ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
NGUYỄN HỒNG HẠNH
THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN KINH TẾ
CỦA NHÀ BÁO
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------
NGUYỄN HỒNG HẠNH
THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN KINH TẾ
CỦA NHÀ BÁO
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Bá Dung
Hà Nội - 2016
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 7
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 8
6. Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài .................................................. 8
7. Bố cục của luận văn ...................................................................................... 9
CHƢƠNG 1: KỸ NĂNG THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN KINH
TẾ CỦA NHÀ BÁO – TIẾP CẬN TỪ LÝ THUYẾT................................ 10
1.1. Khái niệm ................................................................................................ 10
1.1.1. Thông tin và thông tin kinh tế ............................................................... 10
1.1.2. Thu thập thông tin kinh tế ..................................................................... 11
1.1.3. Xử lý thông tin kinh tế ........................................................................... 12
1.1.4. Kỹ năng ................................................................................................. 13
1.2. Đặc trƣng loại hình báo in ..................................................................... 15
1.3. Kỹ năng thu thập thông tin kinh tế của nhà báo ................................ 17
1.3.1. Kỹ năng giao tiếp .................................................................................. 17
1.3.2. Kỹ năng nghiên cứu tài liệu văn bản .................................................... 20
1.3.3. Kỹ năng quan sát ................................................................................... 23
1.3.4. Kỹ năng phỏng vấn................................................................................ 28
1.4. Kỹ năng xử lý thông tin kinh tế của nhà báo ...................................... 31
1.4.1. Tập hợp, hệ thống hoá thông tin theo từng vấn đề, lĩnh vực ................ 31
1.4.2. Phân tích và kiểm tra độ chính xác của thông tin, tính hợp lý của tài
liệu, số liệu ...................................................................................................... 32
1.4.3. Thống kê số liệu, tính tỷ lệ, tính xác suất, sử dụng ngôn ngữ thông tin
phi văn tự ......................................................................................................... 34
1.4.4. Chuyển thuật ngữ chuyên ngành kinh tế sang ngôn ngữ báo chí ......... 38
1.5. Mối quan hệ giữa hai kỹ năng thu thập và xử lý thông tin kinh tế ... 39
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 41
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Mức độ sử dụng kỹ năng nghiên cứu tài liệu văn bản để thu thập
thông tin kinh tế............................................................................................... 53
Bảng 2.2: Về thông tin mà nhà báo quan tâm khi nghiên cứu văn bản .......... 55
Bảng 2.3: Mức độ sử dụng kỹ năng quan sát để thu thập thông tin kinh tế ... 59
Bảng 2.4: Về mức độ sử dụng kỹ năng kiểm tra độ chính xác của thông tin,
tính hợp lý của tài liệu, số liệu ........................................................................ 70
Bảng 2.5: Về phương pháp chuyển thuật ngữ chuyên ngành kinh tế sang ngôn
ngữ báo chí (người trả lời chọn nhiều đáp án) ................................................ 83
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Mức độ sử dụng kỹ năng giao tiếp để thu thập thông tin kinh tế ......45
Biều đồ 2.2: Những yếu tố cần thiết để duy trì và phát triển mối quan hệ với
nguồn tin nhằm thu thập thông tin kinh tế .................................................................51
Biểu đồ 2.3: Mức độ sử dụng kỹ năng phỏng vấn để thu thập thông tin kinh tế ...61
Biểu đồ 2.4: Những yếu tố cần thiết để thu thập thông tin kinh tế thành công nhà
báo trong phỏng vấn (người trả lời chọn nhiều đáp án) ...........................................64
Biểu đồ 2.5: Mức độ sử dụng kỹ năng tập hợp, hệ thống hoá thông tin theo từng
vấn đề, lĩnh vực ............................................................................................................67
Biểu đồ 2.6: Về tin, bài được nhà báo phân tích, kiểm tra độ chính xác, tính hợp lý
của thông tin..................................................................................................................71
Biểu đồ 2.7: Phương pháp kiểm tra độ chính xác, tính hợp lý của thông tin kinh tế
(ông/bà có thể chọn nhiều đáp án) ..............................................................................72
Biểu đồ 2.8: Mức độ sử dụng kỹ năng tính tỷ lệ, tính xác suất, sử dụng ngôn ngữ
thông tin phi văn tự ......................................................................................................76
Biểu đồ 2.9: Trường hợp nhà báo sử dụng kỹ năng tính tỷ lệ, tính xác suất, ngôn
ngữ thông tin phi văn tự trong xử lý thông tin kinh tế (người trả lời chọn nhiều
đáp án) ...........................................................................................................................77
Biểu đồ 2.10: Mức độ sử dụng kỹ năng chuyển thuật ngữ chuyên ngành kinh tế
Nxb
Nhà xuất bản
ODA
Official Development Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức
QĐND
Quân đội nhân dân
TBKTSG
Thời báo Kinh tế Sài Gòn
TBKTVN
Thời báo Kinh tế Việt Nam
TPP
Trans-Pacific Partnership Agreement
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
WB
World Bank
thương mại tự do với Hàn Quốc, Nga... Đặc biệt là Hiệp định xuyên Thái
Bình Dương (TPP), bên cạnh thách thức đã mở ra cơ hội để nền kinh tế nước
nhà cất cánh. Nước ta đang ngày càng hòa nhập sâu vào kinh tế thế giới.
Trong đó, thông tin về kinh tế không chỉ là nhu cầu cần thiết cho giới lãnh
đạo tham khảo đưa ra quyết sách phù hợp, mà đã trở thành nhu cầu không thể
thiếu với các doanh nghiệp và doanh nhân nước nhà. Và tầng lớp công chúng
1
khác cũng đang nhận được sự quan tâm lớn. Do đó, thông tin kinh tế đang có
vai trò rất quan trọng trong bối cảnh đẩy mạnh hội nhập hiện nay.
Nhà báo kinh tế không chỉ cần biết rõ các thông tin cơ bản của tình
hình kinh tế nói chung, mà họ còn phải dự báo được các sự kiện kinh tế như
một kịch bản sắp xảy ra theo cả hai chiều tích cực và tiêu cực, có biện pháp
tiếp cận khai thác thông tin hợp lý. Đồng thời có năng lực tiếp cận với những
nhân vật quan trọng trong lĩnh vực mà mình phụ trách, để viết được những bài
báo hay, súc tích, chính xác, hấp dẫn bạn đọc có thể cạnh tranh với những nhà
báo khác.
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn không ít những nhà báo kinh tế dù đã
làm việc lâu năm nhưng do tinh thần trách nhiệm chưa cao, không thường
xuyên trau dồi bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, hoặc không đam mê nghề
nghiệp, thờ ơ không bám sát theo dòng sự kiện của ngành mình theo dõi và
phụ trách, dẫn đến hệ lụy: Không bao quát được và hiểu vấn đề mà mình viết,
năng lực phân tích, bình luận vấn đề còn yếu, dẫn đến những hậu quả đáng
tiếc cho cả xã hội và cho chính bản thân nhà báo.
Do vậy, nghiên cứu về kỹ năng thu thập và xử lý thông tin kinh tế đối
với nhà báo là một việc làm cần thiết. Nhất là với hoàn cảnh hiện nay, khi báo
chí ngày càng phải thể hiện vai trò thông tin và định hướng của mình trong xã
hội hiện đại. Với mong muốn nghiên cứu sâu hơn về công tác thu thập và khai
thác thông tin kinh tế đối với nhà báo, từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục
pháp ghi chép và ghi âm…
Cuốn “Nhà báo hiện đại” (Nxb Trẻ, 2009). Đây là bản dịch tiếng Việt
đầu tiên của giáo trình nổi tiếng News Reporting and Writing của ban biên
soạn The Missouri Group thuộc Khoa báo chí Đại học Missouri, đề cập đầy
đủ những kỹ năng làm báo hiện đại trên thế giới, giúp người cầm bút trong
nước cùng sánh vai với sự trui rèn của các đồng nghiệp khắp năm châu.
Ở Việt Nam, lĩnh vực này cũng đã thu hút sự quan tâm của các nhà
khoa học:
3
Cuốn “Công việc của người viết báo” (Nxb Giáo dục, 1997) của nhà
báo Hữu Thọ, trình bày chi tiết những kĩ năng, những vấn đề cơ bản nhất để
công việc của người viết báo nói chung và đặc biệt là công việc của một
phóng viên diễn ra được suôn sẻ, mang lại hiệu quả cao nhất cho từng sản
phẩm báo chí.
Cuốn “Kỹ năng cho người làm báo” (Nxb Thông tấn, 2014) cung cấp
những thông tin cơ bản, những kinh nghiệm cần thiết để có được một bài
báo thu hút độc giả, biến những nguyên liệu sự kiện thành những “món ăn”
thông tin thỏa mãn nhu cầu của độc giả đang ngày càng trở nên khó tính và
khắt khe hơn.
Cuốn “Lao động nhà báo – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” (Nxb Chính
trị - Hành chính, 2010) của TS. Lê Thị Nhã, giới thiệu những kỹ năng cơ bản
về phương pháp thu thập thông tin, tư liệu và quy trình sáng tạo tác phẩm
báo chí.
Cuốn “Ngôn ngữ báo chí” (Nxb Thông tấn, 2012) của PGS. TS. Vũ
Quang Hào, với cách viết ngắn gọn, súc tích, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý
luận và thực tế, tác giả cho bạn đọc hiểu rõ hơn những vấn đề cần thiết, cơ
bản nhất của ngôn ngữ báo chí.
Cuốn “Viết tin, bài đăng báo” (Nxb Trẻ, 2014) của nhà báo Ngọc Trân,
sóng Truyền hình kỹ thuật số VTC; Rút ra những ưu điểm, hạn chế của hoạt
động thông tin kinh tế trên Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC; Từ đó đề xuất
một mô hình Kênh thông tin kinh tế ưu việt hơn so với thực tại, nhằm nâng
cao hiệu quả truyền tải thông tin kinh tế trên sóng của Đài truyền hình kỹ
thuật số VTC.
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hữu Tuấn (Trường Đại học Khoa học xã
hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014) “Việc tiếp cận thông tin
tài chính của nhà báo Việt Nam hiện nay” tìm hiểu, đánh giá thực trạng vấn
đề tiếp cận và xử lý thông tin về lĩnh vực tài chính của đội ngũ nhà báo trong
giai đoạn hiện nay. Từ đó, phát hiện những vấn đề đang được đặt ra, thảo
5
luận, kiến nghị và đưa ra giải pháp nhằm giúp nhà báo tiếp cận và xử lý thông
tin về lĩnh vực tài chính đạt được hiệu quả tốt nhất.
Khoá luận tốt nghiệp của Đỗ Thị Lan Anh (Học viện Báo chí và Tuyên
truyền, 2007), “Hoạt động xử lý thông tin của biên tập viên tại các toà soạn
báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay” tìm hiểu về hoạt động xử lý thông tin
của các biên tập viên tại các toà soạn báo mạng điện tử tại Việt Nam thông
qua quá trình khảo sát ba tờ báo mạng điện tử điển hình: Vietnamnet,
VnExpress và Hà Nội mới điện tử. Từ đó đưa ra các đề xuất, giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý thông tin của biên tập viên tại các tờ báo
mạng điện tử.
Khoá luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thanh Tâm (Học viện Báo chí và
Tuyên truyền, 2008) “Khai thác, xử lý tin trong chương trình Thời sự Đài
Phát thanh - Truyền hình Hải Phòng” khảo sát về hoạt động khai thác và xử
lý tin của đội ngũ phóng viên, biên tập viên của đài. Rút ra những thành công
và hạn chế về nghiệp vụ khai thác, xử lý tin. Từ đó, đóng góp một số đề xuất
và kiến nghị nhằm nâng cao kỹ năng khai thác, xử lý tin và nâng cao chất
lượng tin trong chương trình Thời sự.
hiệu quả thu thập và xử lý thông tin kinh tế của nhà báo.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung khảo sát trong phạm vi các nhà
báo và các bài báo chuyên ngành kinh tế ở Thời báo Kinh tế Việt Nam và Báo
Đầu tư. Đây là hai tờ báo chuyên về kinh tế hàng đầu và có uy tin ở nước ta hiện
nay. Ngoài ra tác giả cũng khảo sát, tham khảo một số cơ quan báo chí khác như
Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Quân đội nhân dân, Kinh tế đô thị, Tuổi trẻ…
Về thời gian khảo sát từ tháng 03/2015 đến tháng 03/2016. Đây là
khoảng thời gian mà kinh tế nước ta có nhiều sự kiện nổi bật. Đặc biệt là Việt
Nam ký các Hiệp định thương mại tự do với Hàn Quốc, Nga… và Hiệp định
kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).
Để có thể hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả tiến hành phỏng vấn
sâu 10 nhà báo chuyên viết về kinh tế bao gồm Thời báo Kinh tế Việt Nam,
7
Báo Đầu tư, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Báo Quân đội nhân dân để tìm hiểu
cách thu thập và xử lý thông tin chuyên ngành của nhà báo.
Bên cạnh đó, tác giả tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi đối với 294 nhà
báo kinh tế tại các cơ quan báo chí thuộc các loại hình khác nhau để làm rõ
hơn vấn đề.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản, quan sát trên các tác phẩm
báo chí (để tìm hiểu cách thu thập và xử lý thông tin, đánh giá độ xác thực của
thông tin).
Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả luận văn phỏng vấn 10 nhà báo
chuyên viết về kinh tế của Thời báo Kinh tế Việt Nam, Báo Đầu tư, Thời báo
Kinh tế Sài Gòn và Báo Quân đội nhân dân.
Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi anket với các nhà báo
chuyên viết về kinh tế. Kết quả: Tổng số 350 phiếu phát ra, thu về được 294
CHƢƠNG 1
KỸ NĂNG THU THẬP VÀ XỬ LÝ THÔNG TIN KINH TẾ
CỦA NHÀ BÁO – TIẾP CẬN TỪ LÝ THUYẾT
1.1. Khái niệm
1.1.1. Thông tin và thông tin kinh tế
Theo cuốn “Đại từ điển Tiếng Việt” (tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên
NXB Văn hóa – Thông tin ấn hành năm 1999) thì thông tin được hiểu rằng:
“Truyền tin, đưa tin, báo cho nhau biết tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế
giới xung quanh”. [44, tr. 16]
Khái niệm “thông tin” được bắt nguồn từ chữ Latinh là informetio, gốc
của từ tiếng Anh là information. Hai ông Philipppe và Serge Proulx trong
cuốn sách “Bùng nổ thông tin” giải thích rằng: khái niệm này có liên quan
đến đặc trưng Rooma, biểu hiện sự mong muốn giảng dạy, truyền đạt.
Trong lý luận báo chí, khái niệm “thông tin” cũng đang tồn tại hai cách
hiểu. Một là, tri thức tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc
sống. Hai là sự loan báo cho mọi người biết.
Trong hoạt động báo chí, khi tìm hiểu về khái niệm thông tin cần đặt nó
trong mối liên hệ trực tiếp với vấn đề hiệu quả, tức là ảnh hưởng trực tiếp của
thông tin đến công chúng, hướng dẫn nhận thức và giáo dục đạo đức cho họ
để họ hành động đúng đắn. Vì vậy, có thể đồng tình với định nghĩa: “Thông
tin là phần tri thức được sử dụng để định hướng, tác động đến hành động tích
cực và quản lý xã hội, thực hiện mục đích giữ gìn những đặc điểm phẩm chất,
sự hoàn thiện và phát triển hệ thống”. [40; tr. 59]
Trong các thông tin được đăng tải trên báo chí, có một mảng rất quan
trọng, đó là thông tin kinh tế. Đầu tiên, cần hiểu kinh tế là gì? Đó là “tổng thể
nói chung các hoạt động sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất cho con
người và xã hội”. [35, tr. 693] Nó liên quan đến các hoạt động sản xuất, phân
phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên định nghĩa về kinh tế
11
Thu thập thông tin có thể tìm kiếm từ các nguồn, kênh thông tin khác
nhau. Mỗi kênh thông tin có những ưu điểm và nhược điểm riêng, phù hợp
với mỗi loại thông tin cần thu thập. Việc lựa chọn nguồn thông tin thích hợp
bảo đảm hiệu quả quá trình thu thập thông tin và chất lượng của thông tin.
Thu thập thông tin là một quá trình liên tục, nhằm bổ sung, hoàn chỉnh
thông tin cần thiết.
Thu thập thông tin chịu tác động của nhiều nhân tố về kỹ năng thu thập
thông tin, kỹ năng sử dụng các phương pháp, cách thức thu thập thông tin.
Thu thập thông tin là một khâu trong quá trình thông tin của một tổ
chức. Thu thập thông tin gắn với yếu tố đầu vào của tổ chức. Thu thập thông
tin không tách rời quá trình xử lý thông tin, nhằm đảm bảo thông tin cho hoạt
động của tổ chức. [5]
1.1.3. Xử lý thông tin kinh tế
Từ khái niệm “xử lý là sắp xếp và giải quyết công việc hoặc nhiệm vụ
trong điều kiện cụ thể” [50, tr. 5] trong cuốn “Đại từ điển Tiếng Việt” có thể
hiểu thuật ngữ xử lý thông tin là một hoạt động nghiệp vụ nhằm chỉnh sửa cả
về mặt nội dung lẫn hình thức thông tin để đảm bảo độ chính xác và hấp dẫn
của tin. Công việc xử lý thông tin là công việc đòi hỏi cần có nhiều kinh
nghiệm, sự hiểu biết về xã hội cũng như về ngôn ngữ.
Xử lý thông tin kinh tế là việc sắp xếp, phân tích các dữ liệu kinh tế có
được theo yêu cầu, tiêu chí cụ thể một cách khoa học, chính xác, khách quan
nhằm cung cấp những cơ sở để xem xét, giải quyết một vấn đề kinh tế. Đó là
quá trình đối chiếu, chọn lọc, chỉnh lý, biên tập thông tin theo mục đích, yêu
cầu xác định. Đây là công việc bắt buộc nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả
sử dụng thông tin, tránh sự quá tải, nhiễu thông tin. Thông qua việc kiểm tra
tính chính xác, tính hợp lý của các tài liệu, số liệu; hệ thống hóa, phân tích tổng
hợp số liệu, tài liệu; chỉnh lý chính xác số liệu, tài liệu để chúng phản ánh được
hiện hành động trên cơ sở kiế n thức đã co.́ Kỹ năng là tri thức trong hành động
.
Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằ ng, kỹ năng là khả năng thực hiện có kết
quả một hành động nào đó bằng cách vâ ̣n du ̣ng những tri thức , kinh nghiê ̣m
đã có để thực hiê ̣n hoa ̣t đô ̣ng phù hơ ̣p với những điề u kiê ̣n nhấ t đinh.
̣ Kỹ năng
13
không đơn thuầ n là mă ̣t kỹ thuâ ̣t của hành đô ̣ng mà là biể u hiê ̣n về năng lực
của chủ thể hành động. [41, tr. 20]
Theo A.G. Covaliov, kỹ năng là những phương thức thực hiện hành
đô ̣ng thích hơ ̣p với mu ̣c đích và những điề u kiê ̣n hành đô ̣ng phu ̣ thuô ̣c vào
nhiề u yế u tố , đă ̣c biê ̣t là năng lực của con người mà không đơn giản là cứ nắm
vững cách thức hành đô ̣ng thì sẽ có kết quả tương ứng . Ta nhâ ̣n thấ y quan
niê ̣m trên xem xét kỹ năng nghiêng về mă ̣t kỹ thuâ ̣t của hành đô ̣ng
, coi kỹ
năng là cách thức thực hiê ̣n hành đô ̣ng phù hơ ̣p với mu ̣c đích và điề u kiê ̣n của
hành động mà con người đã nắm được. [28, tr. 13]
V.A. Cruchetxki cho rằ ng, kỹ năng l à phương thức thực hiện hành động
đã đươ ̣c con người nắ m vững từ trước [55, tr. 78]. Còn V.X. Cudin cho rằ ng,
kỹ năng là phương thức hoạt động không cần sự củng cố bắt buộc bằng luyện
tâ ̣p từ trước . [28, tr. 13]. Theo các tác giả này thì chỉ cầ n nắ m vững phương
thức hành đô ̣ng là con người có đươ ̣c kỹ năng , còn hoạt động có kết quả hay
không, viê ̣c thực hiê ̣n hành đô ̣ng có liên quan gì đế n mu ̣c đić h cũng như các
điề u kiê ̣n thực hiê ̣n mu ̣c đić h thì la ̣i chưa nói ro.̃
“Từ điển của tâm lý học” do Vũ Dũng chủ biên, tác giả đã có một cách
hiểu khác về kỹ năng: “Năng lực vận dụng có kết quả có tri thức hành động
sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội. Định kỳ của báo in có nhiều loại
khác nhau như: hàng ngày, thưa kỳ (2, 3, 5 ngày một số), hàng tuần. Định kỳ
của báo in chính là sự xuất hiện theo chu kỳ đều đặn và cố định của sản phẩm
báo. Chu kỳ xuất nhiện của báo in có ý nghĩa quan trọng đối với báo in vì nó
quy định thời điểm mà công chúng đón nhận sản phẩm báo in.
Tính thời sự của báo in được hiểu là sự phản ánh nhanh chóng những
sự kiện mới xảy ra, vấn đề mới nảy sinh hoặc vừa mới được phát hiện trong
đời sống xã hội. Mỗi tờ báo in có công chúng tiếp nhận khác nhau và công
chúng thực hiện phương thức tiếp nhận theo những hướng khác nhau.
Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản in gồm: chữ in,
hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ… Toàn bộ các yếu tố thể hiện nội dung
thông tin của các tác phẩm báo in xuất hiện đồng thời trước mắt người đọc
hầu như ngay trên cùng một trang báo. Sự đồng hiện của báo in được thể hiện
15
bằng những thông tin cùng xuất hiện đồng thời trên trang báo in thông qua
việc trình bày tổ chức trang báo, bao gồm các phần: tên chuyên mục, tiêu đề,
tít, sapô hoặc những dòng chữ gây chú ý, tít phụ cùng sự hỗ trợ của hình vẽ,
tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ… Công chúng đọc một bài báo in có thể do tít và
sapô hấp dẫn hay cũng có thể do tranh ảnh, biểu đồ minh họa gây chú ý cho
họ. Cũng chính vì vậy mà có thể nói sự đồng hiện thông tin của bài viết trên
cùng một trang báo in là một trong những lợi thế nhất định của báo in. Công
chúng có thể cùng lúc lướt mắt trên toàn bộ bài báo và sau đó có thể tìm
những thông tin thú vị hoặc cần thiết cho mình. Cũng chính sự đồng hiện các
yếu tố thể hiện của một bài báo trên một trang báo cũng làm ảnh hưởng lớn
đến công tác biên tập nội dung tít, sapô và phần chính văn của một bài báo in.
Do phương thức thông tin đặc thù trên, báo in có những đặc điểm ưu việt sau:
Thứ nhất, người đọc hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin
từ báo in. Sự chủ động bao gồm từ việc bố trí thời điểm đọc, lựa chọn trình tự