VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VĂN SƠN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ
CÔNG THUỘC BỘ Y TẾ
Chuyên ngành
Mã số
: Quản lý Kinh tế
: 62.34.04.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI, 2016
Công trình đã được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Tập thể hƣớng dẫn khoa học:
1. TS. Chử Văn Lâm
2. PGS.TS. Trần Thị Minh Châu
Phản biện 1: PGS.TS. Lê Xuân Bá
Phản biện 2: PGS.TS. Lê Xuân Đình
Phản biện 3: PGS.TS. Bùi Tất Thắng
Y tế là một trong những lĩnh vực thu hút ĐTC khá lớn ở nước ta.
Hầu hết các các cơ sở khám, chữa bệnh, đào tạo, nghiên cứu y, dược
(gọi chung là cơ sở y tế) đều là cơ sở y tế công lập được Nhà nước cấp
vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất từ nguồn vốn Ngân sách nhà nước
(NSNN) tức nguồn vốn ĐTC. Chính vì thế, quản lý hiệu quả các dự án
ĐTC trong lĩnh vực y tế có ý nghĩa to lớn.
Bộ Y tế được Chính phủ giao cho trực tiếp quản lý các dự án
đầu tư xây dựng công trình tại các đơn vị trực thuộc Bộ (tuyến Trung
ương). Bên cạnh những thành công trong quản lý dự án ĐTC thuộc
thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế, vẫn còn có hiện tượng dự án chưa
được quản lý tốt, còn nhiều thiếu sót, hạn chế từ khâu lập, thẩm định,
phê duyệt các dự án đến quá trình triển khai thực hiện dự án đều bộc
lộ nhiều hạn chế, khuyết điểm, thậm chí một số công trình có dấu
hiệu chất lượng chưa đạt yêu cầu.
Cần phải khẩn trương khắc phục những hạn chế kể trên, nhất là
phải nhanh chóng tìm kiếm giải pháp tái cơ cấu ĐTC trong lĩnh vực y
tế, đưa hoạt động quản lý các dự án đầu tư thuộc Bộ Y tế đi vào nề
nếp, chuẩn mực, hạn chế thất thoát, lãng phí.
Với mong muốn đóng góp vào việc đổi mới quản lý ĐTC các
dự án đầu tư xây dựng thuộc Bộ Y tếtrong những năm tới đây, kế
thừa thành quả các công trình nghiên cứu liên quan của các tác giả
trong nước và ngoài nước, nghiên cứu sinh đã chọn vấn đề: “Quản lý
nhà nước về các dự án đầu tư công thuộc Bộ Y tế” làm đề tài
nghiên cứu trong luận án này.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu đề tài
Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết QLNN về dự án ĐTC, lấy
đó làm khung lý thuyết, luận cứ đổi mới cơ chế QLNN về dự án ĐTC
thuộc Bộ Y tế và đề xuất giải pháp tăng cường QLNN đối với dự án
ĐTC thuộc Bộ Y tế trong giai đoạn mới.
- Phạm vi không gian: Các dự án ĐTC thuộc Bộ Y tếtrong phạm
vi cả nước.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
Nguồn số liệu sử dụng trong luận án chủ yếu là nguồn thứ cấp,
gồm:Số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê,
Niên giám Thống kê Y tế; số liệu của Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tài
2
chính, Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ, các Bộ/ngành có liên
quan; số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu
Á (ADB), một số tổ chức quốc tế; số liệu điều tra, khảo sát của các Viện
nghiên cứu có liên quan, các cuộc Hội thảo, bài viết của các tác giả, nhà
kinh tế, tạp chí chuyên ngành, nguồn thông tin báo mạng, Internet; số
liệu, tài liệu công bố của Bộ Y tế.
4.2. Phương pháp xử lý số liệu
Chủ yếu là phân tích, tổng hợp, so sánh các dữ liệu từ các dự án đầu
tư xây dựng của Bộ Y tế, số liệu công bố của Bộ Y tế, Tổng cục thống kê,
các văn bản pháp lý và chính sách QLNN đối với lĩnh vực ĐTC.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu trong luận án bao gồm: Phương
pháp nghiên cứu tài liệu; phân tích và tổng hợp dữ liệu thống kê;
phân tích so sánh và phương pháp thống kê mô tả.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Về mặt lý luận, luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về
ĐTC, QLNN về DA ĐTC; gợi mở và đóng góp ý kiến, quan điểm đổi
mới hoạt động QLNN DA ĐTC có cấu phần xây dựng của bộ/ngành
cụ thể là các dự án đầu tư xây dựng công trình thuộc lĩnh vực y tế.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ CÔNG
1.1. Tình hình nghiên cứu của các tác giả ngoài nƣớc
1.1.1. Những nghiên cứu về đầu tư công
Một số vấn đề liên quan đến ĐTC đã được viết thành giáo trình
giảng dạy ở các trường đại học...trong khuôn khổ chung của tài chính
công của các tác giả Paul A. Samuelson và William D, Nordhaus
(1997) trong “Kinh tế học”.
1.1.1.1. Về vai trò của đầu tư công trong nền kinh tế thị trường
Vai trò của ĐTC được nghiên cứu trong các nghiên cứu của các
tác giả Easterly và Rebelo (1993), Ahmed và Miller (2000), Greene
và Villanueva (1991), Ghura và Goodwin (2000), Cavallo và Daude
(2008)… Các tác giả đã đưa ra gợi ý: ĐTC nên tạo cơ hội cho đầu tư
tư nhân [110]; các tác giả Khan, M.S. và Kumar, M.S. (1997) [134].
1.1.1.2. Nghiên cứu về phạm vi, lĩnh vực hiện diện đầu tư công
Theo tác giả Arestoff và Hurlin (2010) ở các nước đang phát
triển cần thông qua ĐTC để tạo công nghệ mới, tạo ra tích tụ vốn cho
nền kinh tế [115].Theo OECD (2006): ĐTC của Trung Quốc thường
4
có quy mô lớn, tập trung vào cơ sở hạ tầng, ĐTC vào phúc lợi con
người như giáo dục, y tế, an sinh xã hội thì tương đối thấp [137]; Có
nghiên cứu của các tác giả Schuller và Schuler-Zhou (2009)[131].
Theo tác giả Jimenez (1995), thìnên ĐTC vào cơ sở hạ tầng vật chất;
cần có chính sách đầu tư hợp lý, nên duy trì ĐTC vào hạ tầng xã hội,
cung cấp các dịch vụ xã hội và phúc lợi cho con người [111].
1.1.2. Những nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với dự án đầu
tư công
tiêu của liên bang đều dành cho hai chương trình Chăm sóc sức khỏe
và Hỗ trợ y tế" [51, tr.343].
1.2. Tình hình nghiên cứu của các tác giả trong nƣớc
Ở Việt Nam, cách tiếp cận ĐTC trong khung khổ kinh tế thị
trường chỉ mới xuất hiện từ năm 1986 (bắt đầu đổi mới) đến nay.
Trước năm 2010, đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu của
các tác giả Đỗ Hoài Nam (2003), Trần Đình Ty (2005), Lê Xuân Bá và
Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006), Võ Trí Thành (2007), Nguyễn Anh Tuấn
(2010) và một số chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước về lý luận và
chính sách kinh tế, con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt
Nam trong thời gian 10 năm từ năm 2000 – 2010…[63], [82], [7],
[78], [81]. Một số bài báo trên các tạp chí khoa học đề cập tới tài chính
công, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng… dưới hình thức sản phẩm
trung gian (các báo cáo), không được in ấn và phổ biến rộng rãi.
1.2.1. Tình hình nghiên cứu về đầu tư công ở Việt Nam
Nghiên cứu của các tác giả Fan, Huong, Long (2003) đã xem
xét tác động của ĐTC đến tăng trưởng và giảm nghèo ở Việt Nam
cho thấy: ĐTC trong nông nghiệp có tác động lớn nhất đến giảm
nghèo…[65]. Tác giả Nguyễn Quang Thái (2008) đã đưa ra bức tranh
tổng quát về tình hình ĐTC trong những năm 2000-2008 của nước ta:
ĐTC tăng nhanh chóng về quy mô, cơ cấu nhưng hiệu quả ĐTC thấp
[75]. Tác giả Bùi Trinh (2009), chỉ ra: hiệu quả của ĐTC thấp hơn so
với đầu tư của khu vực có vốn FDI và càng thấp hơn so với khu vực
tư nhân trong nước [95].Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và Viện Khoa
học Xã hội Việt Nam đã có hội thảo: "Tái cơ cấu ĐTC trong bối
cảnh đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế ở Việt
Nam" tổ chức tại Huế (12/2010), đánh giá: tình hình hiệu quả ĐTC
thấp, dàn trải vào nhiều lĩnh vực không cần ĐTC, thậm chí một số dự
án đầu tư không phù hợp...
Tác giả Vũ Tuấn Anh (2010), về ĐTC trong 10 năm 2000 –
Tác giả Nguyễn Quang Thái (2010b) đã bàn về một số vấn đề như
quy hoạch phát triển trong quản lý ĐTC… [76].Tác giả Lê Xuân Bá
(2010), về cơ chế phân cấp đầu tư giữa trung ương và địa phương… để
hoàn thiện hơn thể chế quản lý ĐTC [6].
1.2.2.3. Tình hình nghiên cứu quản lý nhà nước đối với dự án
đầu tư theo lĩnh vực và địa phương
Tác giả Nguyễn Quang A (2010), các tác giả Bùi Trường Giang
và Phạm Sĩ An (2010), đã nhấn mạnh rằng tái cơ cấu ĐTC trước hết
phải tập trung vào cải cách một cách căn bản khu vực DNNN và cách
phân bổ một nguồn vốn đầu tư lớn của nhà nước [1]. Theo tác giả Bùi
Trường Giang và Phạm Sĩ An (2010), cần cải cách khu vực DNNN
để nâng cao hiệu quả đầu tư…[47].Tác giả Trần Du Lịch (2011) cho
rằng, phải thắt chặt ĐTC và chi tiêu công. Phải tái cấu trúc ĐTC đi liền
với tái cấu trúc DNNN nhằm nâng cao hiệu quả nguồn lực ĐTC [58].
7
Nghiên cứu QLNN về DA ĐTC tại một số ngành/lĩnh vực cócác
tác giả như: Cao Văn Dũng (2015) về việc tổ chức thực hiện quản lý
dự án đầu tư xây dựng công trình tại Tổng công ty xây lắp dầu khí
Nghệ An [41]; tác giả Phạm Thái Long (2008) nghiên cứu về đấu
thầu, lựa chọn nhà thầu các dự án đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước
trên địa bàn Hà Nội [59]; tác giả Nguyễn Văn Công (2014) đã nghiên
cứu quản lý dự án đầu tư công trình trong ngành điện lực tại Hà
Nội… [35]; tác giả Phạm Đức Dũng (2014) đã nghiên cứu QLNN đối
với các dự án ĐTC trong lĩnh vực công trình giao thông đường bộ tại
Việt Nam [42].
Nghiên cứu QLNN về DA ĐTC tại một số địa phương có các
tác giả như:tác giả Trần Tuấn Nghĩa (2014),về quản lý dự án ĐTC tại
công, khắc phục những hạn chế trong QLNN đối với các dự án đầu tư
xây dựng thuộc Bộ Y tế. Để giải quyết các vấn đềnêu trên, tác giả
luận án đã xây dựng khung phân tích vấn đề nghiên cứu của luận án
(Hình 1.1)
Hình 1.1. Khung phân tích vấn đề nghiên cứu trong luận án
CHƢƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚCVỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ CÔNG
2.1. Khái niệm, đặc điểm dự án đầu tƣ công và quản lý nhà nƣớc
về dự án đầu tƣ công
2.1.1. Khái niệm đầu tư công
2.1.1.1. Khái niệm đầu tư
“Đầu tư”, theo cách hiểu thông thường, là việc bỏ vốn (thể hiện
dưới các hình thức hữu hình như tiền, nhà xưởng, đất đai…hoặc vô hình
như phát minh, sáng chế, thương hiệu…) để hình thành các tài sản đầu
tư đưa vào sản xuất, kinh doanh nhằm thu được lợi nhuận.
2.1.1.2. Khái niệm đầu tư công
“Đầu tư công” là tất cả các khoản đầu tư của Chính phủ và
DNNN, bao gồm: đầu tư từ NSNN (phân cho các bộ/ngành Trung
ương và phân cho các địa phương); đầu tư cho các chương trình hỗ
trợ có mục tiêu…; tín dụng đầu tư (vốn cho vay) có mức độ ưu đãi
nhất định và đầu tư của các DNNN [4, tr.22].
9
2.1.2. Khái niệm dự án đầu tư
2.1.2.1. Khái niệm dự án
10
công quyền, nhà tài trợ v.v… là việc xử lý các mối quan hệ để dự án
được triển khai thực hiện thuận lợi, hoàn thành các mục tiêu dự án đã
đề ra. Cán bộ QLDA phải thông hiểu pháp luật có liên quan, có khả
năng hoạt động độc lập, linh hoạt để xử lý các biến đổi trong QLDA.
2.1.3.2. Khái niệm quản lý dự án đầu tư
Là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám
sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành
đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu
cầu đã định về kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, thông qua những phương
pháp phù hợp và trong các điều kiện cụ thể [68].
2.1.3.3. Khái niệm quản lý nhà nước
QLNN là sự điều khiển, chỉ đạo của cơ quan nhà nước đối
với một hệ thống hay quá trình để hệ thống, quá trình đó vận động
theo đúng mục tiêu đã định. Về bản chất, QLNN là sự tác động của
các chủ thể mang quyền lực nhà nước tới các khách thể quản lý nhằm
thực hiện các chức năng của nhà nước [74].
2.1.3.4. Khái niệm quản lý nhà nước về dự án đầu tư công
QLNN về dự án ĐTC là tác động của các cơ quan nhà nước đến
các dự án ĐTC nhằm đạt được các mục tiêu của dự án.
2.1.4. Đặc điểm của quản lý nhà nước về dự án đầu tư công
Thứ nhất, quản lý của chủ sở hữu nhà nước về dự án ĐTC.Thứ
hai, quản lý của chủ sở hữu nhà nước đối với dự án ĐTC phải tuân
thủ mục tiêu chung do Nhà nước quyết định.Thứ ba, QLNN về dự án
ĐTC thường chịu sự chi phối của các mục tiêu phi kinh tế. Thứ tư,
11
khả thi chương trình, dự án, trình cấp có thẩm quyền quyết định đầu
tư chương trình, dự án.
- Thứ ba, xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư
công:Kế hoạch ĐTC là một tập hợp các mục tiêu, định hướng, danh
12
mục dự án ĐTC có tính đến cân đối nguồn vốn ĐTC, phương án
phân bổ vốn, các giải pháp huy động nguồn lực và triển khai thực
hiện. Các bộ phải chấp hành kế hoạch ĐTC, dự án ĐTC; thông báo
hoặc quyết định giao kế hoạch ĐTC cho các đơn vị sử dụng vốn
ĐTC. Đơn vị sử dụng vốn ĐTC báo cáo cấp có thẩm quyền tình hình
thực hiện kế hoạch theo quy định của Chính phủ [72].
- Thứ tư, tổ chức thực hiện theo dõi, kiểm tra, đánh giá quá trình
thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công và báo cáo tình
hình và kết quả thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án cho cấp trên:
Cơ quan chủ quản chịu trách nhiệm tổ chức theo dõi, kiểm tra và
đánh giá ban đầu, giữa kỳ và kết thúc dự án. Bộ có thể tự thực hiện
hoặc thuê chuyên gia, tổ chức tư vấn có đủ điều kiện, năng lực để
đánh giá [72, tr.84].
- Thứ năm, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư trong triển khai thực hiện kế hoạch dự án đầu tư công: Bộ chủ
quản có trách nhiệm phối hợp cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài
chính kiểm tra, đôn đốc để đảm bảo việc giao, chấp hành kế hoạch
ĐTC theo quyết định của cấp có thẩm quyền, quyết định tổ chức
kiểm tra dự án theo kế hoạch và đột xuất.
2.2.3. Bộ máy và cán bộ quản lý dự án đầu tư công của bộ chủ quản
- Bộ máy quản lý dự án đầu tư công của bộ chủ quản (Bộ Y
tế), gồm các vụ chức năng: Vụ Kế hoạch Tài chính, Vụ Trang thiết bị
tế.Thứ ba,nhu cầu của xã hội về dịch vụ do ngành cung cấp.Thứ tư,xu
hướng đầu tư tư nhân và hội nhập quốc tế.Thứ năm, cơ sở vật chất
phục vụ QLNN về dự án ĐTC của bộ chủ quản.
2.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nƣớc về dự án đầu tƣ công của một
số nƣớc và bài học rút ra cho Việt Nam
2.3.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dự án đầu tư
công của Hàn Quốc: Hầu như các dự án ĐTC của Hàn Quốc chỉ
giới hạn trong những lĩnh vực mà công ty tư nhân không muốn đầu
tư do tính chất phi lợi nhuận của hàng hóa và dịch vụ. Nhà nước
không tham gia sản xuất hàng hóa có tính thương phẩm đã phát huy
được tính sáng tạo và hiệu quả của khu vực tư nhân [107].
2.3.2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dự án đầu tư công của
Trung Quốc: ĐTC chỉ ưu tiên vào xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội… cho phát triển giao thông, năng lượng… Tuy nhiên,
hiệu quả ĐTC của Trung Quốc cũng được đánh giá là khá thấp [137].
Cơ chế quản lý ĐTC của Nhà nước vẫn còn chưa hoàn thiện; việc
phân định giữa chi tiêu và đầu tư còn chưa rõ ràng…
14
2.3.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về dự án đầu tư công
của Đan Mạch: ĐTC chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong GDP, do hệ thống
cơ sở vật chất hạ tầng khá hoàn thiện[121]. Mặc dù ĐTC chiếm tỷ trọng
không lớn, nhưng Đan Mạch là nước quản lý ĐTC khá tốt. Chính sách
ĐTC được Chính phủ đề ra cho từng giai đoạn là 10 năm.
2.3.4. Bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước về dự án đầu tư
công rút ra cho Việt Nam
khối đơn vị chức năng: 9 Cục và 01 Tổng cục; khối đơn vị sự nghiệp
trực thuộc Bộ: 04 đơn vị).
3.1.3. Khái quát về các dự án đầu tư công thuộc thẩm quyền
Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý nhà nước
Theo Tổng cục Thống kê, từ năm 2002 trở lại đây, quy mô ĐTC
cho ngành y tế đã bước đầu được cải thiện hơn so với trước. Mặc dù
số tiền đầu tư vẫn còn eo hẹp so, nhưng hệ thống cơ sở vật chất
ngành y tế đã được cải thiện rõ rệt. Việt Nam là nước có thu nhập
trên đầu người chưa cao, nhưng đầu tư về y tế khá cao.Vốn ĐTC
thuộc Bộ Y tế quản lý cũng có xu hướng tăng nhưng thực tếĐTC cho
lĩnh vực y tế còn quá khiêm tốn so với ĐTC cho các lĩnh vực khác,
hằng năm chỉ đáp ứng khoảng 30 – 40% nhu cầu kế hoạch vốn ĐTC
đã phê duyệt [17, tr.1] (Bảng 3.2).
Bảng 3.2. Tình hình cấp vốn đầu tƣ cho các dự án thuộc Bộ Y tế
giai đoạn 2002 – 2012
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm
Vốn kế hoạch
Nhu cầu vốn
Vốn KH/nhucầu
kế hoạch
đƣợc cấp
dự án đầu tƣ
(%)
2002
531.000
1.350.000
39,33
2003
470.000
1.054.000
782.800
869.000
1.082.500
2.919.000
36,11
2.087.000
37,50
2.100.000
41,38
3.150.000
34,36
Nguồn: Bộ Y tế (2002 – 2012) [34]
3.2. Phân tích thực trạng quản lý nhà nƣớc các dự án đầu tƣ công
thuộc Bộ Y tế giai đoạn 2002 – 2012
3.2.1. Thực trạng việc ban hành văn bản quy phạm pháp
luật quản lý, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện tiêu
chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật về dự án đầu tư
công trong lĩnh vực y tế: Bộ Y tế đã nỗ lực ban hành các văn bản
pháp quy để chỉ đạo QLDA ĐTC. Hằng năm Bộ đã tổ chức các lớp
tập huấn về QLDA cho các BQLDA và các CĐT.Tuy nhiên, việc tổ
chức thực hiện, áp dụng cụ thể vào QLDA đầu tư xây dựng công
trình thuộc Bộ quản lý vẫn còn hạn chế, như: quy chuẩn, tiêu chuẩn
chưa cập nhật kịp thời theo đặc thù riêng cho lĩnh vực y tế trong điều
kiện hội nhập, phát triển; Cơ quan chuyên môn quản lý ĐTC thuộc
Bộchỉ ban hành được số ít mẫu thiết kế xây dựng cho trung tâm y tế
dự phòng, bệnh viện đa khoa huyện và một số blok chuyên khoa
tuyến tỉnh, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng công trình y tế tuyến
Năm
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
Số
dự án
79
78
phổ biến làm tăng kinh phí đầu tư. Thanh tratại 20 dự án đầu tư xây
dựng thuộc Bộ thì có 19 dự án phải điều chỉnh tổng mức đầu tư, phê
duyệt lại [12, tr.10]. Do phê duyệt dự án chưa chính xác, không hợp
lý, không đồng bộ, nên ảnh hưởng lớn tiến độ thực hiện công trình,
chậm đưa dự án vào sử dụng, gây lãng phí vốn ĐTC [12, tr.3-4].
3.2.5. Thực trạng sự phối hợp quản lý các dự án đầu tư công
thuộc Bộ Y tế với các bộ hữu quan về quản lý đầu tư công:
18
Bộ đã phối hợp chặt chẽ với Bộ tài chính, Thanh tra Chính phủ,
Kiểm toán Nhà nước…trong công tác kiểm tra, thanh tra việc sử
dụng vốn ĐTC tại các dự án thuộc Bộ.
Hộp 3.1. Kết luận của Kiểm toán Nhà nƣớc (2013) về trách
nhiệm của Bộ Y tế trong QLNN đối với DA xây dựng, cải tạo,
mở rộng Bệnh viện đa khoa TW Thái Nguyên – Giai đoạn I
Qua kiểm toán cho thấy, CĐT và các đơn vị liên quan đã
chấp hành đầy đủ trình tự, thủ tục đầu tư theo quy định của Luật
Xây dựng, Nghị định số 16/1005/CP-NĐ ngày 07 tháng 2 năm
2005 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình;
Nghị định số 112/2006/ NĐ-CP ngày 07 tháng 02 năm 2006 của
Chính phủ. Tuy nhiên còn một số tồn tại như: lập, phê duyệt Tổng
dự toán vượt tổng mức đầu tư được phê duyệt; chậm tiến độ do
phân bổ vốn không đúng thời hạn, không đủ; Kiến nghị Bộ Y tế chỉ
đạo các đơn vị xác định các tập thể, cá nhân có liên quan để có
hình thức xử lý phù hợp.
Nguồn: Kiểm toán Nhà nước (2013) [57]
Qua đó Bộ đã chỉ đạo các đơn vị được kiểm tra nghiêm túc
kinh tế, tài chính; có 47/77 dự án (chiếm 61%) số ban QLDA có từ
01 đến 02 KTShoặcKSXD làm cán bộ kỹ thuật và có cử nhân kinh tế,
tài chính làm kế toán trưởng BQLDA [14].
3.4. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nƣớc về dự án đầu tƣ công
thuộc Bộ Y tế
3.4.1. Thành công trong quản lý nhà nước về dự án đầu tư
công thuộc Bộ Y tế thời gian qua
Thứ nhất, nỗ lực ban hành các văn bản hướng dẫn các quy định
của Nhà nước về QLDA đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn NSNN
[12, tr.2].Thứ hai, tích cực xây dựng các chương trình, đề án và dự án
đầu tư xây dựng cơ bản.Thứ ba, đã triển khai thực hiện quy định của
Chính phủ vềQLDA đầu tư xây dựng.Thứ tư, đã mở rộng năng lực
của hệ thống y tế. Thứ năm,đã quan tâm công tác kiểm tra, theo dõi,
thanh tra, đánh giá các dự án ĐTC.
3.4.2. Hạn chế trong quản lý nhà nước về dự án đầu tư công
thuộc Bộ Y tế
20
Thứ nhất, việc ban hành các văn bản về QLDA đầu tư chưa đáp
ứng yêu cầu. Thứ hai,việc chuẩn bị đầu tư, lập, phê duyệt chủ trương,
dự án đầu tư, lập, thẩm định, quyết định dự án đầu tư còn nhiều sai
sóttrong các công tác chuẩn bị đầu tư, lập, thẩm định, thẩm tra, trình
duyệt…[12]. "Nhiều dự án đầu tư xây dựng hồ sơ, thủ tục pháp lý còn
thiếu, trình tự thủ tục hồ sơ văn bản pháp lý chưa đáp ứng…" [17,
tr.19].Thứ ba,việc xây dựng kế hoạch đầu tư dự án còn nhiều sai sót
như: kế hoạch ĐTC chưa sát thực tế, phải thay đổi, điều chỉnh nhiều
lần. Năm 2010 phải điều chỉnh 04 lần, năm 2011 phải điều chỉnh 5 lần
[12, tr.6]; kế hoạch ĐTC dàn trải[17, tr.1]. Kế hoạch khi xây dựng
- Bối cảnh quốc tế:Thứ nhất, tái cấu trúc nền kinh tế thế giới
chậm lại, các nước thận trọng hơn trong mở cửa thị trường. Thứ
hai,hợp tác kinh tế quốc tế, khu vực và toàn cầu hóa vẫn diễn ra
chậm, mâu thuẫn lợi ích giữa các nước lớn chưa hề giảm đi. Thứ ba,
tác động mạnh mẽ của sự phát triển vượt bậc về khoa học và công
nghệ…gây khó khăn cho các nước đang phát triển trong lĩnh vực
cạnh tranh nói chung và dịch vụ y tế nói riêng.Thứ tư, nguy cơ tiềm
ẩn khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu.
- Bối cảnh trong nước có xu hướng:Thứ nhất, tái cấu trúc nền
kinh tế.Thứ hai,thay đổi mô hình sản xuất và cải tiến công nghệ.Thứ
ba,đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển theo hướng
bền vững.Thứ tư,đẩy mạnh phòng chống tiêu cực, tham nhũng, thất
thoát trong đầu tư.Thứ năm,khai thác mạnh mẽ nội lực để hội nhập,
phát triển.
Những xu hướng quốc tế và trong nước nêu trên, tác động không
nhỏ vào QLNN đối với ĐTC, đặc biệt là quản lý dự án ĐTC trong lĩnh
vực y tế.
4.1.2. Quan điểm đổi mới quản lý nhà nước về đầu tư công ở
nước ta
Một là, xác định lĩnh vực ưu tiên của ĐTC. Hai là, chú trọng cải
tiến hình thức tổ chức và quản lý ĐTC. Ba là, đẩy mạnh phân cấp
quản lý ĐTC, xóa bỏ tình trạng ĐTC phân tán, dàn trải. Bốn là, tăng
cường thực thi pháp luật, đổi mới cơ chế, chính sách ĐTC. Năm là,
tăng cường kiểm tra, giám sát, nâng cao hiệu quả công tác quản lý
vốn ĐTC. Sáu là, đổi mới tổ chức quản lý, ứng dụng công nghệ
thông tin vào quản lý dự án đầu tư.
4.2. Phƣơng hƣớng đổi mới quản lý nhà nƣớc về dự án đầu tƣ
công thuộc Bộ Y tế đến năm 2020, tầm nhìn 2030
Một là,trong thực hiện quy định các luật mới liên quan đến
QLNN dự án ĐTC. Hai là, xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế