Nghiên cứu sử dụng vi khuẩn trong phân hủy kỵ khí chất thải tại các lò giết mổ tập trung nhằm thu hồi khí sinh học - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------***------------

Chu Thanh Huyền

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG VI KHUẨN TRONG PHÂN HỦY KỴ
KHÍ CHẤT THẢI TẠI CÁC LÒ GIẾT MỔ TẬP TRUNG
NHẰM THU HỒI KHÍ SINH HỌC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA SINH HỌC
------------***------------

Chu Thanh Huyền

NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG VI KHUẨN TRONG PHÂN HỦY KỴ
KHÍ CHẤT THẢI TẠI CÁC LÒ GIẾT MỔ TẬP TRUNG
NHẰM THU HỒI KHÍ SINH HỌC

Chuyên ngành: Vi sinh vật học
Mã số: 60 42 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


Hà nội, ngày 08 tháng 08 năm 2016
Tác giả

Chu Thanh Huyền


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................. 2
1.1. Tổng quan chất thải lò giết mổ ............................................................. 2
1.1.1. Nguồn thải ...................................................................................... 2
1.1.2. Nước thải lò giết mổ ....................................................................... 4
1.1.3. Chất thải rắn lò giết mổ .................................................................. 9
1.2. Các phương pháp xử lý chất thải lò giết mổ........................................ 12
1.2.1. Xử lý nước thải lò giết mổ ............................................................ 12
1.2.2. Xử lý chất thải rắn lò giết mổ ....................................................... 15
1.3. Lên men kỵ khí sinh biogas ................................................................ 18
1.4. Lên men kỵ khí sinh H2 ...................................................................... 19
PHẦN II: NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP .................................... 24
2.1. Nguyên liệu và thiết bị ....................................................................... 24
2.1.1. Nguyên liệu .................................................................................. 24
2.1.2. Thiết bị ......................................................................................... 24
2.1.3. Các dụng cụ .................................................................................. 25
2.2. Phương pháp ...................................................................................... 25
2.2.1. Khảo sát các chỉ số ô nhiễm của một vài cơ sở giết mổ gia súc .... 25
2.2.2. Môi trường nuôi cấy ..................................................................... 26
2.2.3. Phương pháp nuôi cấy .................................................................. 27
2.2.4. Định danh vi khuẩn dựa vào khóa định loại Bergey...................... 28
2.2.5. Định danh vi khuẩn dựa vào giải trình tự đoạn gen rRNA 16S ..... 31

Bảng 1.1: Đặc tính nước thải tại một số lò giết mổ trên thế giới ở một số
nghiên cứu ..................................................................................................... 5
Bảng 1.2: Đặc tính của nước thải giết mổ gia súc tại một số lò giết mổ tại
Việt Nam ....................................................................................................... 8
Bảng 3.1. Kết quả phân tích mẫu nước thải tại cơ sở giết mổ gia súc gia cầm thủ
công tại xã Vạn Phúc, Hà Nội ........................................................................ 37
Bảng 3.2: Sản lượng khí hydro trong các mẫu phân lập ................................ 41
Bảng 3.3: Sản lượng hydro từ các chủng phân lập ........................................ 43
Bảng 3.4: Tính chất sinh lý hóa sinh của các chủng đã phân lập từ phân bò
và bùn .......................................................................................................... 45
Bảng 3.5: Kết quả định danh bằng kỹ thuật sinh học phân tử ....................... 47
Bảng 3.6: Ảnh hưởng của pH đến tổng lượng khí sinh ra ............................. 50
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của pH đến thể tích khí H2 sinh ra .............................. 52
Bảng 3.8: Ảnh hưởng của thời gian tới khả năng sinh trưởng và sinh khí ..... 54
Bảng 3.9: Sự thay đổi của các chỉ số sinh học trong quá trình tiền xử lý ưa nhiệt,
hiếu khí ......................................................................................................... 56
Bảng 3.10: Sự thay đổi nồng độ các chất hữu cơ của bùn thải trước và sau quá
trình lên men kỵ khí ..................................................................................... 58
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của nguồn vi sinh vật bổ sung lên sự tạo thành hydro .... 60
Bảng 3.12: Thông số ảnh hưởng đến tổng lượng khí sinh ra (pH 7- 7.5) ...... 63
Bảng 3.13: Thông số ảnh hưởng đến tổng lượng khí sinh ra (pH 6- 6.5) ...... 65


DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Tủ nuôi vi sinh vật kỵ khí (Model: Labconco/ PreciseTM; Mỹ)...... 25
Hình 2.2: Sơ đồ nghiên cứu sử dụng vi khuẩn trong phân hủy kỵ khí chất thải
tại các lò giết mổ tập trung ........................................................................... 26
Hình 2.3: Phương pháp sục khí nitơ. ............................................................ 27
Hình 2.4:Mô hình xử lý chất kỵ khí xử lý chất thải rắn và bùn thải .............. 33
Hình 2.5: Mô hình lên men kỵ khí và hệ thống đo tổng lượng khí sinh ra bằng

Deoxyribonucleic acid

dNTP

2’- deoxyribonucleotide 5’- triphosphate

EDTA

Ethylenediamintetraacetic acid

EtBr

Ethidium bromide

GC

Gas chromatography

PCR

Polymerase chain reaction

rDNA

Ribosomal Deoxyribonucleic Acid

COD

Chemical Oxygen Demand


nhất là sản xuất biogas.
Biogas (khí sinh học) là sản phẩm khí được sinh ra khi chất thải hữu cơ
(thường là chất thải từ động vật, phụ phẩm nông nghiệp) bị lên men trong
điều kiện kỵ khí. Áp dụng công nghệ lên men kỵ khí trong thực tiễn phân hủy
vật chất hữu cơ có khả năng giúp giải quyết các vấn đề có tính chiến lược như
sản xuất và sử dụng năng lượng tái sinh, xử lý chất thải hữu cơ trong quá trình
phát triển đô thị và sản xuất công nghiệp, chăn nuôi.
Kinh tế càng phát triển thì các nhu cầu về ăn uống, đi lại của con người
ngày một cao hơn. Nhu cầu sử dụng các loại thịt gia súc gia cầm cũng ngày
một tăng đã kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trường và các loại bệnh có liên
quan tới môi trường và vệ sinh thực phẩm cũng ngày càng tăng. Các lò mổ
hàng ngày đều thải ra một lượng lớn chất thải mà không qua xử lý chính,
lượng thực phẩm dư thừa không được sử dụng hết là những nguyên nhân gây
ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước nói riêng và ô nhiễm môi trường nói chung.
Đề tài:“Nghiên cứu sử dụng vi khuẩn trong phân hủy kỵ khí chất thải
tại các lò giết mổ tập trung nhằm thu hồi khí sinh học” nhằm tìm kiếm các
chủng vi khuẩn có khả năng phân giải các chất ô nhiễm như Bacillus,
Lactobacillus, Clostridium,… phù hợp với nguồn cơ chất từ lò giết mổ, xác lập
chế độ lên men kỵ khí tối ưu để tăng hiệu suất tạo khí sinh học, xây dựng mô
hình xử lý kỵ khí chất thải lò giết mổ tập trung ở quy mô phòng thí nghiệm.

1


PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan chất thải lò giết mổ
1.1.1. Nguồn thải
Môi trường đang là một vấn đề thách thức đối với các quốc gia nói
chung, và với Việt Nam nói riêng. Sự phát triển của ngành lương thực, thực
phẩm nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của con người đang đồng

thành trên toàn quốc mới có khoảng 851 cơ sở giết mổ đã được kiểm tra đánh
giá, ngoài ra còn hơn 28.285 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, trong đó ở 12 tỉnh trọng
điểm phía Bắc có khoảng 11485 điểm, trong đó chỉ có khoảng 59 cơ sở giết
mổ tập trung (chưa đến 1%). Điều này cho thấy, hiện trạng về năng lực giết
mổ gia súc, gia cầm ở Việt Nam hầu hết được thực hiện theo cách thức giản
đơn và tại chỗ, trong các lò giết mổ hình thành tự phát ngay trong cộng đồng
dân cư, hay thậm chí ngay tại gia đình chăn nuôi. Chỉ có một số ít nhà máy
chế biến thịt công nghiệp và được quy hoạch tổ chức với hệ thống xử lý nước
thải và chất thải theo tiêu chuẩn, tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn như
Hà Nội, Hồ Chí Minh. Trong khi đó, các chất thải trong quá trình giết mổ gia
súc, gia cầm bao gồm nước thải và chất thải rắn. Các chất thải rắn phát sinh từ
các lò giết mổ thực chất là các thành phần không được sử dụng trong quá
trình giết mổ như: cặn, phân, các chất bẩn trong lòng ruột của các con gia súc
và các mảnh vụn từ lòng, mề, ruột, xương,... Các thành phần này chứa lượng
lớn các chất hữu cơ chưa phân hủy và rất nhiều các loại vi khuẩn, vi rút, nấm
có hại cho sức khỏe của con người, nếu không được xử lý sẽ gây ô nhiễm môi
trường và đe dọa nghiêm trọng tới sức khỏe của con người. Với đặc điểm của
hệ thống lò giết mổ nhỏ lẻ, tự phát và thiếu tập trung, lượng chất thải và nước
thải phát sinh từ các lò giết mổ thường không được xử lý mà đổ thẳng ra môi
trường, hoặc nếu có cũng xử lý chưa hiệu quả, mang tính đối phó.
3


Đứng trước thực trạng đó, yêu cầu thực tế đặt ra là cần phải tập trung và kế
hoạch hoá các khu vực lò giết mổ, để có thể xây dựng hệ thống xử lý nước thải
và chất thải tập trung, nhằm đảm bảo các yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường.
1.1.2. Nước thải lò giết mổ
 Đặc tính nước thải các lò giết mổ trên thế giới
Hầu hết nước thải lò giết mổ được tạo ra trong sản xuất sản phẩm thịt
do các quá trình làm sạch: rửa thịt trước và sau khi giết mổ động vật và rửa

40:2011/BTNMT

(1)

(2)

(3)

(4)

(5)

7,1

7,2

6,7

7,3

6,05

5,5 - 9

-

900

11.000


1.020

100

TN

mg/l

735

190

-

-

381

40

Amoni
-N

mg/l

221

-

-

phẩm và xử lý môi trường nghiêm ngặt. Tại hầu hết các nước phát triển đều
có hệ thống xử lý nước thải tập trung cho nước thải toàn thành phố (hoặc của
quận, huyện). Nước thải giết mổ cũng có thể được vận chuyển đến nhà máy
xử lý nước thải tập trung và được xử lý tại đây. Đối với lò giết mổ tại các
thành phố hoặc các vùng nông thôn không có hệ thống xử lý nước thải tập
trung, thì các nơi đó phải có các công nghệ xử lý nước thải tại nguồn. Chất
lượng nước thải lò mổ khác nhau tùy thuộc vào việc xử lý sơ bộ/chính được
sử dụng và hiệu quả của nó.
5


 Đặc tính nước thải các lò giết mổ tại Việt Nam
Theo Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 29 tháng 05 năm 2015 của Thủ
tướng Chính phủ, về hoạt động giết gia súc, gia cầm, hiện nay, Việt Nam
có hơn 35.400 cơ sở giết mổ (với 815 cơ sở giết mổ tập trung và hơn
34.600 điểm giết mổ nhỏ lẻ). Hoạt động này đang gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến môi trường, vệ sinh thú y và an toàn thực phẩm. Các cơ sở giết
mổ tập trung tuy đã xây dựng hệ thống xử lý chất thải nhưng vẫn chưa đạt
yêu cầu, nhất là về tiếng ồn, ô nhiễm mùi và nguồn nước thải. Các điểm
giết mổ nhỏ lẻ chủ yếu nằm trong các khu dân cư và phát triển tự phát và
phần lớn không được kiểm soát bởi các cơ quan chức năng. Tại các điểm
giết mổ nhỏ lẻ, không có nơi dành riêng cho từng công đoạn và không sự
phân tách giữa khu sạch và khu bẩn; các loại chất thải như phân, nước, phụ
phẩm xả tràn lan khi giết mổ hoặc thải trực tiếp xuống sông, cống rãnh
thoát nước, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hiện nay, mới chỉ có
một số các lò giết mổ ở nông thôn xây dựng bể tự hoại hay hầm biogas để
xử lý các chất thải rắn lỏng này.
Đối với một số các cơ sở giết mổ tập trung lớn đã được thành phố Hà
Nội xây dựng hệ thống xử lý nước thải và chất thải rắn khá hoàn chỉnh ví dụ
cơ sở giết mổ Vĩnh An và Thịnh An. Tuy nhiên hoạt động xử lý của công ty

giết mổ tập trung ở Việt Nam hiện nay đang ở tình trạng báo động và sức
khỏe của người dân sống xung quanh các làng và lò giết mổ tập trung này
đang bị đe dọa nghiêm trọng, do vậy cần áp dụng các công nghệ xử lý nước
thải phù hợp.

7


Bảng 0.2: Đặc tính của nước thải giết mổ gia súc tại một số lò giết mổ
tại Việt Nam

Chỉ tiêu

Đơn vị

Xí nghiệp
Chế biến
thực phẩm I

Cơ sở
Tân Phú
Trung

(Ninh Kiều,
Cần Thơ) (1)

(Củ Chi)

Độ màu


TN

mg/l

TP

(2)

Phường
Xuân
Phú
(Huế) (3)

QCVN
40:2011/BTN
MT (cột B)

-

150

6,4

6,5 - 8,0

5,5 - 9

270

484 - 512 100


mg/l

-

55,6
78,2

PO43—P

mg/l

-

-

-

Độ đục

NTU

-

-

-

Tổng dầu
mỡ


8

(3)


1.1.3. Chất thải rắn lò giết mổ
Các chất thải trong quá trình giết mổ gia súc, gia cầm bao gồm nước thải
và chất thải rắn. Các chất thải rắn phát sinh từ các lò giết mổ thực chất là các
thành phần không được sử dụng trong quá trình giết mổ như: cặn, phân, các
chất bẩn trong lòng ruột của các con gia súc và các mảnh vụn từ lòng, mề,
ruột, xương,... Các thành phần này chứa một lượng lớn các chất hữu cơ chưa
phân hủy và rất nhiều các loại vi khuẩn, virut, nấm có hại cho sức khỏe của
con người, nếu không được xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường và đe dọa
nghiêm trọng tới sức khỏe của con người.
Ở các nước công nghiệp phát triển, hoạt động giết mổ được quy hoạch và
triển khai trong các lò giết mổ lớn, được kiểm soát thú y, an toàn thực phẩm và xử
lý môi trường nghiêm ngặt. Chất thải rắn bao gồm các vụn thịt thừa, lông, da,
xương, nội tạng... Sau đó, chất thải rắn được đem xử lý bằng các công nghệ xử lý
chất thải riêng biệt. Tại hầu hết các nước phát triển, tùy vào vị trí và quy mô của lò
giết mổ mà chất thải rắn sẽ được đưa đến nơi xử lý tập trung hay xử lý tại nguồn.
Tại Hoa Kỳ và Canada, việc quản lý chất thải rắn từ lò giết mổ rất
nghiêm ngặt. Chất thải rắn giết mổ thường được chia làm 2 nhóm:
Nhóm 1: bao gồm các chất rắn như: dạ dày, ruột, phân, lông, các chất rau
cỏ trong ruột.
Nhóm 2: bao gồm cặn, thịt thừa, xương, thịt hỏng
Mỗi loại sẽ được xử lý bằng các công nghệ xử lý khác nhau. Đối với
nhóm 1 các biện pháp xử lý được khuyến khích là phương pháp sử dụng bể
kỵ khí sinh học và biện pháp tạo phân compost. Loại chất thải nhóm 2 thường
được khuyến khích trong việc sử dụng phương pháp chế biến phụ phẩm giết

rắn nào. Tuy nhiên, trong khi bao bọc sản phẩm tất yếu sẽ phát sinh lượng túi
bao bì, nylon, giấy loại… từ hoạt động của con người nhưng thành phần rác
thải này cũng chủ yếu là các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học.

10


Hình 0.1:
.1: Quy trình gi
giết
ết mổ gia súc, gia cầm phát sinh chất thải rắn
Nhìn
ìn chung, các chất
ch thải rắn trong các lò giết mổ sẽ phát tán bằng
b
nhiều
đường khác nhau. Mộtt ph
phần có thể được công nhân thu gom lạại và mang đến
nơi chứa rác công cộng.
ng. Tuy nhiên, trong quá trình giết
gi mổ, chấất thải rắn hầu
như không đượcc thu gom, công nhân thường phun nước thậtt nhi
nhiều cho chúng
trôi vào hố gas hoặcc đư
đường cống, sau đó được lấyy lên cùng vvới cặn và bùn
lắng. Đây cũng là mộtt trong những
nh
công đoạn sử dụng nhiềuu nư
nước, vì phải
phun nước với áp lực rấất mạnh thì lông, phân và xương vụn,...



muỗi xâm nhập vào, và sẽ là ổ chứa các mầm bệnh nguy hiểm, đó sẽ là
nguyên nhân gây ra các bệnh dễ lây nhiễm cho con người. Bên cạnh chất thải
rắn từ gia súc, gia cầm thì còn có một lượng chất thải rắn phát sinh do hoạt
động sinh hoạt của công nhân chủ yếu là các chất dễ phân hủy sinh học sẽ
được thu gom và ủ làm phân bón cùng với phân gia súc. Các loại chất thải rắn
khó phân hủy sinh học như bao bì nilon, vỏ chai lọ, vỏ hộp,…có thể tái sử
dụng và đem đi xử lý hàng ngày.
Dù theo hình thức nào thì các chất thải này cũng đều có hại và ẩn chứa
nhiều nguy cơ gây bệnh tật, do vậy cần phải có biện pháp xử lý kịp thời, đúng
cách, hữu hiệu nguồn thải này để tránh những tác hại xấu đến sức khỏe của
con người và đến môi trường nói chung.
1.2. Các phương pháp xử lý chất thải lò giết mổ
1.2.1. Xử lý nước thải lò giết mổ
Công nghệ xử lý tại nguồn chất thải lò giết mổ hiện nay trên thế giới là
khá đa dạng, các phương pháp được sử dụng như là hóa lý, hóa học, cơ học,
sinh học. Công nghệ xử lý nước thải trên thế giới có thể được chia khái quát
thành hai loại: công nghệ xử lý truyền thống và công nghệ xử lý hiện đại. Một
số các phương pháp xử lý hiện đại có thể kể đến như màng kết hợp với bể
sinh học (MBR), hoặc phương pháp oxy hóa khử tiên tiến AOP, Fenton. Cần
phải nhấn mạnh rằng mỗi phương pháp có những ưu, nhược điểm cũng như
những đặc điểm và yêu cầu về nguồn xử lý rác thải và chi phí đầu tư vận hành
khác nhau.
Trước đây, ở một số các lò giết mổ ở Bắc Mỹ (Mỹ, Canada) và một số các
lò giết mổ ở Châu Âu có sử dụng hệ thống xử lý nước thải theo quy trình hóa
lý: nước thải  keo tụ  tuyển nổi. Hệ thống này có khả năng xử lý đến 90%
COD và một lượng lớn các chất hữu cơ như Nitơ và Photpho. Tuy nhiên theo
khảo sát tại hơn 200 lò giết mổ của Hoa Kỳ ở những năm thập kỷ 70 của thế kỉ
12


“Nghiên cứu sử dụng cỏ Vertiver để xử lý nước thải từ các bãi rác và nước
thải sản xuất”. Trong đó nhóm nghiên cứu có áp dụng cho cơ sở lò giết mổ và
đạt một số kết quả khả quan như giảm được 73% lượng SS trong nước và đạt
tỉ lệ xử l. BOD, COD và SS cao. Cũng như giải pháp của Công ty môi trường
Ngọc Lân, giải pháp này có ưu điểm là rẻ tiền, vốn đầu tư và vận hành thấp,
thân thiện với môi trường. Tuy nhiên phương pháp này gặp một số các nhược
điểm lớn là không giải quyết triệt để ô nhiễm do nước thải giết mổ gây ra
(hàm lượng BOD, COD sau xử lý vẫn cao), tốn nhiều diện tích để trồng cỏ và
lượng cỏ phát triển sau khi hấp phụ phải đem đi chôn lấp ở tại các bãi rác
hoặc đốt, do đó, có khả năng gây ô nhiễm môi trường thứ cấp. Hay đề tài của
Lê Hoàng Việt, Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, Đại học Cần
Thơ về “Nghiên cứu xử lý nước thải gia súc tập trung bằng đĩa quay sinh học”
được báo cáo trong tháng 4/2014 với mục tiêu: tìm ra thông số thiết kế và vận
hành của hai loại đĩa quay sinh học; đánh giá sự tác động của xử lý hai bậc
đối với nước thải giết mổ trong thời gian 6 giờ và khả năng ứng dụng thực tế
thông qua việc tạo màng vi sinh vật cho các đĩa quay sinh học. Năm 2014,
nhóm tác giả Đặng Xuân Hiển (Bộ môn Công nghệ Môi trường – Viện Khoa
học và Công nghệ Môi trường, Đại học Bách Khoa Hà Nội) và Nguyễn Hữu
Nam (Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp) tiến hành nghiên cứu dựa trên đánh
giá việc loại bỏ chất hữu cơ, nitơ và phốt pho có trong nước thải giết mổ bằng
mô hình thí nghiệm AO-USBF nhằm chỉ ra công nghệ xử lý nước thải giết mổ
hiệu quả và kinh tế trong tương lai...
Cùng với mục tiêu phát triển bền vững của đất nước, việc kiểm soát, xử lý
ô nhiễm môi trường, phòng chống dịch bệnh cho ngành giết mổ gia súc đã và
đang được quan tâm. Trong số đó, đặc biệt phải kể đến nguồn nước thải từ các lò
giết mổ gia súc cần phải xử lý triệt để do tải trọng thải của các chất gây ô nhiễm
là rất lớn. Hơn nữa với xu thế sản xuất quy mô công nghiệp và tập trung hiện
14



- Phương pháp ủ phân hữu cơ:
Ủ phân hữu cơ là quá trình hiếu khí trong đó các chất hữu cơ bị phân hủy
thông qua các hoạt động của vi sinh vật (Dees và Ghiorse, 2001). Chất thải
được xử lý có thể có nguồn gốc hữu cơ hoặc không phải hữu cơ, bùn thải,
phân gia súc/gia cầm, sinh khối và chất thải rắn đô thị. Các lợi ích của phân
hữu cơ đối với đất canh tác đã được nghiên cứu, báo cáo bởi nhiều tác giả
(Ibekwe và cs, 2001; Bailey và Lazarovits, 2003).
- Phương pháp tạo các chế phẩm tự phụ phẩm:
Tạo các chế phẩm từ phụ phẩm là quá trình sử dụng các phương pháp
hóa học và lý học thông qua các quy trình công nghệ khác nhau. Phương pháp
này thường được sử dụng để xử lý các loại chất thuộc nhóm 2. Từ 1/3 đến
một nửa cơ thể gia súc cho thịt, sữa, trứng hoặc lông không được con người
sử dụng. Phần thừa này chính là nguyên liệu đầu vào của các quá trình chế
biến nhằm tạo ra các sản phẩm hữu ích. Bột thịt xương, bột thịt, bột gia cầm,
bột lông vũ, bột máu, bột cá, và mỡ động vật là các sản phẩm chính của ngành
chế biến các phụ phẩm giết mổ. Vai trò quan trọng và cũng là giá trị nhất của
các sản phẩm này chính là ở chỗ các sản phẩm đó có thể được sử dụng làm
thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản và sinh vật cảnh.
- Phương pháp AH:
Phương pháp AH đại diện cho một công nghệ tương đối mới trong việc
xử lý chất thải rắn hữu cơ lò mổ hay các chất thải lây nhiễm (Kaye, 2003;
NABC, 2004). Phương pháp này sử dụng natri hoặc kali hydroxit để xúc tác
cho quá trình thủy phân của thành phần sinh học (protein, axit nucleic,
carbohydrate, chất béo, vv) thành một dung dịch vô trùng gồm các peptide
nhỏ, các axit amin, các chất đường và xà phòng. Để thúc đẩy quá trình thủy
phân, phương pháp này thường được thực hiện trong một điều kiện áp suất và
nhiệt độ phù hợp. Để loại bỏ các tác nhân gây bệnh, chất thải rắn hữu cơ lò
16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status