TIỂU LUẬN THỰC TRẠNG và NHỮNG GIẢI PHÁP cơ bản NHẰM NÂNG CAO TRÌNH độ kỹ THUẬT CÔNG NGHỆ của CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 40

1

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN
NHẰM NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ KỸ THUẬT - CÔNG NGHỆ
CỦA CÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN NƯỚC TA

Từ một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên, việc thực hiện công nghiệp hóa
là một tất yếu khách quan ở nước ta. Càng ngày chiến lược công nghiệp hoá
càng được cụ thể hóa, bổ sung và hoàn thiện. Gần đây, Đảng và nhà nước ta đã
gắn nó với hiện đại hóa và khẳng định: Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa (CNH, HĐH) đất nước việc công nghiệp hóa nông nghiệp và phát triển
toàn diện kinh tế nông thôn có một vai trò đặc biệt quan trọng. Thực tế cho thấy
rằng, không thể thực hiện thành công bất kỳ một chính sách phát triển kinh tế xã hội nào mà không gắn với việc phát triển nông thôn. Đảng và nhà nước ta đã
nhiều lần khẳng định: phát triển toàn diện nông thôn không chỉ là nhiệm vụ kinh
tế mà còn là vấn đề chính trị - xã hội có ý nghĩa chiến lược và lâu dài đối với sự
phát triển của đất nước trong bối cảnh hiện nay, không thể tách dời CNH, HĐH,
không thể tách dời việc chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế quốc dân. Thậm chí,
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn còn được coi là là một trụ cột cốt lõi của
toàn bộ quá trình công nghiệp hóa nước ta trong giai đoạn tới. Đối với việc thực
hiện quá trình này, phát triển công nghiệp nông thôn có một ý nghĩa hết sức to
lớn. Phát triển công nghiệp nông thôn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông thôn, mở rộng và phát triển sản xuất, hình thành, mở rộng thị
trường, khai thác những nguồn lực sẵn có trên địa bàn, tạo nguồn thu ổn định và
tăng thu nhập cho nông dân…từ đó mà đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn.


2

Những năm qua, thực hiện chủ trương CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn chúng ta đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, theo đó công nghiệp nông

tầng…thì kỹ thuật - công nghệ có một vị trí hết sức quan trọng. Hầu hết các nhà
nghiên cứu về công nghiệp nông thôn đều đánh giá cao vai trò, tác dụng của kỹ
thuật - công nghệ đối với sự phát triển của khu vực kinh tế này. Cả trong nghiên
cứu lẫn trong chỉ đạo thực tiễn, nâng cao trình độ kỹ thuật - công nghệ của công
nghiệp nông thôn luôn được xem là nhiệm vụ then chốt trong thời gian tới.
Với tư cách như một thành tố của quá trình sản xuất - bao gồm tập hợp
các công cụ, phương pháp, quy tắc, kỹ năng, kỹ thuật - công nghệ không chỉ là
nhân tố chủ yếu nâng cao trình độ cơ sở vật chất kỹ thuật, chất lượng nguồn lao
động của các cơ sở công nghiệp nông thôn, gắn kết công nghiệp nông thôn với
công nghiệp đất nước, mà nó còn là nhân tố cơ bản quyết định chất lượng sản
phẩm, góp phần vào việc mở rộng, phát triển các ngành của công nghiệp nông
thôn, qua đó thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn. Kỹ thuật - công nghệ tiên tiến, hợp lý sẽ trực tiếp thúc đẩy công nghiệp
nông thôn phát triển. Ngược lại, sự lạc hậu về kỹ thuật - công nghệ là một yếu tố
có tác động bất lợi cho khả năng phát triển, hiệu quả sản xuất kinh doanh, tới khả
năng đổi mới, tự đổi mới của công nghiệp nông thôn nói chung cũng như khả
năng cạnh tranh của sản phẩm do nó sản xuất ra. Điều này sẽ tác động vào vị trí
của công nghiệp nông thôn trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, tới ảnh
hưởng của nó đến quá trình CNH, HĐH đất nước. C. Mác đã chỉ ra rằng: “Năng
suất lao động không phải chỉ phụ thuộc vào tài nghệ khéo léo của người lao
động, mà còn phụ thuộc vào tính chất hoàn bị của công cụ của họ nữa”. Chủ tịch
Hồ Chí Minh cũng chỉ ra: “Cải tiến nông cụ thì công việc đỡ nặng nhọc, lại
nhanh, kịp thời vụ. Không cải tiến nông cụ không thể tăng được năng suất lao
động, không thể tiến bộ được”. Lịch sử phát triển của công nghệ đã chứng minh
rằng, mỗi trình độ công nghệ mới đạt được, đều dẫn tới sự thay đổi sâu sắc, triệt


4

để các phương tiện, cơ sở vật chất kỹ thuật và cách thức sản xuất trong tất cả các

có sự đầu tư thỏa đáng để nâng cao trình độ kỹ thuật - công nghệ khu vực này.
Nhận thức đầy đủ vấn đề đó, Đảng và nhà nước ta luôn coi đây là một trong
những nhân tố cơ bản bảo đảm sự thành công của quá trình CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương
khóa IX đã khẳng định: “Đẩy mạnh việc nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao
khoa học, công nghệ cho sản xuất, coi đây là khâu đột phá quan trọng nhất để
thúc đẩy phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn”.
2. Thực trạng kỹ thuật - công nghệ của công nghiệp nông thôn nước ta
Cùng với các lĩnh vực khác của nền kinh tế, thời gian qua trong công
nghiệp nông thôn nước ta, việc triển khai ứng dụng kỹ thuật tiên tiến đã được
nhà nước, các cấp chính quyền cũng như bản thân các chủ cơ sở sản xuất quan
tâm. Nhiều địa phương đã đầu tư trang bị các máy móc, thiết bị hiện đại, nhất là
công nghiệp khai thác, cơ khí, tiểu thủ công nghiệp. Hiện hầu như vùng nào cũng
đã có doanh nghiệp có trang bị máy móc, thiết bị mới, đắt tiền. Nhiều thiết bị gia
công cơ khí trị giá 150- 200 triệu đồng được các hộ gia đình, doanh nghiệp đưa
vào sử dụng một cách rộng rãi ở nhiều địa phương. Các thiết bị luyện kim trung
tần có trị giá trên một tỷ đồng cũng đã được trang bị trong một số doanh nghiệp
ở Nam Định, Hải Phòng… từ đó hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày được nâng
cao, đời sống người lao động cũng được cải thiện một phần.
Mặc dù vậy, kỹ thuật - công nghệ của công nghiệp nông thôn hiện nay
đang đặt ra những bất cập, còn rất lạc hậu, không phù hợp với yêu cầu thực tiễn,
làm ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển công nghiệp nông thôn nước ta.
Bức xúc trước vấn đề này, nhiều nhà nghiên cứu đòi hỏi phải ngay lập tức đưa


6

những công nghệ hiện đại vào khu vực nông thôn, trước hết là công nghiệp nông
thôn để nhanh chóng nâng cao trình độ của sản xuất ở nông thôn, khắc phục sự
lạc hậu về kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn so với đô thị. Về kỹ thuật công nghệ của công nghiệp nông thôn nước ta hiện nay, có thể đánh giá khái


Hiện

Không

đại



0,75

1,49


7

Thương mại kiêm tiểu
thủ công nghiệp
Chuyên doanh tiểu thủ

42,86

57,14

-

-

-


50% số hộ được điều tra cho biết trang thiết bị của mình thuộc loại hiện đại hoặc
có trình độ cơ khí hóa, 44,44% số hộ dùng thiết bị bán cơ khí và chỉ có 3,7% số
hộ dùng khung dệt thủ công cải tiến. Hầu hết các hộ dùng thiết bị bán cơ giới là
những hộ có thị trường chưa ổn định. Tuy nhiên, song song với quá trình tìm
kiếm và khai thác thêm thị trường mới, nhiều hộ trong nhóm này cũng cho biết
đang có kế hoạch thay thế các thiết bị bán cơ giới bằng các thiết bị cơ giới để có
chất lượng ổn định hơn và có năng suất cao hơn. Cũng cần lưu ý thêm là ở các
xã đã được điều tra, 75% số hộ được phỏng vấn cho rằng việc đổi mới thiết bị có
ảnh hưởng tốt tới sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, riêng tại Bát Tràng, chỉ có
37% số hộ được điều tra cho rằng tác động của đổi mới trang thiết bị là tích cực,
trong khi đó có tới 46,9% cho rằng việc đổi mới trang thiết bị ảnh hưởng không
tốt tới kết quả sản xuất kinh doanh. Những biểu hiện không tốt này không được
các hộ mô tả rõ. Nhưng nghiên cứu sâu hơn tại các hộ này, tình hình phổ biến
diễn ra là khả năng quản lý và quy mô của thị trường do chủ hộ tìm kiếm, khai


8

thác được không phù hợp với năng suất và hiệu quả kinh tế mà các trang thiết bị
mới có thể đảm nhiệm.
Kỹ thuật - công nghệ của các ngành cũng như trong nội bộ các ngành
thuộc công nghiệp nông thôn hiện tại không chỉ thấp mà còn đang có sự phân
hóa khá mạnh mẽ về trình độ. Ngoài một số ngành được coi là có sự đổi mới
công nghệ sớm và khá nhất như, dệt, may, khai thác, mộc các ngành còn lại hầu
như chưa có sự thay đổi lớn về kỹ thuật - công nghệ. Nhất là chế biến nông sản,
thực phẩm và mây tre đan. Tình trạng này gây ra nhiều khó khăn, bất cập trong
tiêu thụ và trao đổi các hàng hóa cả ở trong và ngoài nước.
Kỹ thuật và công nghệ của công nghiệp nông thôn nước ta có xuất xứ từ
nhiều nguồn khác nhau. Thiết bị của các cơ sở sản xuất công nghiệp ở nông thôn
là: các thiết bị tận dụng do các doanh nghiệp nhà nước hoặc các đơn vị sản xuất

được sản xuất từ nửa cuối thập kỷ 80 chỉ chiếm khoảng 10%. Khảo sát cũng tại
địa phương này, năm 2003 cho thấy số thiết bị được sản xuất từ 10 năm trở lại
đây cũng vẫn chỉ chiếm xấp xỉ 11% tổng số thiết bị đang được sử dụng. Để tận
dụng triệt để, nhanh chóng quay vòng vốn và thu hồi vốn đầu tư, chúng thường
được tận dụng một cách tối đa trong điều kiện ít được bảo dưỡng theo đúng chế
độ và thiếu nhiều thiết bị đảm bảo kèm theo. Bởi vậy, mức độ ổn định và chính
xác không cao, tiêu hao điện năng, nguyên vật liệu nhiều, dẫn đến chất lượng sản
phẩm thấp, hiệu quả sản xuất không cao.
Thứ hai, năng lực tự đổi mới kỹ thuật - công nghệ của các doanh nghiệp
công nghiệp nông thôn ở nước ta rất thấp, trong khi đó, các nguồn hỗ trợ cho
việc đổi mới đó chỉ có hạn.
Khái niệm đổi mới và tự đổi mới kỹ thuật - công nghệ thường được hiểu
như những hoạt động cải tiến, nâng cấp hiện đại hóa hoặc thay thế các loại thiết
bị và công nghệ trong các đơn vị sản xuất thuộc công nghiệp nông thôn. Tuy


10

nhiên, nó cũng bao hàm cả nghĩa là làm cho các thiết bị và công nghệ được
chuyển giao cho các đơn vị này thích ứng được với điều kiện sản xuất của mỗi
đơn vị cơ sở. Điều này không chỉ là một việc nên làm, mà còn là yêu cầu quan
trọng đặt ra với bất kỳ một đơn vị sản xuất nào, dù ở nông thôn hay thành thị.
Năng lực tự đổi mới kỹ thuật - công nghệ của các đơn vị sản xuất phụ thuộc vào
hai yếu tố cơ bản là khả năng bảo đảm vốn theo nhu cầu của đầu tư đổi mới và
năng lực, trình độ của nguồn nhân lực trong đơn vị. Cả hai yếu tố này đều thuộc
những vấn đề khó giải quyết của các cơ sở. Nếu chỉ 10% lực lượng lao động đã
được đào tạo về nghề nghiệp thì khả năng tiếp nhận và vận hành thiết bị và công
nghệ cũng đã khó khăn, chưa nói tới việc tự nghiên cứu, cải tiến chúng. Qua tìm
hiểu vấn đề đổi mới kỹ thuật - công nghệ của tiểu thủ công nghiệp ở ngoại thành
Hà Nội, chúng ta có thể thấy, nhu cầu vốn cho đổi mới thiết bị và công nghệ của

phẩm bị nứt, công khá cao.
Trong khi máy móc, thiết bị lạc hậu, công nghệ sản xuất cũng lạc hậu
tương xứng. Hầu hết các công nghệ được sử dụng trong công nghiệp nông thôn
là những công nghệ cổ truyền hoặc những công nghệ thuộc các thế hệ đã được
đưa vào sử dụng từ giữa thế kỷ trước. Những cải tiến, đổi mới được tiến hành
trong mấy năm vừa qua chỉ rất ít, lại không cơ bản. Những đầu tư cho việc
nghiên cứu công nghệ dành riêng cho công nghiệp nông thôn là không đáng kể.
Hai hướng nghiên cứu, triển khai chủ yếu được thực hiện trong mấy năm
qua chỉ là nghiên cứu về máy móc, thiết bị: máy móc thiết bị phục vụ sản xuất
nông nghiệp (gồm các loại máy làm đất, máy động lực) và thiết bị chế biến
lương thực (về cơ bản vẫn phục vụ sản xuất nông nghiệp). Những hướng này
chưa được đầu tư để nghiên cứu và triển khai, ứng dụng một cách thỏa đáng nên
kết quả còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu. Hiện nay, nhiều thiết bị phục


12

vụ sản xuất trong nông nghiệp có nguồn gốc từ Trung Quốc mà chất lượng chỉ
tương đương với trình độ sản xuất của nước ta. Phần lớn các loại máy làm đất,
máy động lực do các nhà máy cơ khí nông nghiệp nước ta có thông số kinh tế kỹ thuật tương đương với máy do Trung Quốc sản xuất. Qua khảo sát 144 thiết
bị gia công đồ gỗ ở Vân Hà (Đông Anh), có 41 cái được sản xuất trong nước,
còn lại 103 cái (chiếm71,5%) do Trung Quốc chế tạo. Trong khi đó, từ năm
1996, Nhà máy cơ khí Nam Hồng (Hà Nội) thậm chí còn thiết kế và sản xuất
những loại máy làm đất chuyên dùng phục vụ miền núi mà Trung Quốc chưa sản
xuất được. Mặc dù vậy, do sự đầu tư chưa đồng bộ và thiếu chiến lược xúc tiến
nhất quán, dài hạn nên các thiết bị trên chưa được đưa ra thị trường thành công.
Đánh giá một cách tổng thể, tuy các cơ quan nghiên cứu đã có những
thành công nhất định và đã có những nhận thức đúng đắn về sự cần thiết phải
nghiên cứu các công nghệ thích hợp cho nông thôn, nhưng cho tới nay chưa
nghiên cứu, thiết kế được công nghệ nào cho nông thôn và công nghiệp ở nông

14,8

Thái Lan
148,1
30,4


13

Đậu
tương
Dứa
Mía

15,9

10,2

11,4

-

11,3

13,7

139,9
139,4

84,4

Khoảng dao
Particulates

X>

tiêu

động
1–2
2-3

Đa Hội
Khu
Khu
sản
dân cư
xuất
Khoảng dao
động
1 - 12 1 - 4

Minh Khai
Khu
Khu
sản
dân cư
xuất
Khoảng dao
động
1- 8


6 - 43

3-5


14

Nguồn: UNDP, Michael DiGregorio: Công nghiệp làng xã ở Việt Nam,
2003.
Một thực tế nữa là hiệu suất sử dụng thiết bị trong công nghiệp nông thôn
hiện đang rất thấp. Phần nhiều cơ sở chỉ sử dụng được khoảng 40 – 50% công
suất, thậm chí nhiều cơ sở chỉ sử dụng được 15 – 20% công suất thiết bị. Hệ
thống máy phát lực nhập từ nhiều nước khác nhau, sử dụng các loại phụ tùng,
chi tiết có những quy cách, chất lượng khác nhau, đã gây ra nhiều khó khăn
trong quá trình sử dụng. Hệ thống điện tuy có sự phát triển nhanh chóng mấy
năm qua, nhưng nhiều nơi xây dựng không đứng quy cách, thiết kế, việc quản lý
lại không chặt chẽ và khoa học, gây ra tổn thất lớn và không bảo đảm an toàn.
Có thể thấy, nhu cầu về tiến bộ khoa học công nghệ trong công nghiệp
nông thôn hiện còn phân tán. Sự phân tán này bắt nguồn từ sự phân tán của chính
bản thân công nghiệp nông thôn. Mỗi cơ sở sản xuất thường ở quy mô nhỏ, do
đó nguồn vốn dành cho ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ ít, phần nhiều bó
tay các chủ doanh nghiệp và làm cho họ lúng túng trong việc chọn hướng tiến bộ
cần ứng dụng. Nhiều doanh nghiệp không biết bắt đầu từ đâu. Các hộ gia đình
thường sản xuất trên cơ sở học hỏi người khác, ít người chủ động đặt vấn đề đưa
tiến bộ kỹ thuật công nghệ vào sản xuất. Rải rác trong các địa phương nhu cầu
ứng dụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ đã xuất hiện nhưng không phổ biến. Trong
các cuộc phỏng vấn các chủ kinh doanh ở nông thôn thuộc các tỉnh Ninh Bình,
Nam Định, Hà Nam, Hải Phòng, địa phương nào cũng có người tỏ ý tìm kiếm và
triển khai các công nghệ hoặc thiết bị mới, các thiết kế sản phẩm mới trong lĩnh

- Sự quản lý, hỗ trợ và tác động của nhà nước, chính quyền địa phương
chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao trình độ kỹ thuật - công nghệ của công
nghiệp nông thôn. Trong đó vấn đề đảm bảo vốn luôn được coi là điểm đáng chú
ý nhất (trong năm 5 từ 2001 – 2005, tổng mức đầu tư cho khoa học công nghệ


16

chỉ có 263,44 tỷ đồng, chiếm 1,84% tổng ngân sách nhà nước cấp cho ngành
nông nghiệp qua Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
- Thiếu các hình thức thông tin thích hợp về các tiến bộ khoa học - công
nghệ, làm cho người có nhu cầu không biết liên hệ với đầu mối nào, dẫn tới các
hoạt động dịch vụ “chỉ trỏ” trong chuyển giao công nghệ…
Xác định mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2006 - 2010, Đại hội Đảng lần thứ X
đã chỉ rõ: “Tốc độ phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn không thấp hơn
mức bình quân của cả nước…Nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh, hàm lượng
khoa học công nghệ và tỷ trọng giá trị tăng thêm, giá trị nội địa trong sản phẩm
công nghiệp”2. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này, việc đổi mới và nâng cao
trình độ kỹ thuật - công nghệ của công nghiệp nông thôn là vấn đề hết sức cần
thiết và không thể thiếu.
3. Một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao trình độ kỹ
thuật - công nghệ của công nghiệp nông thôn ở nước ta hiện nay
* Quan điểm chỉ đạo
Một là, ứng dụng nhanh công nghệ tiên tiến khi có nhu cầu thực sự, còn
phổ biến là dùng công nghệ thích hợp với điều kiện cụ thể của địa phương.
Mục tiêu chung của phát triển công nghiệp nông thôn là góp phần nâng
cao trình độ kỹ thuật và công nghệ của nông thôn, từ đó thực hiện CNH, HĐH
nông thôn, nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ ở nông thôn. Theo nghĩa đó,
trình độ kỹ thuật - công nghệ của các đơn vị sản xuất kinh doanh công nghiệp
nông thôn phải không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, do các đơn vị sản xuất

nguồn tài trợ để xây dựng và thực hiện các chương trình xử lý chất thải, bảo vệ
môi trường ở địa phương, đồng thời đặt ra những yêu cầu về tiến độ áp dụng các
giải pháp bảo vệ môi trường buộc các cơ sở sản xuất thuộc công nghiệp nông
thôn thực hiện. Các giải pháp bảo vệ môi trường về mặt tổ chức cần được các cơ
sở sản xuất tuân thủ triệt để. Các sản phẩm của công nghiệp nông thôn cần được


18

cải tiến và đổi mới theo hướng thích ứng tốt hơn với nhu cầu sử dụng của cuộc
sống hiện đại và đáp ứng được các yêu cầu về bảo vệ môi trường.
Hai là, phát huy vai trò trách nhiệm của các tổ chức chính trị xã hội, các
lực lượng và cá nhân mà trước hết là vai trò nhà nước và các cơ sở công nghiệp
nông thôn trong việc nâng cao trình độ kỹ thuật - công nghệ.
Cần phải thấy rằng, công nghiệp nông thôn là một bộ phận của công
nghiệp và cũng là một bộ phận của kinh tế lãnh thổ. Công nghiệp nông thôn có
sự đa dạng về tất cả các mặt: ngành nghề, thành phần kinh tế, hình thức tổ chức,
quy mô…Điều này đòi hỏi cần có sự kết hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước
ở địa phương với các cơ quan quản lý ngành trong việc xây dựng và triển khai
thực hiện các quy hoạch phát triển công nghiệp nông thôn của từng vùng. Theo
đó, cần phải phát huy trách nhiệm của cả hai phía : nhà nước và các doanh
nghiệp công nghiệp nông thôn trong đổi mới, nâng cao trình độ kỹ thuật - công
nghệ. Nhà nước vạch quy hoạch phát triển, hỗ trợ các đơn vị sản xuất đổi mới và
hiện đại hóa về mặt kỹ thuật - công nghệ. Các đơn vị sản xuất, đặc biệt là các
đơn vị có quy mô lớn, có trách nhiệm xây dựng chiến lược về khoa học công
nghệ cho mình và chủ động tự triển khai thực hiện các chiến lược đó.
Quán triệt quan điểm cơ bản nêu trên, trong nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ của công nghiệp nông thôn, những năm tới, chúng ta cần phải nghiên
cứu, xây dựng và thực hiện tốt các giải pháp phù hợp.
* Một số giải pháp cơ bản
- Đối với nhà nước và chính quyền địa phương các cấp

cứu thuộc hệ thống nhà nước, cần có những hướng nghiên cứu dành riêng cho
công nghiệp nông thôn. Ngoài ra, cũng cần huy động cả các nguồn tài trợ quốc tế
để hỗ trợ công tác nghiên cứu phục vụ công nghiệp nông thôn. Muốn vậy, các cơ


20

quan có liên quan tới các dự án này ở từng địa phương cần đưa ra những hoạt
động thuộc loại này vào văn kiện của dự án.
Nhà nước sử dụng hệ thống chính sách đồng bộ kích thích các đơn vị sản
xuất nâng cao năng lực công nghệ nội sinh, trước hết là nâng cao trình độ kỹ
thuật của người lao động tại các đơn vị sản xuất và hoàn chỉnh cơ cấu lao động
của họ. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học, nhất là cơ chế quản lý tài chính, nhân
sự, nâng cao hiệu quả nghiên cứu và chuyển giao khoa học – công nghệ cho
nông dân. Việc nâng cao nhận thức chung cho người lao động cũng cần được
gắn với việc đào tạo chuyên môn, có tính chất định hướng theo ngành nghề.
Trong hệ thống giáo dục phổ thông ở các vùng nông thôn, những nội dung giáo
dục về kỹ năng, kỹ thuật cơ bản cũng phải được cải tiến cho phù hợp với những
điều kiện của nông thôn và yêu cầu của các địa phương, nhất là nơi có ngành
nghề tiểu thủ công nghiệp.
Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương cần dành những ưu tiên thích
hợp về các mặt con nguời, tài chính, cơ sở vật chất hỗ trợ cho các đơn vị sản
xuất thuộc công nghiệp nông thôn để họ chủ động tự đổi mới sản phẩm, công
nghệ và thiết bị của mình. Trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp, nhà nước và các
tổ chức có liên quan cần đặc biệt chú ý giúp họ hình thành chiến lược công nghệ
và sản phẩm. Các chính sách sử dụng thuế để kích thích doanh nghiệp đổi mới
công nghệ như hiện nay tỏ ra không có tác dụng lớn như mong muốn, vì khoảng
dao động của các quy định cho phép các cơ quan quản lý nhà nước có quyền quá
lớn trong việc vận dụng. Thực hiện chế độ nghĩa vụ công tác phục vụ nông thôn
của các cán bộ khoa học - kỹ thuật và khuyến khích các nhà khoa học tham gia

đại vào mọi cơ sở sản xuất để nhanh chóng hiện đại hóa, đưa công nghiệp nông
thôn lên trình độ ngang bằng với các cơ sở công nghiệp ở đô thị. Việc lựa chọn


22

thận trọng công nghệ thích hợp cho công nghiệp nông thôn rồi từng bước hiện
đại hóa chúng một cách có chọn lọc, có trọng điểm mà Trung Quốc đã tiến hành
cần được xem như một bài học, một kinh nghiệm bổ ích, chúng ta cần áp dụng.
- Về phía các đơn vị doanh nghiệp, những việc cần phải làm đó là:
Trước tiên, phải nhận thức một cách đầy đủ về sự cần thiết khách quan,
về nhu cầu đổi mới kỹ thuật - công nghệ ngay trong đơn vị mình. Cần phải thấy
được rằng, trong điều kiện sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng công nghệ hiện
đại, với một hiện trạng kỹ thuật - công nghệ như hiện nay, các cơ sở công nghiệp
nông thôn sẽ khó có thể đứng vững, chưa nói tới thực hiện tốt vai trò của mình
trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nếu không có những đầu tư thỏa đáng để
đổi mới, nâng cao và ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật - công nghệ mới. Đổi mới
kỹ thuật - công nghệ là nhu cầu nội tại của chính công nghiệp nông thôn. Tư
tưởng cơ bản này phải được tất cả các lực lượng có liên quan nhận thức, quán
triệt sâu sắc.
Bồi dưỡng các kiến thức, hiểu biết về kỹ thuật - công nghệ có liên quan
tới sản xuất kinh doanh của mình. Các doanh nghiệp không được trông chờ ỷ lại
vào sự giúp đỡ của nhà nước, cơ quan chủ quản cấp trên, mà phải chủ động xây
dựng chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, trang bị kiến thức, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề, kiến thức về khoa học công nghệ cho đội ngũ.
Để họ có thể đảm đương tốt được các nhiệm vụ theo phân công, hỗ trợ lực
lượng, bộ phận khác khi cần thiết. Việc làm này có thể tiến hành thông qua hình
thức gửi đi đào tạo ở các cơ sở đào tạo chính quy, tập trung của nhà nước; có thể
trực tiếp tổ chức tại chính cơ sở dưới hình thức: vừa học vừa làm, tập huấn, hội
thảo, trao đổi kinh nghiệm…Các kiến thức cần trang bị phải bảo đảm cơ bản,

ngành, lĩnh vực, công đoạn sản xuất khi thấy cần thiết và có đủ các điều kiện
đảm bảo như: chế biến nông sản sau thu hoạch, dệt may, cơ khí chế tạo, khai


24

thác…Khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải và kém hiệu quả, nhập thiết
bị thiếu đồng bộ. Trong việc huy động vốn phục vụ cho việc đổi mới, nâng cao
trình độ kỹ thuật - công nghệ của công nghiệp nông thôn, cần phải đa dạng hóa
các nguồn đầu tư theo hướng kết hợp giữa vốn nhà nước cấp với các hình thức
huy động khác như vay vốn cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước; lập quỹ hỗ trợ
từ các đối tượng kinh tế, các liên doanh với nước ngoài.
KẾT LUẬN

Kỹ thuật - công nghệ có vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội, là yếu tố nội tại, cấu thành trong quá trình sản xuất, là động lực quan
trọng của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Là một bộ phận của nền công nghiệp
quốc gia, sự tồn tại và phát triển của công nghiệp nông thôn nước ta hiện nay
không tách rời với những tiến bộ công nghệ. Trong quá trình phát triển của mình,
kỹ thuật - công nghệ được coi là là nhân tố hết sức quan trọng, là động lực chủ
yếu để đổi mới trang thiết bị vật chất kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu ngành nghề,
quyết định chất lượng sản phẩm, đồng thời, góp phần tăng cường mối quan hệ
giữa công nghiệp nông thôn với công nghiệp của đất nước.Vì vậy, phát triển
công nghiệp nông thôn dựa trên nền tảng những tiến bộ kỹ thuật - công nghệ mới
là phương thức phát triển nhanh và bền vững nhất, cần phải được quan tâm.
Những năm qua, trong phát triển công nghiệp nông thôn, chúng ta đã chú
ý quan tâm tới việc đầu tư các trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho
quá trình này. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà trong các cơ sở
công nghiệp nông thôn nước ta những tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại vẫn
chưa được sử dụng một cách phổ biến. Do đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status