơn vị quân
đội với chính cluyền và nhân dân địa phương vùng tôn giáo. Thông qua những
việc làm trên, các đơn vị quân đội nắm được tâm tư, nguyện vọng của đồng bào
tôn giáo để đề xuất, phối hợp với chính quyền địa phương giải quyết nhu cầu,
nguyện vọng đó theo đúng quy định của hiến pháp và pháp luật tạo sự tin cậy,
yêu mến của đồng bào đối với bộ đội.


18
Cùng với những việc làm trên quân đội cần tham gia xây dựng đội ngũ

quân đội tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh, giữ vững ổn định về an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo lực lượng và sức mạnh tại chỗ, góp phần
củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trong sự
nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status