Luận văn: Quản lý Nhà nước về hạn ngạch và nghĩa vụ của cả doanh nghiệp được phân bổ hạn ngạch pot - Pdf 15



1

Luận văn
Quản lý Nhà nước về hạn ngạch và nghĩa
vụ của cả doanh nghiệp được phân bổ hạn
ngạch 2
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 4
PHẦN I 4
Phần cơ sở lý luận 4
I. Hạn ngạch nhập khẩu (Import quota). 4
1. Khái niệm. 4
2. Nhà nước áp dụng biện pháp quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch chủ
yếu là nhằm một số mục đích 5
3. Các mặt hàng được cấp hạn ngạch nhập khẩu. 7
4. So sánh tác động của hạn ngạch nhập khẩu và thuế quan tới thương
mại, dịch vụ. 8
II. Hạn ngạch xuất khẩu (export quota). 20
1. Khái niệm. 20
2. Mục đích của Nhà nước khi áp dụng hạn ngạch xuất khẩu. 21
3. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (Voluntary Export Restraints-ver). 21
III. Các loại hạn ngạch khác. 23
IV. Các hàng rào thương mại phi thuế quan khác. 24
V. Những quy định việc xuất nhập khẩu hàng hoá quản lý bằng hạn
ngạch. 26


xuất nhập khẩu tốt Nhà nước có rất nhiều các công cụ để điều chỉnh như thuế,
hạn ngạch, các hàng rào thương mại phi thuế quan khác. Thế nhưng thực tế thì
các công cụ này được Nhà nước sử dụng như thế nào để đem lại hiệu quả một
cách tốt nhất lại là một vấn đề hết sức nan giải hiện nay. Một trong những công
cụ mà Nhà nước dùng để điều chỉnh các hoạt động xuất nhập khẩu đó là hạn
ngạch.

PHẦN I
PHẦN CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Hạn ngạch nhập khẩu (Import quota).
1. Khái niệm.
Hạn ngạch nhập khẩu là quy định của Nhà nước về số lượng hoặc giá trị
một mặt hàng nào đó được nhập khẩu nói chung hoặc từ một thị trường nào đó
trong một thời gian nhất định (thường là một năm).
Thực chất hạn ngạch nhập khẩu là một hình thức hạn chế về số lượng
và thuộc hệ thống giấy phép không tự động. Khi hạn ngạch nhập khẩu được 5
quy định cho một loại sản phẩm đặc biệt nào đó thì Nhà nước đưa ra một định
ngạch (tổng định ngạch) nhập khẩu mặt hàng nào đó trong một khoảng thời
gian nhất định không kể nguồn gốc hàng hoá đó từ đâu đến.
Khi hạn ngạch nhập khẩu quy định cho cả mặt hàng và thị trường thì
hàng hoá đó chỉ được nhập khẩu từ nước (thị trường) đã định với số lượng bao
nhiêu, trong thời hạn bao lâu.
Ở Việt Nam, danh mục số lượng ( hoặc giá trị ) các mặt hàng nhập khẩu
quản lý bằng hạn ngạch cho từng thời kỳ ( hàng năm ) do Chính phủ phê
duyệt trên cơ sở đề nghị của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương mại.
2. Nhà nước áp dụng biện pháp quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch chủ yếu là
nhằm một số mục đích.

thanh toán với nhau bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi, do đó không còn nhiều cơ
hội cho các khoản vay để nhập siêu. Do vậy tất cả việc mua bán quốc tế phải
dựa trên cơ sở đó là lợi ích và hiệu quả để quyết định. Đồng thời nhu cầu nhập
khẩu phát triển kinh tế ở nước ta là rất lớn, vốn để nhập khẩu lại hạn chế. Vì
vậy phải sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả vốn ngoại tệ dành cho nhập khẩu 7
sao cho có thể nhập được những vật tư, hàng hoá phục vụ cho phát triển sản
xuất hàng xuất khẩu, hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nước chưa sản xuất
được hoặc sản xuất chưa đủ để đáp ứng những nhu cầu phù hợp với chiến
lược kinh tế xã hội của nước ta đến năm 2000. Hạn ngạch nhập khẩu hạn chế
về số lượng, chủng loại hàng hoá nào đó từ một thị trường nào đó. Điều này
khiến cho Nhà nước có thể điều chỉnh chính sách nhập khẩu một số hàng hoá
thiết yếu phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta và tiết
kiệm được vốn ngoại tệ để nhập khẩu.
Thứ ba, Nhà nước nhằm mục đích thực hiện các cam kết với nước
ngoài, với các tổ chức quốc tế. Do vậy hạn ngạch là một công cụ để Nhà nước
có thể thực hiện được các cam kết đã ký với nước ngoài.
3. Các mặt hàng được cấp hạn ngạch nhập khẩu.
Ở Việt Nam hạn ngạch nhập khẩu được áp dụng bằng cách cấp giấy
phép nhập khẩu cho một số công ty. Các mặt hàng có liên quan đến cân đối
lớn của nền kinh tế quốc dân đều có quy định riêng, cụ thể các mặt hàng đó là:
Xăng dầu, phân bón, xi măng, đường, thép xây dựng.
Chỉ có một số doanh nghiệp mới được phép nhập khẩu những mặt hàng
trên. Mỗi doanh nghiệp được phép phân bổ một số lượng tối đa các mặt hàng
trên trong một năm.
Đối tượng được cấp hạn ngạch nhập khẩu là các doanh nghiệp được Nhà
nước cho phép xuất khẩu, bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài. Vì vậy một doanh nghiệp khi xuất khẩu phải biết mặt hàng của mình có


P0
Pw

D
0 Q3 Q0 Qd Q
Đồ thị 2
Không có nhập khẩu, giá và số lượng trong nước sẽ là P0 và Q0, cung
cầu cân bằng. Nhưng do giá thế giới Pw thấp hơn P0, người tiêu dùng trong
nước có động cơ mua hàng nước ngoài và họ sẽ làm điều này nếu nhập khẩu
không bị hạn chế. Nhập khẩu sẽ là bao nhiêu? Giá trong nước khi đó sẽ giảm
xuống bằng giá cả thế giới Pw và ở mức giá đó sản xuất trong nước sẽ giảm
xuống, còn Qs sẽ giảm xuống và tiêu dùng trong nước tăng lên Qd. Do đó
lượng nhập khẩu sẽ là số chênh lệch giữa số tiêu dùng trong nước và số sản
xuất được ở trong nước, Qd -Qs.
4.2 Bây giờ xét trong trường hợp Chính phủ không cho phép nhập khẩu
Bằng cách đặt mức hạn ngạch bằng không (0) hoặc đặt thuế quan rất
cao đến mức nhập khẩu bị xoá bỏ hoàn toàn do áp lực từ phía công nghiệp
trong nước.
Hạn ngạch bằng không (0), không có nhập khẩu, giá cả trong nước sẽ
tăng tới P0. Những người tiêu dùng, những người tiếp tục mua sản phẩm đó ( 10
với lượng mua Q0 ) sẽ phải trả nhiều hơn và thặng dư tiêu dùng của họ bị mất
là tổng của hình thang a và tam giác b. Hơn nữa, do giá cả cao hơn, một số
người tiêu dùng không thể mua được sản phẩm đó nên thặng dư tiêu dùng
mất them một lượng băng tam giác c. Vì vậy tổng thay đổi trong thặng dư
người tiêu dùng là CS = -(a+b+c).
Còn người sản xuất lúc này do sản lượng cao hơn ( Q0 thay vì Qd ) và

P S Pd Pd = Pw.(1+t0)
Pw
D
0 Q1 Q2 Q3 Q4 Q
Hình a
12
P S P2
P1
D
0 Qw Q1 Q2 Q2’ Q1’ Qw’ Q
Hình b
Hình a: Với tự do thương mại , giá trong nước bằng giá thế giới. Tại
mức giá thế giới, nhu cầu tiêu dùng là Q4, sản lượng do các nhà sản xuất trong
nước là Q1,mức nhập khẩu là Q4 - Q1.
Nếu một mức thuế suất t0 được đánh vào hàng nhập khẩu rẻ cạnh tranh
với hàng hoá sản xuất trong nước và nếu cung của thế giới thực sự linh hoạt
thì giá cả trong nước tăng lên đến Pd = Pw.(1+P0). Giá tăng làm cầu giảm
xuống còn sản xuất trong nước sẽ tăng. Thặng dư tiêu dùng thay đổi là CS =
(a+b+c+d) và thặng dư sản xuất thay đổi là PS = a.
Chính phủ thu được một khoản bằng mức thuế nhân với lượng nhập
khẩu, chính là hình d. Tổng thay đổi trong phúc lợi bằng CS + PS + doanh thu


14
người tiêu dùng dịnh mua ở mức giá Pw (Qw) khi áp dụng hạn ngạch nhập
khẩu.
Trong trường hợp này thặng dư tiêu dùng và thặng dư sản xuất sẽ thay
đổi tương đối tương tự như trường hợp áp dụng thuế, Nhưng thay vì số thu
nhập biểu thị bằng hình chữ nhật c rơi vào tay Chính phủ thì số tiền này rơi
vào tay các nhà sản xuất nước ngoài và các nhà nhập khẩu.
So với thuế, hạn ngạch nhập khẩu làm Chính phủ mất đi phần c cùng
phần mất không b và d. Phần này sẽ rơi vào tay những ai được cấp hạn ngạch
nhập khẩu nếu như Chính phủ giữ toàn quyền phân phối các hạn ngạch nhập
khẩu. Nếu không đồi hỏi bất cứ thủ tục gì, khi đó những người được nhận hạn
ngạch sẽ không bỏ ra bất cứ một khoản chi phí nào mà thu được “ lợi nhuận
trời cho “ (Wind Fall).
Tóm lại, so với hạn ngạch nhập khẩu Chính phủ không thu được thuế vì
các hạn ngạch nhập khẩu làm tăng giá nội địa của hàng hoá bị hạn chế cho nên
những người cung cấp nước ngoài và những nhà nhập khẩu hàng hoá của họ
sẽ có được lợi nhuận nhờ doanh số này. Nếu lợi nhuận này thuộc về những
người nước ngoài thì đó chính là chi phí ròng của xã hội cho các hạn ngạch
nhập khẩu nhiều hơn so với việc chi phí cho việc đánh thuế quan tương
đương. Vì vậy ở nhiều nước Chính phủ luôn luôn bán đấu giá giấy phép nhập
khẩu theo hạn ngạch để thu hồi khoản thu nhập này. Các nhà nhập khẩu trong
nước hoặc những người cung cấp nước ngoài sẵn sàng trả giá về khoản này để
có trong tay một giấy phép quan trọng. Nếu hạn ngạch nhập khẩu được bán
đấu giá cạnh tranh thì hạn ngạch nhập khẩu và thuế quan đều có ảnh hưởng
giống nhau đến lợi ích thương mại. 15
b. Trên góc độ cạnh tranh không hoàn hảo.

Khi Chính phủ đánh thuế nhập khẩu với mức thuế suất t0 thì nhà sản
xuất trong nước có thể đưa ra giá Pw.(1+t0). Nhà độc quyền không thể tự do
nâng giá rtới mức cao hơn mức này vì người mua sẽ mua hàng nhập khẩu. Họ
sẽ tối đa hoá lợi nhuận khi doanh thu biên (MR) tương ứng với chi phí biên
(MC) ở sản lượng Qt. thuế quan luôn nâng giá hàng hoá trong nước Pw(1+t0)
và sản lượng của ngành sản xuất trong nước trong khi nhu cầu trong nước
giảm chỉ còn Qt’ và nhập khẩu cũng giảm. Như vậy ngành sản xuất trong
nước vẫn sản xuất ra một khối lượng tương tự như khi đó là ngành cạnh tranh
hoàn hảo.
Nhưng cũng có trường hợp thuế quan tác động đến ngành công nghiệp
độc quyền hoàn hảo khác nhau. Đó là khi thuế quan rất cao đến mức nhập
khẩu bị xoá bỏ hoàn toàn ( thuế quan có tính chất cấm đoán ). Đối với ngành
công nghiệp có tính chất cạnh tranh. Khi nhập khẩu bị loại bỏ hoàn toàn việc
tăng thuế không có tác động nào. Nhưng đối với nhà độc quyền họ vẫn phải
hạn chế giá của mình do mối đe doạ nhập khẩu ngay cả khi nhập khẩu bằng 17
không. Vì vậy việc tăng thuế quan có tính chất cấm đoán sẽ cho phép nhà độc
quyền tăng giá gần đến mức tối đa hoá lợi nhuận (mức giá PM)
Bây giờ ta xem xét một nhà độc quyền được bảo hộ bằng hạn ngạch.
Nếu lúc này Chính phủ đưa ra hạn ngạch nhập khẩu hàng hoá với một số
lượng cố định Q* thì đưa ra giá cao hơn Pw nhà độc quyền sẽ không ế toàn bộ
hàng hoá của mình. Ngược lại ở giá đó họ sẽ bán ra lượng hàng bằng lượng
cần trong nước trừ đi số nhập khẩu được phép - Q*
Ta có đồ thị sau:



19
0 Q* Q
Đồ thị 5
Với hạn ngạch nhập khẩu đường cầu của các nhà độc quyền sẽ dịch
chuyển sang trái một khoảng cách nằm ngang MQ tại tất cả các mức giá cao
hơn giá cao thế giới.
Trong điều kiện thị trường cạnh tranh, thuế quan tương ứng với hạn
ngạch nhập khẩu MQ sẽ là hiệu số Pd-Pw (hình a) (trang11) và thiệt hại lợi
ích ròng sẽ là tam giác (b+d). Tuy nhiên các nhà độc quyền sẽ tối đa hoá lợi
nhuận khi MR=MC nên các doanh nghiệp chỉ có lợi khi giảm sản lượng
xuống OQ* và bán sản phẩm ở mức giá độc quyền P*.
DE: Khoảng cách giữa giá trị của người tiêu dùng phải bỏ ra và chi phí sản
xuất hàng hoá đó.
AB: Số lượng hàng hoá được tiêu dùng do áp dụng thuế quan nay không được
tiêu dùng nữa.
Chính sách độc quyền gây hậu quả phân phối ở chỗ người tiêu dùng bị
thiệt nhiều hơn trong khi những người có hạn ngạch nhập khẩu và các nhà
doanh nghiệp nội địa có lợi nhiều hơn. Các doanh nghiệp nội địa và những
người có hạn ngạch nhập khẩu thích áp dụng hạn ngạch nhập khẩu cả trong
trường hợp thị trường nội địa là cạnh tranh bởi lẽ do xoá bỏ số lượng nhập
khẩu bổ sung ở mức giá thế giới, sức mạnh độc quyền của các doanh nghiệp
nội địa đã được chấp nhận. 20
Như vậy: Hạn ngạch có thể biến doanh nghiệp trong nước trở thành độc
quyền.
II. Hạn ngạch xuất khẩu (export quota).
1. Khái niệm.

lẫn nhau.
Mặt khác để bảo vệ tiềm năng, bảo vệ động vật và cây trồng, bảo vệ di
sản văn hoá, đồ cổ. Khi xuất hàng hoá sang các nước phải làm sao để xuất
được hàng hoá mà có kết tinh lao động trong nước và các yếu tố khác mà
không làm thiệt hại đến tài nguyên của đất nước. Trong trường hợp này tốt
nhất nên tập trung xuất khẩu những hàng hoá đã qua chế biến tinh, không nên
xuất khẩu những hàng hoá mà chưa qua chế biến hoặc mới chỉ chế biến thô.
3. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện (Voluntary Export Restraints-ver).
Trong những năm 70 và 80 các hàng rào thương mại phi thuế quan phát
triển rất nhanh. Đó là các thoả thuận hạn chế xuất khẩu một số hàng hoá cụ
thể sang một số thị trường cá biệt được thoả thuận tự nguyện của các nhà sản
xuất. Các thoả thuận này có thể là chính thức hoặc không chính thức. Hiện
nay các thoả thuận như thế bao hàm hầu hết số lượng buôn bán về ô tô, thép,
hàng dệt và quần áo may sẵn giữa các nước đang phát triển. 22
Hậu quả của hạn chế xuất khẩu tự nguyện cũng tương tự như hạn ngạch
nhập khẩu nhưng có 3 sự khác biệt làm cho nó kém tác dụng hơn theo quan
điểm của các nước nhập khẩu.
Một là, tiền thuê hạn ngạch do hạn chế xuất khẩu tự nguyện hoàn toàn
thuộc về dân cư của nước xuất khẩu. Điều đó có nghĩa là nước nhập khẩu bị
thiệt và so với thuế quan thu nhập của Chính phủ chuyển cho nước ngoài.
Hai là, nước nhập khẩu phải thanh toán ở mức giá nội địa đầy đủ mà
không phải ở mức giá thế giới cho các hàng hoá nhập khẩu.Trong trường hợp
này tương quan giữa giá xuất khẩu và giá nhập khẩu sẽ xấu đi và đường cong
định giá của nước nhập khẩu dịch chuyển sang phải.
Ba là, hạn chế xuất khẩu tự nguyện mang tính phân biệt đối xử nên chỉ
áp dụng cho các nước cung ứng sản phẩm với chi phí thấp nhất. Hạn chế xuất
khẩu tự nguyện cũng có thể buộc các nhà nhập khẩu phải chấp nhận nhập

III. Các loại hạn ngạch khác.
Ngoài hạn ngạch xuất nhập khẩu hiện nay còn có một số loại hạn ngạch
khác như hạn ngạch công nghiệp, hạn ngạch sản xuất, hạn ngạch gia công tái
xuất, hạn ngạch hội chợ triển lãm. Tuy nhiên vì các loại hạn ngạch này không
được áp dụng rộng rãi trừ hạn ngạch công nghiệp và hạn ngạch sản xuất. Chủ
yếu có hạn ngạch xuất nhập khẩu tác động tới thương mại và dịch vụ. 24
Hạn ngạch sản xuất: Ngoài việc trực tiếp tham gia vào thị trường và
mua các sản phẩm do vậy làm tăng tổng cầu Chính phủ còn có thể làm cho giá
cả của sản phẩm tăng bằng cách giảm cung. Chính phủ có thể làm điều này
bằng các sắc lệnh - Chính phủ chỉ cần quy định hạn ngạch cho mỗi mặt hàng.
Bằng cách ấn định hạn ngạch thích hợp giá cả có thể bị đẩy lên bất kỳ mức
mong muốn nào.
IV. Các hàng rào thương mại phi thuế quan khác.
Nhìn chung tất cả các điều kiện áp dụng cho hàng hoá nước ngoài và
nội địa đều có tác dụng như hàng rào thương mại. Tuy nhiên hầu hết các hàng
rào phi thuế quan thường dẫn đến giảm các quan hệ buôn bán và thường rất
khó đo lường ảnh hưởng của nó. Trong phần này chúng ta sẽ xem xét một số
hàng rào phi thuế quan liên quan đến thuế quan và hạn ngạch như thế nào.
Phương thức định giá của hải quan là hàng rào phi hạn ngạch dễ nhận
thấy nhất. Bằng cách định giá hàng nhập khẩu ở mức giá cao hơn, nhân viên
hải quan đã tăng tiền thuế phải trả. Sử dụng phương thức định giá của hải
quan như là một hàng rào thương mại chỉ làm tăng chi phí nhập khẩu tương tự
như thuế quan nhưng không làm tăng thu nhập cho Chính phủ của nước nhập
khẩu. Nhiều khi nó mang tính chất chuyển đổi thuế hải quan.
Quy định về thành phần sản phẩm có nguồn gốc địa phương cũng là
một hàng rào thương mại quan trọng. Các quy định này bảo vệ các nhà sản
xuất sản xuất phụ tùng nội địa tương tự như hạn ngạch nhập khẩu. Cũng do

Trích đoạn Những quy định chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status