1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ trước đến nay đã trải qua nhiều hình
thái kinh tế xã hội khác nhau, đó là các hình thái: công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu
nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Mỗi hình thái kinh tế xã
hội ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử đều có tính hợp lý riêng của nó, vì vậy nó
đem lại được nhiều thành công vượt trội, song nó cũng chưa thật được hoàn thiện
cũng như chưa có một hình thái kinh tế nào có một cơ chế quản lý, điều hành kinh
tế một cách phù hợp nhất.
Chúng ta hiện đang ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của nền kinh tế thị
trường. Vì thế không có nền kinh tế nào chịu sự điều tiết của cơ chế thị trường mà
không có sự quản lý của Nhà nước, chỉ là mức độ và phạm vi ảnh hưởng có sự khác
nhau giữa các quốc gia. Bởi bên cạnh những mặt tích cực của kinh tế thị trường
đem lại như: năng suất lao động tăng nhanh, công nghệ sản xuất không ngừng được
cải tiến, hàng hoá sản xuất ra có chất lượng cao hơn trước, thu nhập quốc dân
tăng.... thì cơ chế thị trường cũng nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực cần giải quyết như:
lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng, tệ nạn xã hội,... Thực tế đã cho thấy, khi để nền
kinh tế vận động theo cơ chế thị trường không có sự quản lý của Nhà nước thì nền
kinh tế đó không những không đạt được những mục tiêu kinh tế đã đề ra mà còn
khiến nó bị đẩy lùi, điển hình là cuộc khủng hoảng 1929-1933. Song nếu có sự can
thiệp của Nhà nước và có chiến lược đúng đắn thì nó lại là động cơ thúc đẩy sự phát
triển nền kinh tế.
Do đó cần có sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế để đảm bảo nền kinh
tế có sự phát triển hiệu quả, công bằng và ổn định. Để hiểu rõ hơn về cơ chế tổ
chức, quản lý kinh tế của nhà nước qua các giai đoạn phát triển của lịch sử, em
1
quyết định chọn đề tài: Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường để
nghiên cứu. Mặc dù có sự hướng dẫn tận tình của thầy cùng với sự cố gắng của cá
nhân nhưng do lượng kiến thức còn hạn chế nên khó tránh sai sót, mong thầy có thể
góp ý để em hoàn thiện bài luận cá nhân của mình được tốt hơn..
2
- Các chủ thể kinh tế có tính tự chủ cao. Mỗi chủ thể kinh tế là một thành phần của
nền kinh tế có quan hệ độc lập với nhau, mỗi chủ thể tự quyết định lấy hoạt động
của mình.
- Tính phong phú của hàng hóa. Do các chủ thể kinh tế đều tự quyết định lấy hoạt
động của mình nên bất cứ hàng hoá nào có nhu cầu thì sẽ có người sản xuất. Mà
nhu cầu của con người thì vô cùng phong phú, điều này tạo nên sự phong phú của
hàng hoá trong nền KTTT .
- Cạnh tranh là tất yếu trong KTTT. Hàng hoá nào có nhu cầu lớn thì sẽ có nhiều
người sản xuất. Khi có quá nhiều người cùng sản xuất một mặt hàng thì sự cạnh
tranh là tất yếu.
- KTTT là một hệ thống kinh tế mở, trong đó có sự giao lưu rộng rãi không chỉ
trong thị trường một nước mà giữa các thị trường với nhau.
- Giá cả hình thành ngay trên thị trường. Không một chủ thể kinh tế nào quyết định
được giá cả. Giá của một mặt hàng được quyết định bởi cung và cầu của thị trường.
Nền KTTT có thể tự hoạt động được là nhờ vào sự điều tiết của cơ chế thị
trường. Đó là các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung
cầu, lưu thông tiền tệ, cạnh tranh…tác động, phối hợp hoạt động của toàn bộ thị
trường thành một hệ thống thống nhất.
2.3 Ưu và nhược điểm của nền kinh tế thị trường
2.3.1 Ưu điểm
KTTT thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa
các nhà sản xuất. Người tiêu dùng được thoả mãn nhu cầu cũng như đáp ứng được
đầy đủ mọi chủng loại hàng hoá và dịch vụ.
3
đều bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, xã hội không có sự phân biệt người
giàu, người nghèo, không có sự phân chia giai cấp hay đấu tranh giai cấp. Nền kinh
tế bấy giờ hoàn toàn là nền kinh tế tự nhiên và mang tính chất tự cấp, tự túc.
Sản xuất phát triển, của cải dư thừa là căn cơ dẫn đến sự phân hóa xã hội. Một
số người đã lợi dụng địa vị trong cộng đồng của mình để chiếm đoạt tài sản chung
của xã hội và biến chúng thành tài sản cá nhân. Chính vì lý do đó mà chế độ tư hữu
xuất hiện, nó làm phá vỡ các mối quan hệ cộng đồng và nguyên tắc vàng của xã hội
cũng không còn tồn tại. Chế độ tư hữu càng phát triển thì sự phân hóa xã hội ngày
càng sâu sắc, từ đó hình thành nên hai giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ. Giai cấp
mới xuất hiện đã làm đảo lộn đời sống trong thị tộc, chế độ thị tộc cũng không còn
trụ vững được nữa và diệt vong là đều tất yếu.
Khi một tổ chức diệt vong thì đòi hỏi phải có một tổ chức mới hình thành, có
đủ khả năng giải quyết được các mâu thuẫn xã hội đã tồn tại và duy trì xã hội tồn tại
trong một trật tự nhất định sao cho phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Tổ
chức đó chính là nhà nước. Vì vậy, nhà nước xuất hiện như là một tất yếu, khách
quan của xã hội. Đồng thời, nhà nước cũng chính là công cụ để bảo vệ lợi ích cho
giai cấp thống trị.
3.2 Vai trò của nhà nước qua các thời kì phát triển của xã hội
Chúng ta có thể thấy rằng: nhà nước chỉ ra đời và tồn tại trong xã hội có giai cấp.
Trong lịch sử phát triển của xã hội, các nhà nước đã sử dụng nhiều phương thức
khác nhau để nắm giữ nền kinh tế nhằm phục vụ chức năng quản lý của mình. Tuy
nhiên không phải nhà nước nào cũng nắm giữ nền kinh tế vì lợi ích cá nhân, mà
5
trong một số trường hợp nó còn phục vụ lợi ích chung cho nhiều tầng lớp khác
trong xã hội.
Ở chế độ Chiếm hữu nô lệ, Nhà nước chủ nô (kiểu nhà nước đầu tiên của lịch
sử) đã dùng quyền lực chính trị của mình để đàn áp và thống trị nô lệ. Họ can thiệp
vào quá trình phân phối của cải vật chất xã hội và lợi dụng cái mác phân phối ấy để
mạnh mẽ các chính sách của châu Âu thế kỷ VIII khi người lao động phải có được
sự cho phép của chính phủ để di chuyển từ thị trấn này đến thị trấn nọ, thậm chí
trong một địa hạt. Ông cũng phản đối gay gắt các nổ lực của nhà nước trong việc
điều chỉnh và tăng mức lương nhân tạo. Ông viết “bất kỳ khi nào luật pháp cố gắng
điều chỉnh lương của người lao động thì nó thường được điều chỉnh giảm xuống
hơn là điều chỉnh tăng lên”. Như mọi công dân khác, ông mong muốn có được mức
lương cao, nhưng ông muốn nó phải đến thông qua sự vận động tự nhiên của thị
trường lao động, chứ không phải từ các sắc lệnh của chính phủ. Ông cho rằng, nhà
nước chỉ nên thực hiện chức năng nguyên thủy của mình là lập pháp, hành pháp,
bảo vệ an ninh quốc gia và không nên can thiệp vào nền kinh tế. Theo ông, việc tổ
chức nền kinh tế hàng hóa cần phải thực hiện theo nguyên tắc tự do. Quá trình phát
triển của toàn bộ nền kinh tế là do các quy luật khách quan của tự nhiên chi phối, thị
trường vận động theo quan hệ cung cầu và sự biến đổi của giá cả. Có nghĩa là, bàn
tay vô hình sẽ tự điều chỉnh một cách linh hoạt theo quy luật khách quan của thị
trường mà không cần sự can thiệp của nhà nước. Việc đề cao “bàn tay vô hình” và
xem nhẹ “bàn tay nhà nước” đã được thực hiện ở các nước TBCN trong giai đoạn tự
7
do cạnh tranh cũng đã đem lại sự tăng trưởng nhất định cho nền kinh tế. Tuy nhiên,
thị trường tự do không có sự can thiệp của nhà nước này ngày càng lộ rõ những
khuyết điểm như: cạnh tranh độc quyền, ô nhiễm môi trường, hoạt động kinh tế
chồng chéo và đặc biệt hơn hết là cuộc khủng hoảng kinh tế ở châu Âu (19291933). Điều này đã chứng minh “bàn tay vô hình” không thể đảm bảo cho những
nền kinh tế thị trường phát triển một cách ổn định. Mặt khác, khi trình độ phát triển
của xã hội ngày càng cao thì đòi hỏi bức bách lúc bấy giờ là sự can thiệp của nhà
nước vào nền kinh tế.
Vào những năm 30 của thế kỷ XX, khi tình trạng khủng hoảng kinh tế cứ xảy
ra liên tục thì quan điểm “bàn tay nhà nước” của Keyness ra đời. Lý thuyết của
Kyness là lý thuyết trọng cầu, ông đề cao vai trò của tiêu dùng trong việc trao đổi
và coi đây là nhiệm vụ hàng đầu mà các nhà kinh tế học cần giải quyết. Ông cho
những khuyết tật do thị trường sinh ra và tự nó không thể giải quyết đc. Mặc dù cơ
chế thị trường có vai trò quan trọng trong sản xuất và phân phối hàng hoá, nhưng
những khuyết tật của nó nhiều khi lại dẫn đến kết cục kinh tế kém hiệu quả. Vì vậy
nhà nước có thể tham gia sửa chữa các khuyết tật đó. Tuy nhiên cũng như thị
trường, việc điều tiết của chính phủ cũng tồn tại nhiều khuyết tật. Hoạt động phân
phối lại thu nhập của chính phủ có thể thiếu tính công bằng và phi hiệu quả. Trên
thực tế cho thấy, nếu chỉ sử dụng “bàn tay vô hình” hay “bàn tay nhà nước” thì đều
không thể đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển lâu dài. Do đó cần phải
9
biết vận dụng phối hợp cả hai bàn tay một cách hài hòa và hợp lý để đảm bảo thực
hiện được các mục tiêu kinh tế một cách hiệu quả.
Qua các giai đoạn phân tích, đánh giá các quan điểm của các trường phái kinh
tế, chúng ta có thể thấy được tính chất thiết yếu của vai trò quản lý kinh tế vĩ mô
của nhà nước. Sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế là cần thiết và không thể
chối bỏ được trong việc ngăn ngừa và khắc phục những khuyết tật của thị trường,
đồng thời giúp cho thị trường hoạt động có hiệu quả.
3.3 Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường là cần thiết và không thể
thiếu. Nó giúp thị trường phát triển theo hướng tích cực, đồng thời ngăn chặn, khắc
phục những khuyết tật mà cơ chế thị trường gây ra. Khi lực lượng sản xuất càng
phát triển, trình độ xã hội hóa ngày càng cao thì vai trò kinh tế của nhà nước ngày
càng được coi trọng và đòi hỏi mức độ đổi mới phải cao hơn.
Vai trò của nhà nước được thực hiện thông qua các chức năng cơ bản sau đây:
-
Nhà nước đóng vai trò định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế
Định hướng chiến lược kinh tế đúng đắn có vai trò tiên quyết đối với sự phát
kinh tế vận hành và phát triển.
-
Điều phối, điều tiết:
Nhà nước cần sửa chữa những khiếm khuyết của thị trường để thị trường hoạt
động có hiệu quả bằng hình thức điều phối, điều tiết mọi hoạt động cũng như vật
chất một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện địa lý và môi trường sống để hạn chế
những sự lãng phí không cần thiết từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế.
11
Nhà nước tạo ra các điều kiện kinh tế cần thiết để thị trường tư nhân có thể
phát huy hết hiệu quả hoạt động của mình.
Tạo ra một thị trường tiền tệ ổn định, được chấp nhận rộng rãi, có khả năng
loại bỏ hệ thống giao dịch cồng kềnh, kém hiệu quả và đồng thời có khả năng duy
trì giá trị tiền tệ thông qua các chính sách hạn chế lạm phát.
Chính sách tài chính bao gồm các chính sách thuế và chi tiêu ngân sách của
Nhà nước giúp điều tiết chu kỳ kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm, ổn định giá cả và
tăng trưởng liên tục của nền kinh tế. Trong những thời kỳ kinh tế suy giảm, chính
sách tài chính có tác dụng kích cầu và sản xuất bằng cách Chính phủ tăng mua,
giảm thuế, do đó tạo ra được một thu nhập quốc dân khả dụng lớn hơn để đưa vào
luồng tiêu đùng. Còn trong những thời kỳ kinh tế "quá nóng", chính phủ làm ngược
lại. Để cân bằng lại những biện pháp tài chính cố ý này, Nhà nước tạo ra nhưng cái
gọi là cơ chế ổn định, như thuế thu nhập luỹ tiến và phụ cấp thất nghiệp. Chính sách
tài chính được điều hành một cách độc lập với chính sách tiền tệ là chính sách nhằm
điều tiết hoạt động kinh tế bằng cách kiểm soát việc cung ứng tiền.
Chính sách tiền tề để ổn định kinh tế và can thiệp tỷ giá hối đoái. Về ổn định
kinh tế vĩ mô, nguyên lý hoạt động chung của chính sách tiền tệ là cơ quan hữu
mình là thiết lập khuôn khổ pháp luật, điều phối, điều tiết, đảm bảo sự công bằng và
kiểm soát ổn định kinh tế vĩ mô nhằm đảm bảo quyền tự do tự chủ, công bằng xã
hội trong phân phối kinh tế và mở rộng phúc lợi xã hội hạn chế khủng hoảng dẫn
đến sự ổn định kinh tế vĩ mô. Việc quan trọng nhất của Nhà nước là ngay từ đầu
Nhà nước cần phải xác định đúng mục tiêu quản lý của mình, để từ đó đưa ra những
chính sách, chiến lược hợp lý thì mới thành công trong công cuộc đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế. Kinh tế thị trường mà cụ thể là cơ chế thị trường phải được thực
14
hiện từng bước không được nóng vội, đốt cháy giai đoạn nếu không sẽ gây ra những
hậu quả khó lường.
Thị trường ở nước ta tuy đã được mở rộng song vẫn còn nhỏ bé và đang còn
mang tính lạc hậu so với thế giới. Vì vậy đòi hỏi Nhà nước ta cần phải có những ưu
sách nhằm mở rộng và cải tiến để có một thị trường lành mạnh hơn tốt đẹp hơn. Để
tránh hiện tượng các công ty nước ngoài chèn ép các doanh nghiệp trong nước. Nhà
nước cần phải nhìn thấy được những lợi thế của mình để từ đó nâng cao dần vị trí
của mình trên thị trường trong nước cũng như trên thị trường quốc tế. Với sự điều
tiết vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, chúng ta hy vọng rằng nó sẽ
khắc phục được những khuyết tật của cơ chế thị trường trên cơ sở đó phát huy
những thế mạnh của nó. Đồng thời tạo tiền đề đưa nền kinh tế phát triển nhanh
chóng, xã hội cũng trở nên công bằng, văn minh và hiện đại hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Mark skousen, 2015. Ba người khổng lồ trong kinh tế học. Hà Nội: Nhà xuất bản
2.
3.
4.
5.
chính trị quốc gia – Sự thật