TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Bộ môn: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
BÀI THẢO LUẬN
Đề tài:
Kinh tế thị trường và đường lối phát triển kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần của Đảng Cộng sản Việt Nam
(1976 đến nay)
Lớp học phần:
Nhóm thảo luận:
Giảng viên:
1310RLCP0111
01
Võ Bá Chi
Hà Nội, 2013
2
Mục lục
Lời nói đầu............................................................................................................................................4
3
Sản xuất hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra
để bán trên thị trường. Trong kiểu tổ chức kinh tế này, toàn bộ quá trình sản xuất phân phốitrao đổi-tiêu dùng; sản xuất ra cái gì, như thế nào và cho ai đều thông qua việc mua bán,
thông qua hệ thống thị trường và do thị trường quyết định. Cơ sở kinh tế - xã hội của sự ra
đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa là phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế
5
giữa người sản xuất này và người sản xuất khác do quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản
xuất quy định.
- Phân công lao động xã hội là việc phân chia người sản xuất vào các ngành nghề khác nhau
của xã hội.Hoặc nói cách khác đó là chuyên môn hóa sản xuất.
Do phân công lao động ,xã hội nên mỗi người chỉ sản xuất một hay một vài sản phẩm
nhất định.Song nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của mọi người đều cần có nhiều loại sản
phẩm.Vì vậy họ đòi hỏi phải có mối liên hệ trao đổi sản phẩm cho nhau,phụ thuộc vào nhau.
Trong lịch sử đã diễn ra 3 cuộc phân công lớn:
+ Ngành chăn nuôi tách khỏi ngành trồng trọt.
+ Ngành thủ công tách ra khỏi ngành nông nghiệp.
+ Dẫn tới xuất hiện ngành thương nghiệp.
- Điều kiện thứ hai của sản xuất hàng hóa là sự tách biệt về kinh tế giữa những người sản
xuất do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất quy định.
Dựa vào điều kiện này mà người chủ tư liệu sản xuất có quyền quyết định việc sửu
dụng tư liệu sản xuất và những sản phẩm do họ sản xuất ra.Như vậy quan hệ sở hữu khác
nhau về tư liệu sản xuất đã chia rẻ người sản xuất,làm ra họ tách biệt nhau về mặt kinh
tế.Trong điều kiện đó người sản xuất này muốn sử dụng sản phẩm của người sản xuất khác
thì phải trao đổi sản phẩm lao động cho nhau.Sản phẩm lao động trở thành hàng hóa.
Khi sản phẩm lao động trở thành hàng hóa thì người sản xuất trở thành người sản
xuất hàng hóa,lao động của người sản xuất hàng hóa vừa có tính chất xã hội, vừa có tính
chất tư nhân,cá biệt.Tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hóa thê hiện tư nhân cá
biệt.Tính chất xã hộ của lao động sản xuất hàng hóa thể hiện ở chỗ phân công lao động xã
Cạnh tranh: các chủ thể kinh tế cạnh tranh tự do từ đó tạo động lực sinh tồn phải
thắng đối thủ, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Sự điều tiết của Nhà Nước: xét về bản chất, ra đời kinh tế thị trường không liên quan
đến Nhà Nước. Nhưng trong nền kinh tế thị trường hiện đại không thể thiếu sự tồn tại của
Nhà Nước vì các vấn đề như cơ sở hạ tầng công cộng hay môi trường, an ninh….đều do nhà
nước quản lý.
- Tác dụng của việc phát triển kinh tế thị trường:
+ Kích thích, thúc đẩy kinh tế kỹ thuật phát triển.
+ Khai thác triệt để mọi nguồn lực kinh tế.
+ Mở ra không gian không hạn chế cho cả sản xuất và tiêu dùng.
* Nguyên nhân phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
7
Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự tiếp thu có chọn lọc
những thành tựu của văn minh nhân loại.
Sự phát triển của kinh tế thị trường sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất,
do đó tạo điều kiện ra đời của sản xuất xã hội hoá cao, đồng thời chọn lọc được những người
sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũ cán bộ quản lí có trình độ, lao động lành nghề
đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.
Thực tiễn những năm đổi mới đã chứng minh, việc chuyển sang nền kinh tế thị
trường nhiều thành phần là hoàn toàn đúng đắn. Nhờ phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, chúng ta đã bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước và thu hút vốn, kỹ thuật,
công nghệ của nước ngoài, giải phóng năng lực sản xuất, góp phần quyết định vào việc đảm
bảo tăng trưởng kinh tế với nhịp độ tương đối cao trong thời gian qua.
* Các thành phần kinh tế thị trường ở Việt Nam
Thứ nhất, thành phần kinh tế Nhà nước (TPKTNN) là những đơn vị tổ chức trực tiếp
sản xuất kinh doanh hoặc phục vụ sản xuất,kinh doanh mà toàn bộ nguồn lực thuộc sở hữu
Nhà nước,hoặc phần của toàn nhà nước chiếm tỷ lệ khống chế. Kinh tế Nhà nước (KTNN)
bao gồm các doanh nghiệp Nhà nước các tài sản thuộc sở hữu nhà nước, các ngành kinh tế
hiệu quả, tiền vốn, sức lao động, tay nghề, sản phẩm truyền thống.
Thành phần kinh tế thứ năm và cũng là thành phần kinh tế cuối cùng. Thành
phần kinh tế tư bản tư nhân (TPKTTBTN): là các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một số
nhà tư bản trong và ngoài nước đầu tư để sản xuất kinh doanh dịch vụ. Kinh tế tư bản tư
nhân tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp,tư nhân,doanh nghiệp cổ phần,công ty trách
nhiệm hữu hạn…
=> Mỗi thành phần kinh tế đồng thời vừa tồn tại độc lập tương đối vừa tác động lẫn
nhau,vừa hợp tác cạnh tranh với nhau,vừa thống nhất,vừa mâu thuẫn trong một chỉnh thể
kinh tế xã hội.Không nên hiểu mỗi thành phần kinh tế như những bộ phận tách rời những lực
lượng tự trị và theo đó cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là sự hợp nhất cơ học của các thành
phần đó.
II/ Quan điểm về kinh tế thị trường và đường lối phát triển kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần của Đảng
1, Quan điểm phát triển kinh tế thị trường của Đảng trước Đại hội toàn quốc lần thứ
VI (tháng 12 năm 1986)
1.1, Quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ IV về kinh tế thị trường (tháng 12 năm 19761982)
- Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam thống nhất 2 miền. Ngày 16 tháng 5 năm 1975, Bí
thư thứ Nhất Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn đã trực tiếp vào miền Nam nắm tình hình,
9
gồm cả tình hình kinh tế. Ông thừa nhận những yếu tố tích cực của kinh tế tư nhân và của thị
trường tự do ở miền Nam. Tại cuộc họp trù bị của Hội nghị lần thứ 24 Ban chấp hành Trung
ương Đảng Lao động Việt Nam khóa III, ông đã phát biểu: “Ở miền Bắc trước đây phải hợp
tác hóa ngay lập tức. Nhưng miền Nam bây giờ không thể làm như vậy ... Phải có tư sản,
phải cho nó phát triển phần nào đã ... Bộ Chính trị sau khi nghiên cứu thấy rằng cần phải
để mấy thành phần kinh tế là quy luật cần thiết trong giai đoạn bước đầu này ... Xưa nay ở
miền Bắc chúng ta có một số sai lầm, là vì chúng ta đã đi sai quy luật. Nếu chúng ta đi sai
quy luật mà đưa vào miền Nam thì càng sai lắm.” . Tuy nhiên, đa số Ban chấp hành Trung
điểm mô hình “mua cao, bán cao”, “bù giá vào lương” thay cho cơ chế “mua cung, bán
cấp”. Hải Phòng, Vĩnh Phú, Nghệ Tĩnh thí điểm hình thức khoán.
Từ thực tế các thí điểm đó, ngày 13-1-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị
100-CT/TW về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người
lao động trong hợp tác xã nông nghiệp. Làm thử TRẢ LƯƠNG sản phẩm trong xí nghiệp
quốc doanh theo Quyết định số 25/CP ngày 21/1/81 về một số chủ trương và biện pháp
nhằm phát huy quyền chủ động sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của
các xí nghiệp quốc doanh với nguyên tắc cơ bản :
A) Trên cơ sở bảo đảm sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước, mở rộng
quyền chủ động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp theo nguyên tắc lấy kế hoạch làm chính,
đồng thời sử dung đúng đắn các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quan hệ thị trường, tạo ra
những điều kiện linh hoạt, cơ động cần thiết cho xí nghiệp đẩy mạnh được sản xuất và kinh
doanh có lãi.
B) Tăng cường quyền tự chủ tài chính của xí nghiệ…trên cơ sở đó giải quyết đúng
đắn 3 lợi ích: Nhà nước, tập thể xí nghiệp và cá nhân người lao động, trước tiên là khuyến
khích người lao động tăng năng suất, tăng sản lượng, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống,
đồng thời bảo đảm nguồn thu của Nhà nước.)
Như vậy, ý tưởng về kinh tế thị trường đã được đưa ra ở Đại hội IV nhưng không được
chấp nhận. Sau đó, dưới áp lực của tình hình kinh tế khách quan, nhằm thoát khỏi tình trạng
khủng hoảng kinh tế- xã hội, và những kết quả tích cực của việc áp dụng kinh tế thị trường
vào giải quyết những khó khăn của nền kinh tế; Đảng ta đã có nhiều bước cải tiến nền kinh
tế theo định hướng thị trường, tuy nhiên còn chưa mạnh tay, chưa toàn diện và triệt để.
Nghị quyết Trung ương 6, Chỉ thị 100 của Ban Bí thư và các Quyết định 25/CP và 26/CP
của Chính phủ cho thấy những ý tưởng ban đầu của đổi mới, tuy còn sơ khai, chưa cơ bản và
11
đầu bằng việc đổi tiền, xoá bỏ hoàn toàn chế độ tem phiếu.
12
Nhưng do tư tưởng nóng vội, cuộc tổng điều chỉnh này đã dẫn tới tình trạng giá cả thị
trường có nhiều diễn biến phức tạp; lạm phát bị đẩy lên tốc độ phi mã. Đầu năm 1986, lại
phải lùi một bước, quay trở lại thực hiện chính sách hai giá...
- Hội nghị Bộ Chính trị khoá V (8-1986) đưa ra kết luận về một số vấn đề thuộc quan điểm
kinh tế. Trong đó có 2 nội dung như sau:
1- Về cải tạo xã hội chủ nghĩa và củng cố quan hệ sản xuất mới, phải xác định cơ cấu kinh
tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta;
2- Về cơ chế quản lý kinh tế, lấy kế hoạch làm trung tâm, đồng thời phải sử dụng đúng quan
hệ hàng hoá tiền tệ, dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung, bao cấp; chính sách giá phải vận
dụng quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá.
- Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 khoá V (6/1986) đã đánh giá tình hình sau
cuộc điều chỉnh giá-lương-tiền (9/1985) và khẳng định chính thức đổi mới cơ chế quản lý,
xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
=> Kết luận: Nhìn chung, giai đoạn 76-85, ý tưởng về phát triển kinh tế thị trường đã nhen
nhúm và ngày càng lan rộng trong tổ chức Đảng. Quan điểm của BCH TW Đảng khóa V về
kinh tế thị trường có sự thay đổi lớn so với khóa IV, trong đó đáng kể nhất là: thừa nhận
kinh tế thị trường ở Việt Nam, nhận thức về sự cấp thiết và tất yếu của chuyển đổi cơ chế
kinh tế, quyết tâm xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan lieu bao cấp, và mạnh tay trong việc
thực hiện… Tuy nhiên, vì nhiều lý do, nên trong quá trình thực hiện các Nghị quyết và chỉ
thị này có nhiều sai sót, lệch lạc so với tư tưởng ban đầu, nên đến cuối 1986, nước ta diễn ra
một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng, đây cũng chính là nhân tố mạnh mẽ nhất để châm
ngòi và đẩy quá trình đổi mới diễn ra nhanh hơn tại Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng.
2. Đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường của
Đảng sau Đại hội toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986)
Đại hội VI của Đảng đánh dấu một bước ngoặt rất cơ bản và có ý nghĩa quyết định
trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, với việc đề ra đường lối đổi mới toàn
còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và tận dụng đúng quy luật về
sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất”
Đại hội xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của
chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những
tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh CNH XHCN trong chặng đường tiếp theo.
Đại hội xác định mục tiêu cụ thể về KTXH cho những năm còn lại của chặng đường
đầu tiên là sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy; bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế trong đó
đặc biệt chú trọng 3 chương trình kinh tế lớn là: lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu; xây dựng và hoàn thiện một bước QHSX mới phù hợp với tính chất và trình
14
độ phát triển của LLSX; tạo ra chuyển biến tốt về mặt xã hội, việc làm, chống tiêu cực, mở
rộng dân chủ, giữ vững kỷ cương phép nước; bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng - an
ninh.
Đại hội nêu ra 5 phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế xã hội và đề ra hệ
thống giải pháp để thực hiện mục tiêu như: Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh cơ cấu đầu
tư; xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN; sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành
phần kinh tế (coi kinh tế có nhiều thành phần là đặc trưng của thời kỳ quá độ); đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế, dứt khoát xóa bỏ cơchế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển
sang cơ chế kế hoạch hóa theo phương hướng hạch toán kinh doanh XHCN; phát huy động
lực của khoa học kỹ thuật; mở rộng và nâng cao hiệu quả của kinh tế đối ngoại.
•
Hai là, kinh tế thị trường còn tồn tại khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội.
Đại hội VII của Đảng (6-1991) trong khi khẳng định chủ trương tiếp tục xây dựng
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế quốc
dân thống nhất, đã đưa ra kết luận quan trọng rằng sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ
hảo.
+Nền kinh tế có tính mở cao và vận hành theo quy luật vốn có của kinh tế thị trường
như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh.
+ Có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.
Với những đặc điểm trên, kinh tế thị trường có vai trò rất lớn đối với sự phát triển
kinh tế, xã hội.
Trước đổi mới, do chưa thừa nhận trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn tồn
tại sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường nên chúng ta đã xem kế hoạch là đặc trưng quan
trọng nhất của kinh tế xã hội chủ nghĩa, đã thực hiện phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch
là chủ yếu, còn thị trường chỉ được coi là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch do đó
không cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Vào thời kỳ đổi mới, chúng ta ngày càng nhận rõ kinh tế thị trường, nếu biết vận
dụng đúng, thì có vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội. Có thể dùng cơ chế thị
trường làm cơ sở phân bổ các nguồn lực kinh tế, dùng tín hiệu giá cả để điều tiết chủng loại
và số lượng hàng hóa, điều hòa quan hệ cung cầu, điều tiết tỷ lệ sản xuất thông qua cơ chế
cạnh tranh, thúc đẩy cải tiến bộ, đào thải cái lạc hậu, yếu kém.
Thực tế cho thấy, chủ nghĩa tư bản không sinh ra kinh tế thị trường nhưng đã biết kế
thừa và khai thác có hiệu quả các lợi thế của kinh tế thị trường để phát triển. Thực tiễn đổi
16
mới ở nước ta cũng đã chứng minh sự cần thiết và hiệu quả của việc sử dụng kinh tế thị
trường làm phương tiện xây dựng chủ nghĩa xã hội.
2.2, Tư duy của Đảng về kinh tế thị trường và định hướng kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần từ Đại hội IX đến Đại hội X
Đại hội IX của Đảng (4-2001) xác định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là bước chuyển quan trọng từ nhận
thức kinh tế thị trường như một công cụ, một cơ chế quản lý, sang coi kinh tế thị trường như
Về định hướng xã hội và phân phối: Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay
trong từng bước đi và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ và đồng
bộ với phát triển xã hội, văn hóa, giáo dục và đào tạo, giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục
tiêu phát triển con người.
•
Về quản lý: Phát huy vai trò làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý,
điều tiết nền kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng là
sự thể hiện rõ rệt định hướng xã hội chủ nghĩa và cũng là sự khác biệt cơ bản giữa kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hệ thống quản lý nhà nước về kinh tế- xã hội của ta còn yếu. Đại hội IX nhận định
về vấn đề này như sau: “Cơ chế chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực mạnh để
phát triển một số cơ chế chính sách còn thiếu, chưa nhất quán, chưa sát với cuộc sống, thiếu
tính khả thi. Nhiều cấp ngành chưa thay thế sửa đổi những quy định về quản lý nhà nước
không phù hợp, chưa bổ sung những quy chế, chính sách mới có tác dụng giải phóng mạnh
mẽ lực lượng sản xuất, khai thác nhiều hơn nữa các nguồn lực dồi dào trong các thành phần
kinh tế, các doanh nghiệp, các vùng và toàn xã hội”.
III/ Thực trạng thực hiện đường lối phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
của Đảng qua từng thời kỳ
Cùng với sự phát triển của lịch sử dân tộc, kinh tế Việt Nam có sự chyển biến mạnh
mẽ từ sau quá trình đổi mới, được bắt nguồn từ sự thay đổi căn bản và sâu sắc tư duy, nhận
thức của Đảng về kinh tế thị trường.
1. Giai đoạn 1976-1986
Thời kì trước đổi mới, trong giai đoạn từ 1976-1986, Đảng chỉ thừa nhận 2 thành
phần kinh tế là Kinh tế nhà nước và tập thể; thành phần kinh tế tư nhân bị cấm hoàn toàn cả ở
hai miền Nam Bắc.
trong thời kỳ 1976-1980 là: kết quả sản xuất không tương xứng với sức lao động và vốn đầu
tư bỏ ra, những mất cân đối lớn của nền kinh tế vẫn trầm trọng, thu nhập quốc dân chưa bảo
đảm được tiêu dùng của xã hội trong khi dân số tăng nhanh; thị trường, vật giá, tài chính, tiền
tệ không ổn định, đời sống của nhân dân lao động còn nhiều khó khăn. Vì thế, từ năm 1982,
Đảng này quyết định Việt Nam sẽ tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp và coi nông
nghiệp là mặt trận hàng đầu, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng, và kết hợp nông nghiệp, công
19
nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý, tăng
cường phân cấp cho địa phương trong công tác sản xuất và quản lý sản xuất. Kinh tế quốc
doanh vẫn tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, kinh tế gia đình được khuyến khích. Thị trường không
có tổ chức bị quản lý chặt chẽ.
Tính chung tốc độ phát triển 5 năm, năm 1981 tăng 2,3%, năm 1982 tăng 8,8%, năm
1983 tăng 7,2%, năm 1984 tăng 8,3%, năm 1985 tăng 5,7%, bình quân 1981-1985 tăng 6,4%/
năm.
Tuy nhiên, thời kỳ 1981-1985 kinh tế Việt Nam đã không thực hiện được mục tiêu đã
đề ra trong nghị quyết đại hội V là cơ bản ổn định tình hình kinh tế-xã hội, ổn định đời sống
nhân dân. Sai lầm về tổng điều chỉnh giá - lương - tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế đất
nước đến những khó khăn mới. Nền kinh tế-xã hội lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Siêu lạm
phát xuất hiện và kéo dài.
2. Giai đoạn 1986-2005
2.1, Kết quả thực hiện giai đoạn 1986-1990
Từ sau đại hội VI, Nhà nước ta đã tiến hành một loạt những cải cách về kinh tế để
chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Trong đó, nhà nước công nhận các
thành phần kinh tế: Quốc doanh, tập thể, và tư nhân; mỗi thành phần kinh tế có vai trò khác
nhau trong nền kinh tế:
- Kinh tế quốc doanh hiện đang nắm những bộ phận then chốt, có vị trí chi phối nền kinh tế,
có tác dụng điều tiết thị trường và giá cả ở một mức độ nhất định. Gần một phần ba các xí
nghiệp công nghiệp quốc doanh vươn lên trong kinh doanh và thích ứng được với cơ chế mới.
Tình hình lương thực - thực phẩm có chuyển biến tốt do thực hiện đúng đắn chính
sách Khoán 10 được triển khai từ năm 1988 trên quy mô toàn quốc khuyến khích nông dân
sản xuất lúa gạo. Từ chỗ thiếu ăn triền miên, năm 1988 còn phải nhập gần 50 vạn tấn gạo, nay
chúng ta không những đáp ứng được nhu cầu trong nước, mà còn có dự trữ và xuất khẩu.
Năm 1989 Việt Nam đã xuất khẩu 1,5 triệu tấn gạo.
3.
Đã mở rộng một bước kinh tế đối ngoại, kim ngạch xuất khẩu tăng khá (gấp 2,1 lần 5
năm 1981-1985, so với mục tiêu kế hoạch là 1,7 lần), nhất là xuất khẩu sang các nước không
phải xã hội chủ nghĩa; thu hẹp đáng kể tỷ lệ chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu, từ 1/2,6
năm 1985 đến năm 1990 chỉ còn 1/1,2. Từng bước phá thế bị bao vây về kinh tế, thu hút được
một số vốn đầu tư của nước ngoài. Sự cải thiện cán cân thanh toán quốc tế tuy chưa đủ để cân
bằng thu, chi ngoại tệ, song đã tạo cơ sở để giảm bớt những tác động phức tạp của tình hình
quốc tế hiện nay.
Như vậy đã có sự thay đổi căn bản tình hình kinh tế đất nước trong 2 giai đoạn 19811985 và giai đoạn 1986-1990.
Nội dung
1981-1985
Lương
thựcThiếu ăn, nhập khẩu
thực phẩm
1986-1990
Đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự
trữ và xuất khẩu
21
Hàng hóa trên
Cồng kềnh, quan lieu
nước
Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế:
Cân bằng xuất-nhập khẩu
Kiềm chế được một bước đà lạm
phát
Hình thành nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần
Sắp xếp lại, phát huy dân chủ
1.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh tuy có tăng nhưng nhìn chung còn thấp
2.
Nền kinh tế mất cân đối lớn trên một số mặt quan trọng còn phụ thuộc nặng vào bên
ngoài
3.
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo
cơ chế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực, đã xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực mới
mà chúng ta chưa lường hết và chưa xử lý tốt.
4.
Cơ chế quản lý mới bước đầu hình thành nhưng chưa đồng bộ, chưa được thể chế hoá
xuất khẩu cao, bình quân 2001 - 2004 đạt 16,3%/năm. Tỷ lệ nghèo giảm, đến năm 2004 chỉ
còn 7,8%; tỷ lệ nghèo chung chỉ còn 24,1%... GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo
tỷ giá hối đoái thực tế đạt khoảng 555 USD; tính theo tỷ giá sức mua tương đương đạt khoảng
2.659 USD.
- Cơ chế quản lý và phân phối có nhiều đổi mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Từ chỗ bị bao vây, cấm vận, nước ta đã phát triển quan hệ kinh tế với hầu khắp các nước, gia
nhập và có vai trò ngày càng tích cực trong nhiều tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực, chủ
động từng bước hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới. Nhịp độ tăng kim ngạch xuất khẩu
gần gấp ba nhịp độ tăng GDP. Thu hút được một khối lượng khá lớn vốn từ bên ngoài cùng
nhiều công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
- Thập niên 1990 và 5 năm đầu của thế kỷ XXI là thời kỳ mà Việt Nam tích cực hội nhập
kinh tế mà đỉnh cao là việc ký hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (năm
2006) và Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (năm 2001). Các sách báo trong nước thời kỳ này
dùng cụm từ "đổi mới" để mô tả thời kỳ 1986-2000, thời kỳ chuyển biến thực sự về nhận thức
tư duy kinh tế, áp dụng kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Báo chí nước ngoài khen ngợi
Việt Nam, ví Việt Nam như "con hổ" kinh tế trong tương lai gần.
23
- Vai trò của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế ở giai đoạn này:
Đến năm 2000, tỷ trọng khu vực kinh tế nhà nước trong GDP vào khoảng 39%; khu vực kinh
tế tập thể 8,5%; khu vực kinh tế tư nhân 3,3%; khu vực kinh tế cá thể 32%; khu vực kinh tế
hỗn hợp 3,9% và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 13,3%.
Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp
lại một bước, thích nghi dần với cơ chế mới, hình thành những tổng công ty lớn trên nhiều
lĩnh vực then chốt. Năm 1991, các xí nghiệp quốc doanh chiếm 53,5% giá trị sản xuất công
nghiệp, hầu hết kim ngạch ngoại thương, hầu hết bán buôn và 33,5% tổng mức hàng hóa bán
lẻ, hầu hết tín dụng và dịch vụ ngân hàng, 90,4% vận tải hàng hóa và 53,5% vận tải hành
khách.
Kinh tế tập thể ngày càng thu hẹp sản xuất. Cùng với sự biến động có tính bước ngoặt
2.3, Giai đoạn 2005 đến nay
- Những thành tựu:
Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của
các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu.
Khu vực kinh tế nhà nước đang được tổ chức lại, đổi mới và chiếm 38,4% GDP, chi
phối nhiều ngành kinh tế then chốt và tập trung hơn vào những lĩnh vực chủ yếu của nền kinh
tế.
Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực,
chiếm 45,7% GDP, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là giải quyết
việc làm và cải thiện đời sống nhân dân; trong đó, kinh tế hợp tác và hợp tác xã phát triển khá
đa dạng (đóng góp khoảng 6,8% GDP).
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, chiếm 15,9%
GDP, là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thương quốc tế.
- Những hạn chế:
Các thành phần kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Theo Bộ kế hoạch
và đầu tư, năm 2008 vốn đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước luôn chiếm tỉ trọng cao trong
tổng số vốn đầu tư phát triển toàn xã hội. Từ 2000-2003 luôn chiếm trên 50%. Năm 2007
tổng số vốn đầu tư toàn xã hội đạt 461,9 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn khu vực Nhà nước
200.000 tỷ đồng; chiếm 40,7%. Trong khi đó tỉ lệ đóng góp vào GDP của các thành phần
kinh tế khu vực Nhà nước, ngoài Nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài lần
lượt là 34,35%; 46,97% và 18,68%. Có thể thấy đóng góp vào GDP của khu vực kinh tế nhà
nước không tương xứng với nguồn lực (vốn đầu tư, vốn kinh doanh, tài sản cố định) mà nó sử
25