TƯ TƯỞNG CỦA LÊNIN VỀ NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN
CHỦ TRONG XÂY DỰNG ĐẢNG KIỂU MỚI. Ý NGHĨA ĐỐI VỚI
VIỆC TỰ ĐỔI MỚI, TỰ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG TA HIỆN NAY.
Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, một trong những nội dung
được Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm tập trung nghiên cứu tổng kết lý
luận cũng như tổ chức thực hiện trên thực tế là nguyên tắc tập trung dân chủ,
một vấn đề mà Đảng ta khẳng định nếu xem nhẹ hay từ bỏ nó sẽ dẫn đến nguy
cơ làm tan rã Đảng về mặt tổ chức. Do vậy, chúng ta cần nghiên cứu cả cơ sở
lý luận và thực tiễn của nguyên tắc này, từ đó quán triệt và thống nhất cao với
những chủ trương, biện pháp nhằm tăng cường thực hiện nguyên tắc tập trung
dân chủ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta hiện nay.
Như chúng ta đã biết, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản
đã bước vào giai đoạn phát triển cao, giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. giai cấp tư
sản từ một lực lượng xã hội tiến bộ trong giai đoạn phát triển đi lên của chủ
nghĩa tư bản đã biến thành lực lượng phản động. Sự phản động đó bao trùm
trên mọi lĩnh vực của xã hội tư bản. Dựa vào những kết luận của Mác trong
bộ “Tư bản”, Lênin đã phân tích một cách sâu sắc chủa nghĩa tư bản trong
giai đoạn mới và chỉ ra rằng chủ nghĩa đế quốc là đêm trước của cách mạng
vô ản.
Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân đã
lớn mạnh không ngừng cả về số lượng và chất lượng. Ý thức giác ngộ giai
cấp cũng ngày càn được nâng cao. phong trào đấu tranh của giai cấp công
nhân phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. ở nhiều nước châu Âu
giai cấp vô sản có đủ khả năng đoàn kết xung quanh mình tất cả những người
bị áp bức bóc lột để lật đổ chủ nghĩa tư bản và xây dựng xã hội mới. Cách
mạng vô sản đã trở thành một nhiệm vụ trực tiếp. Chính những điều kiện lịch
sử đó đòi hỏi cấp bách phải nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của
2
Như chúng ta đã biết: Tập trung dân chủ là nguyên lý xây dựng Đảng
kiểu mới về mặt tổ chức của giai cấp công nhân, do C.Mác và Ph.Ăngghen
đặt cơ sở, được V.I.Lênin khái quát, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta
khẳng định, kế thừa và thực hiện thành công trong xây dựng Đảng Cộng sản
Việt Nam trở thành một Đảng mácxít.
Mặc dù tư tưởng về tập trung dân chủ chưa được nêu thành nguyên tắc,
nhưng đã được C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập khá sớm trong Điều lệ Liên
đoàn đồng minh những người cộng sản cũng như trong nhiều tác phẩm khác.
Khi bàn về quyền uy, C.Mác viết: “Quyền uy có nghĩa là ý chí của người
khác bắt buộc chúng ta phải tiếp thu; mặt khác quyền uy ấy lấy sự phục tùng
làm tiền đề”1. Ở điều 25, Điều lệ Liên đoàn đồng minh những người cộng sản,
C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Mỗi hội viên của Liên đoàn phải liên lạc ít nhất
là ba tháng một lần, còn mỗi chi bộ phải liên lạc mỗi tháng một lần với Ban
chấp hành khu bộ của mình. Ít nhất cứ hai tháng một lần, mỗi khu bộ phải
báo cáo tình tình công tác của địa phương mình với tổng khu bộ, ít nhất ba
tháng một lần mỗi tổng khu bộ phải báo cáo tình hình công tác của địa
phương mình với Ban chấp hành Trung ương”2.
Kế thừa những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin tiếp tục
phát triển và làm sâu sắc thêm tư tưởng về tập trung dân chủ. Nâng tư tưởng
tập trung dân chủ của C.Mác và Ph.Ăngghen lên thành nguyên tắc trong xây
dựng Đảng kiểu mới về mặt tổ chức.
V.I.Lênin chỉ ra rằng: Đảng phải được tổ chức theo chế độ tập trung dân
chủ, chế độ tập trung dân chủ là nền tảng tổ chức của một đảng vô sản kiểu
mới. Thực hiện chế độ tập trung dân chủ trong Đảng sẽ làm cho Đảng thống
nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức; nhằm củng cố và tăng cường sức mạnh
của Đảng, làm cho đường lối của Đảng được thực hiện một cách có hiệu lực.
1
2
Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản trong công tác xây dựng
. V.I.Lênin, Toàn tập, tập 8, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979, tr.429
. V.I.Lênin, Toàn tập, Sđd, tập 8, 1979, tr.424
3 . V.I.Lênin, Toàn tập, Sđd, tập 41, 1977, tr.334
1
2
5
Đảng, nhưng thực hiện nguyên tắc như thế nào cho đúng là một vấn đề không
đơn giản. Nếu chủ thể nhận thức không có bản lĩnh chính trị và một động cơ
trong sáng thì nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ phản tác dụng, nó sẽ như một
con dao hai lưỡi. Theo V.I.Lênin, tập trung đi liền với dân chủ. Tập trung
càng cao thì dân chủ càng cao. Không thể có dân chủ mà thiếu tập trung và
ngược lại không thể có tập trung mà thiếu dân chủ. Khi viết về “Chế độ tập
trung và chế độ tự trị”, V.I.Lênin đã chỉ ra rằng: “Không được quên rằng khi
bênh vực chế độ tập trung, chúng ta chỉ bênh vực chế độ tập trung dân chủ
thôi”1, điều đó có nghĩa: tư tưởng tập trung quan liêu, chuyên quyền, độc
đoán, hoặc dân chủ vô tổ chức, vô chính phủ đều xa lạ với tư tưởng của
Người. V.I.Lênin đã từng phê phán rằng: “Ở ta, người ta luôn luôn lẫn lộn
chế độ tập trung với chế độ độc đoán và chế độ quan liêu. Lẽ tự nhiên là lịch
sử nước Nga phải đẻ ra một sự lẫn lộn như thế, nhưng dù sao đối với người
mácxít, điều đó vẫn là một điều dứt khoát không thể dung thứ được”2.
Tư tưởng trên đây của V.I.Lênin đã đặt nền móng cho việc xây dựng
Đảng ở Nga, sau đó được các Đảng trong Quốc tế cộng sản thừa nhận. Một
trong những điều kiện để được gia nhập Quốc tế cộng sản là các đảng phải
được xây dựng theo nguyên tắc “tập trung dân chủ”.
Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng
lập, giáo dục và rèn luyện. Người đã vận dụng sáng tạo học thuyết xây dựng
tùng số nhiều; cấp dưới phục tùng cấp trên; các địa phương phải phục tùng
Trung ương.
B. Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung.
Ở trong Đảng, mọi đảng viên có quyền nêu ý kiến, đặt đề nghị, tham gia
giải quyết vấn đề. Nhưng quyết không được trái sự lãnh đạo tập trung của
Đảng, trái nghị quyết và trái kỷ luật của Đảng, quyết chống: không xét thời
gian, địa điểm, điều kiện mà nói lung tung; tự do hành động; dân chủ quá trớn.
1. Chỉ có cơ quan lãnh đạo có quyền khai các cuộc hội nghị.
2. Tất cả các Nghị quyết của Đảng phải do cơ quan lãnh đạo chuẩn bị
kỹ càng, rồi giao cho các cấp thảo luận. Không được làm qua loa, sơ sài.
3. Khi bầu cử các cơ quan lãnh đạo trong Đảng, phải xem xét kỹ lưỡng
để để lập danh sách những đảng viên ứng cử.
7
4. Toàn thể đảng viên phải theo đúng Đảng chương thống nhất, kỷ luật
thống nhất của Đảng. Toàn thể đảng viên phải theo sự lãnh đạo thống nhất
của Trung ương.
Nói tóm lại: Để làm cho Đảng mạnh thì phải mở rộng dân chủ (thật thà
tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức
và tính kỷ luật”1.
Thực tiễn xây dựng, hoạt động của Đảng ta, của phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của nguyên tắc
tập trung dân chủ: Đối với Đảng ta, trải qua 76 năm xây dựng và lãnh đạo cách
mạng Việt Nam, Đảng luôn khẳng định tầm quan trọng của nguyên tắc tập
trung dân chủ. Đảng đã kiên trì, vận dụng sáng tạo nguyên tắc này cả trong
điều kiện khi chưa có hoặc khi đã có chính quyền; cả trong điều kiện chiến
tranh cũng như khi xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt trong điều kiện Đảng ta
là một đảng cầm quyền, Đảng đã trung thành, vận dụng đúng đắn, sáng tạo
trầm trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, bên cạnh đó lại bị chủ nghĩa đế quốc
và các thế lực thù địch ra sức tiến công trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, trong
đó chúng tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ; cho
việc thực hiện nguyên tắc này là nguyên nhân làm cho các Đảng Cộng sản
cầm quyền quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, kìm hãm sự phát triển...đã làm
cho một số Đảng Cộng sản dần dần mất phương hướng, xa rời, đi tới từ bỏ
nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo, chủ nghĩa
xã hội tan rã như ở Liên Xô và một số nước Đông Âu vừa qua.
1.2. Vị trí, vai trò, bản chất và nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của các
Đảng Cộng sản, nguyên tắc này chỉ đạo toàn bộ và xuyên suốt quá trình xây
dựng tổ chức, sinh hoạt nội bộ và hoạt động lãnh đạo của Đảng. Trước hết,
nguyên tắc này quy định việc xây dựng cơ cấu, hình thức tổ chức của Đảng,
như vấn đề chế độ sinh hoạt, tổ chức đại hội, chế độ thủ tục bầu cử, các cơ
quan lãnh đạo của Đảng; nguyên tắc quy định các chế độ để giải quyết các
9
mối quan hệ trong nội bộ Đảng, như giữa cấp trên với cấp dưới, giữa tập thể
với cá nhân, giữa đa số với thiểu số...; nguyên tắc quy định các nguyên tắc,
chế độ sinh hoạt Đảng, phương pháp tác phong lãnh đạo của Đảng, bảo đảm
cho các cấp uỷ, tổ chức Đảng và mỗi đảng viên vừa phát huy trách nhiệm
sáng tạo, tích cực, chủ động, vừa tập trung được sức mạnh trí tuệ và sức mạnh
của toàn Đảng. Nguyên tắc tập trung dân chủ là cơ sở bảo đảm cho sự đoàn
kết thống nhất trong Đảng về mặt tổ chức, đồng thời sự thống nhất về mặt tổ
chức là điều kiện vật chất để đảm bảo cho sự thống nhất về mặt chính trị, tư
tưởng được giữ vững và biến thành hiện thực. Nguyên tắc này còn là cơ sở để
xây dựng và giữ nghiêm kỷ luật Đảng, là tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt Đảng
cộng sản chân chính với các Đảng cơ hội, cải lương về mặt tổ chức.
khoá IX) đã cụ thể nguyên tắc tập trung dân chủ thành 6 nội dung chính như
sau:
“1. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập
thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
2. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc.
Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên. Giữa
hai kỳ đại hội, cơ quan lãnh đạo của Đảng là Ban Chấp hành Trung ương, ở
mỗi cấp là ban chấp hành đảng bộ, chi bộ (gọi tắt là cấp uỷ).
3. Cấp uỷ các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình
trước đại hội cùng cấp, trước cấp trên và cấp dưới; định kỳ thông báo tình
hình hoạt động của mình đến các tổ chức đảng trực thuộc, thực hiện tự phê
bình và phê bình.
4. Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng.
Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ
chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và
Ban Chấp hành Trung ương.
1
. Điều lệ Đảng CSVN, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2001, tr.4
11
5. Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành
khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu
quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến
thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp uỷ cấp trên cho đến
Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết,
không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp uỷ có thẩm
quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có
nguyên tắc tập trung dân chủ trong điều kiện đảng cầm quyền. Vì vậy, cách
mạng Việt Nam luôn dành được những thắng lợi to lớn, vĩ đại, đó là đã lãnh
đạo nhân dân cả nước tiến hành Cách mạng tháng Tám thành công; đánh bại
thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước và hiện nay đang lãnh đạo
tiến hành công cuộc đổi mới thu được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa
lịch sử.
Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động lãnh đạo của Đảng còn nhiều vấn đề
cần phải tiếp tục được chấn chỉnh, khắc phục. Trước hết, việc nhận thức và
thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ vẫn còn nhiều thiếu sót, khuyết điểm.
Nhận thức của nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chưa thật sâu
sức, đầy đủ, thống nhất về vị trí, vai trò, bản chất của nguyên tắc; chưa thấu
suốt và thực hiện tốt các nội dung nguyên tắc đã được xác định trong Điều lệ
Đảng, thậm chí có biểu hiện thiếu tôn trọng nguyên tắc. Chế độ sinh hoạt
Đảng, chế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách vừa thiếu quy định cụ thể,
vừa chấp hành nguyên tắc không nghiêm túc, chặt chẽ cho nên không ít nơi
vừa có tình trạng quan liêu, vi phạm dân chủ, vừa có biểu hiện dân chủ hình
thức hoặc dân chủ cực đoan, kỷ luật lỏng lẻo, cục bộ bản vị, gây mất đoàn kết
nội bộ, có nơi rất nghiêm trọng và kéo dài. Vẫn còn hiện tượng coi thường kỷ
cương phép nước, vô tổ chức, vô kỷ luật, cố tình không chấp hành nghị quyết,
chỉ thị, làm suy yếu khối đoàn kết thống nhất tư tưởng và tổ chức, chất lượng
sinh hoạt Đảng giảm sút, nhất là tổ chức đảng ở cơ sở. Việc nghiên cứu, tổng
kết, cụ thể hoá, hướng dẫn, kiểm tra và chỉ đạo nguyên tắc này cho phù hợp
với từng thời gian, từng lĩnh vực, phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ, phạm vi
13
của từng cấp uỷ, tổ chức đảng còn nhiều yếu kém. Việc đổi mới phương thức
lãnh đạo của Đảng còn chậm và lúng túng. Báo cáo về công tác xây dựng
Đảng của Ban Chấp hành Trung ương khoá IX tại Đại hội đại biểu toàn quốc
của nhân dân đối với Đảng, dẫn đến làm suy yếu Đảng.
Những khuyết điểm, yếu kém nêu trên, ngoài nguyên nhân chủ quan về
nhận thức, về quy chế, về kinh nghiệm lãnh đạo,...thì có một nguyên nhân
không kém phần quan trọng mà Đảng ta chỉ ra là: “Việc tổ chức thực hiện các
nghị quyết, chủ trương về xây dựng Đảng chưa nghiêm,... Một bộ phận không
nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp thiếu ý thức tu
dưỡng rèn luyện về phẩm chất đạo đức và năng lực, chạy theo chủ nghĩa cá
nhân, không hoàn thành nhiệm vụ nhưng chưa được xử lý kịp thời, kiên
quyết”1.
Cùng với những biểu hiện không đúng, vi phạm khi thực hiện nguyên tắc
tập trung dân chủ trong nội bộ Đảng nói trên, các thế lực thù địch, chống cộng
cũng tập trung đánh vào nguyên tắc tổ chức của Đảng, đặc biệt là nguyên tắc
tập trung dân chủ. Chúng xuyên tạc, cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ đến
nay đã lỗi thời, thực hiện tập trung dân chủ sẽ dẫn đến mất dân chủ trong Đảng,
làm cho Đảng rơi vào quân phiệt, độc đoán, độc tài. Họ ra sức tán dương và
khuyến khích thực hiện dân chủ tự do, dân chủ cực đoan, trong Đảng nên có
nhiều phe nhóm đối lập để đấu tranh, bàn cãi, tranh luận; chúng sử dụng triệt
để những chiêu bài “dân chủ”, “đa nguyên”, cổ vũ sự bất đồng ý kiến về quan
điểm trong Đảng, rồi lợi dụng sự bất đồng đó để chia rẽ Đảng thành những phe
phái đối lập; những kẻ phản bội lý tưởng xã hội chủ nghĩa, cơ hội, hữu khuynh,
xét lại, những hành động chống Đảng, chống chế độ thì được chúng ve vãn,
tâng bốc lôi kéo, mời chào tặng cho đủ thứ danh hiệu, còn những đảng viên
chân chính kiên quyết bảo vệ Đảng, bảo vệ lý tưởng của Đảng thì bị chúng
nhạo báng, chế giễu là bảo thủ, cứng nhắc. Chúng đối lập những người lãnh
đạo Đảng với đông đảo đảng viên, chia rẽ lớp đảng viên này với lớp đảng viên
khác, mưu toan gây mâu thuẫn trong nội bộ. Mục đích các thế lực thù địch
. Báo cáo của BCH TW khoá IX Về công tác xây dựng Đảng tại Đại hội X của Đảng, Báo Nhân dân, ngày
10.6.2006, tr.2
1
16
độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng ta đã tiếp tục giữ vững và phát huy truyền
thống vẻ vang, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lãnh
đạo sự nghiệp đổi mới dành được những thành tựu đáng phấn khởi, như trong
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội
X của Đảng đã khẳng định: “Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh
tế - xã hội, có sự thay đổi cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá
nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được cải
thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng
cố và tăng cường. Chính trị - xã hội ổn định. Quốc phòng và an ninh được
giữ vững. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức
mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho
đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp”.
Để có đủ khả năng và điều kiện lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước
dành thắng lợi, Đảng phải không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao
bản lĩnh, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Là Đảng cầm quyền,
lại hoạt động trong điều kiện mới hết sức phức tạp, Đảng ta đã ý thức rất sâu
sắc về vai trò, ý nghĩa của công tác đổi mới, chỉnh đốn Đảng. Từ Đại hội VI
đến Đại hội X, Đảng ta đã nghiêm khắc chỉ ra: bên cạnh những ưu điểm đã
đạt được, còn có những khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng; thừa
nhận công tác tư tưởng, công tác lý luận, công tác tổ chức cán bộ có nhiều
yếu kém, bất cập; “Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm
và lúng túng...Thiếu những quy định cụ thể bảo đảm thực hiện đúng đắn
nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong Đảng”1. Đồng thời đề
chủ chính là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo những nội dung cơ bản của
nguyên tắc cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể. Linh hồn của nguyên
. Báo cáo của BCH TW khoá IX Về công tác xây dựng Đảng tại Đại hội X của Đảng, Báo Nhân dân, ngày
10.6.2006, tr.3
2. Báo cáo của BCH TW khoá IX Về công tác xây dựng Đảng tại Đại hội X của Đảng, Báo Nhân dân, ngày
10.6.2006, tr.3
1
18
tắc tập trung dân chủ là nhằm tăng cường thêm năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu, củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng để Đảng ngang tầm với yêu
cầu, nhiệm vụ cách mạng từng giai đoạn; thể hiện ở những chủ trương, biện
pháp lãnh đạo sát đúng, được chấp hành triệt để, thực hiện có kết quả cao. Vì
thế, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không phải là vấn đề mới,
nhưng phải thực hiện nghiêm túc, phát huy tác dụng của nguyên tắc, tránh
những sai lầm hoặc coi trọng yếu tố tập trung, coi nhẹ yếu tố dân chủ và ngược
lại.
Đối với các tổ chức đảng, cấp uỷ và mọi cán bộ, đảng viên, trước hết
phải thường xuyên quán triệt, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, bản chất và
nội dung của nguyên tắc tập trung dân chủ. Tăng cường, giữ vững nguyên tắc
tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt Đảng, chống mọi biểu hiện vi
phạm quyền dân chủ, dân chủ hình thức, hoặc lợi dụng dân chủ để mưu cầu
lợi ích riêng, cục bộ làm suy yếu sức mạnh của tổ chức đảng. Hết sức cảnh
giác với những âm mưu, thủ đoạn nhằm xuyên tạc, bóp méo bản chất của
nguyên tắc; các luận điệu phủ định nguyên tắc, hay đối lập giữa tập trung và
dân chủ. Đồng thời, cần quan tâm phát hiện, ngăn chặn những động cơ với
mục đích xấu của tư tưởng cơ hội, cá nhân chủ nghĩa, với ý đồ làm sai lệch
nội dung nguyên tắc để đem lại lợi ích cho cá nhân, phe phái.
đảng viên thực hiện tốt nhiệm vụ được giao; giữ mối liên hệ với nhân dân ở nơi
cư trú và ở nơi làm việc theo đúng quy định 76 của Bộ Chính trị.
Bên cạnh việc nâng cao nhận thức và thực hiện nguyên tắc tập trung
dân chủ, ở các cấp uỷ và tổ chức đảng cần tăng cường công tác kiểm tra việc
chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ. Trước hết phải kiểm tra việc chấp
hành đường lối, nghị quyết, chủ trương, chính sách, Điều lệ Đảng, nhiệm vụ
chính trị, chức trách được giao, cũng như tinh thần, thái độ trong sinh hoạt
đảng. Những cán bộ, đảng viên có phát ngôn và việc làm vô tổ chức, vô kỷ
luật, không chấp hành nghị quyết, Điều lệ Đảng phải được xử lý kịp thời,
20
không bao chen nhân nhượng; đấu tranh kiên quyết loại bỏ những tư tưởng,
hành động hữu khuynh, nể nang trong xử lý kỷ luật. Đối với đảng viên là cán
bộ chủ chốt ở các cấp uỷ phải gương mẫu chấp hành và có trách nhiệm tuyên
truyền, kiểm tra phát hiện những đảng viên, tổ chức đảng không chấp hành
hoặc chấp hành không đầy đủ, nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ của
Đảng để có những biện pháp uốn nắn và khắc phục.
Tóm lại, nguyên tắc tập trung dân chủ cũng như các nguyên tắc, chế
độ khác là chính do con người hoặc tổ chức đặt ra trên cơ sở nhận thức đúng
quy luật khách quan. Cho nên việc thực hiện như thế nào, chất lượng hiệu
quả đến đâu tuỳ thuộc rất nhiều vào phẩm chất, năng lực nói chung, ý thức
giác ngộ, trách nhiệm chính trị, đạo đức lối sống, năng lực nhận thức nói
riêng của người lãnh đạo.
Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn của việc thực hiện nguyên tắc tập
trung dân chủ, có thể khẳng định rằng: Nguyên tắc tập trung dân chủ đến nay
không lỗi thời, các Đảng Cộng sản và mỗi đảng viên cộng sản không được
phép từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ. Tuy nhiên, trong điều kiện, hoàn
cảnh mới hiện nay, chúng ta phải hiểu và thực hiện nguyên tắc tập trung dân