Tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên và áp dụng biện pháp phòng chống. - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------

NGÔ THỊ THU HÀ
Tên đề tài:
TÌNH HÌNH NHIỄM BỆNH GIUN ĐŨA Ở LỢN TẠI MỘT SỐ XÃ
THUỘC HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính qui

Chuyên ngành:

Thú y

Khoa :

Chăn nuôi thú y

Khóa học:

2011-2015

Thái Nguyên, 2015



2011-2015

Giảng viên hƣớng dẫn: 1. TS. Phạm Diệu Thùy
2. ThS. Đỗ Thị Lan Phƣơng

Thái Nguyên, 2015


i

LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa
Chăn nuôi Thú y, cô giáo hướng dẫn và sự nhất trí của Ban lãnh đạo Trạm thú
y huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên, em thực hiện nghiên cứu đề tài: “Tình
hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên và áp dụng biện pháp phòng chống”.
Trong quá trình thực hiện đề tài, được sự giúp đỡ và chỉ bảo ân cần của
các thầy cô trong trường, khoa Chăn nuôi Thú y; Ban lãnh đạo và toàn thể cán
bộ Trạm thú y huyện Đại Từ.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Nhà trường, khoa Chăn nuôi
Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dìu dắt và dạy dỗ
em trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập. Đặc biệt
em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn TS. Phạm Diệu
Thùy và ThS. Đỗ Thị Lan Phương đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá
trình thực tập và hoàn thành khóa luận này.
Qua đây em xin gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ
Trạm thú y huyện Đại Từ đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ em
trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở.
Một lần nữa, em xin kính chúc toàn thể các thầy cô giáo trong khoa
Chăn nuôi Thú y sức khỏe và thành đạt.

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1. Tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn tại 3 xã thuộc huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên .....26
Hình 4.2. Cường độ nhiễm bệnh giun đũa lợn tại một số xã thuộc huyện Đại Từ tỉnh
Thái Nguyên ..............................................................................................27
Hình 4.4. Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo giống lợn tại 3 xã thuộc huyện Đại Từ tỉnh
Thái Nguyên ..............................................................................................33
Hình 4.5. Tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn theo các tháng trong năm tại 3 xã thuộc huyện
Đại Từ tỉnh Thái Nguyên ..........................................................................35
Hình 4.6. Tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn theo phương thức chăn nuôi tại 3 xã thuộc
huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên ...............................................................37
Hình 4.7. Tỷ lệ nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y tại 3 xã thuộc
huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên ...............................................................39


iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

cs

: Cộng sự

Nxb

: Nhà xuất bản

tr

: Trang

2.1.8. Chẩn đoán bệnh giun đũa lợn............................................................................9
2.1.9. Biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa lợn ..........................................................10
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước. .......................................................11
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước. ...................................................................11
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ...................................................................13
PHẦN 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....15
3.1. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ...................................................15


vi
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ......................................................................15
3.3. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................15
3.3.1. Điều tra tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên ................................................................................................15
3.3.2. Áp dụng biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa lợn ............................................15
3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi..............................................15
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................................20
4.1. Công tác phục vụ sản xuất .................................................................................20
4.1.1. Nội dung ..........................................................................................................20
4.1.2. Phương pháp tiến hành ....................................................................................20
4.1.3. Kết quả phục vụ sản xuất ................................................................................21
4.1.4. Kết luận, tồn tại và đề nghị .............................................................................24
4.2. Kết quả nghiên cứu ............................................................................................25
4.2.1. Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo địa phương ..............................................25
4.2.2. Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo lứa tuổi. ...................................................28
4.2.3. Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo tính biệt ...................................................31
4.2.4. Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo giống lợn. ................................................32
4.2.5. Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo các tháng trong năm. ..............................34
4.2.6. Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo phương thức chăn nuôi ...........................36
4.2.7. Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y ...........................38

khăn, làm thế nào để đàn lợn khỏi bị bệnh, đặc biệt là bệnh ký sinh trùng nói
chung và bệnh giun đũa lợn nói riêng?
Hiện nay mạng lưới thú y cơ sở ngày càng củng cố nhưng công tác
khuyến nông tẩy giun sán cho lợn chưa được chú trọng do hình thức chăn
nuôi nhỏ lẻ, thiếu tập trung đã gây khó khăn cho công tác của cán bộ thú y cơ
sở, chính vì vậy mà tỷ lệ lợn nhiễm giun đũa lợn khá cao.


2

Tại tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đại Từ nói riêng có điều kiện
cho việc phát triển chăn nuôi lợn, nhưng người chăn nuôi chưa quan tâm đến
công tác phòng trị bệnh do giun sán gây ra, vì vậy đã gây thiệt hại lớn về kinh
tế, dẫn đến người chăn nuôi không yên tâm phát triển rộng chăn nuôi.
Từ nhận thức trên, để hiểu rõ hơn và giải quyết vấn đề mà thực tế đề
ra, đồng thời bước đầu đánh giá hiệu quả sử dụng của một số loại thuốc ký
sinh trùng hiện nay. Được sự đồng ý của bộ môn Thú y – khoa Chăn nuôi thú
y, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành thực hiện đề tài:
“Tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc huyện Đại Từ,
tỉnh Thái Nguyên và áp dụng biện pháp phòng chống” .
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp thông tin mới về bệnh giun đũa lợn.
- Đề xuất các phương pháp phòng và trị bệnh giun đũa lợn hiệu quả.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Nắm được tình hình nhiễm bệnh giun đũa ở lợn tại một số xã thuộc
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, từ đó đưa ra biện pháp phòng trị bệnh đạt
hiệu quả.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin về tình hình nhiễm

4 lớp, lớp ngoài cùng là màng protit, màu vàng cánh gián, nhấp nhô làn sóng.
2.1.2. Chu kỳ phát triển của giun đũa lợn
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [7] cho biết: giun đũa lợn phát
triển không cần ký chủ trung gian, giun cái đẻ mỗi ngày 200.000 trứng, trung
bình mỗi giun cái đẻ 27 triệu trứng (Cram, 1925). Trứng theo phân ra ngoài, ở
nhiệt độ 240C và độ ẩm thích hợp, sau 2 tuần trong trứng có phôi thai, 1 tuần
sau thì phôi thai lột xác thành trứng có sức gây bệnh. Lợn nuốt phải trứng này


4

thì ấu trùng kỳ I nở ở ruột, chui vào mạch máu và niêm mạc, theo máu về gan.
Một số ít chui vào ống lâm ba màng treo ruột, vào tĩnh mạch màng treo ruột
rồi vào gan, lột xác thành ấu trùng kỳ II. Sau khi nhiễm 4 – 5 ngày thì hầu hết
ấu trùng di hành tới phổi, sớm nhất là sau 18 giờ, muộn nhất là sau 12 ngày
vẫn có ấu trùng vào phổi. Khi tới phổi ấu trùng lột xác thành ấu trùng kỳ III,
ấu trùng từ mạch máu phổi chui vào phế bào, qua khí quản và cùng với niêm
dịch, ấu trùng lên hầu rồi chui xuống ruột non, lột xác lần nữa và phát triển
thành giun trưởng thành. Thời gian ấu trùng di hành là 2 – 3 tuần. Trong khi
di hành một ấu trùng có thể vào lách, tuyến giáp trạng, não,… thời gian hoàn
thành vòng đời cần 54 – 62 ngày.
Giun đũa sống bằng dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa
phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân. Tuổi thọ
của giun đũa không quá 7 – 10 ngày. Nhưng nếu điều kiện sống bất lợi (như
ký chủ sốt cao…) thì tuổi thọ giun ngắn hơn.
Sơ đồ vòng đời của giun đũa ký sinh trong ruột lợn
T0, ẩm độ, ánh sáng thích hợp

Giun Ascaris suum
(Ký sinh ở ruột non)

tháng tuổi sau đó giảm dần.
- Đường truyền bệnh: bệnh truyền chủ yếu qua đường miệng. Lợn liếm
dụng cụ, máng ăn, nền chuồng, đất ở bãi chăn có nhiễm trứng giun đũa nên
trứng dễ xâm nhập vào đường tiêu hóa. Khi bón phân tươi cho ruộng trồng
cây thức ăn thì trứng giun đũa sống được vài tháng ở đất và cây thức ăn. Lợn
con nhiễm bệnh do lúc bú nuốt phải trứng giun ở đầu vú mẹ.
- Phân bố: bệnh lây nhiễm quanh năm ở các cơ sở chăn nuôi có điều
kiện vệ sinh kém và môi trường bị ô nhiễm. Bệnh phân bố ở tất cả các vùng
núi, trung du và đồng bằng.
- Mối liên quan giữa giun đũa người (Ascaris lumbricoides) và giun
đũa lợn (Ascaris suum): Trong nhiều năm gần đây, đã có nhiều tranh luận về
hai loài này là khác hay cùng một loài. Người ta đã gây nhiễm nhân tạo, thấy
giun đũa người có thể nhiễm cho lợn và trứng giun đũa lợn có thể nhiễm cho
người. Hiraishi (1928) và Boer (1935) đã gây nhiễm được trứng giun đũa
người cho lợn khi lợn ăn thức ăn thiếu Vitamin A. Soulsby (1961) cũng gây
nhiễm được trứng giun đũa người cho lợn con mới đẻ không được bú sữa đầu.
Takate (1951) lấy trứng giun đũa lợn gây nhiễm cho 19 người lớn thì có 7
người bị nhiễm. Xét về mặt dịch tễ, ở một khu vực lợn bị nhiễm với tỷ lệ rất
cao nhưng người nhiễm không cao, hoặc người nhiễm với tỷ lệ cao nhưng lợn
nhiễm không cao chứng tỏ chúng khác loài và không có liên quan trực tiếp.


6

2.1.4. Tỷ lệ và cường độ nhiễm của bệnh giun đũa lợn
Theo Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997) [3], bệnh giun đũa lợn
phân bố rộng rãi khắp mọi nơi, ở mọi vùng và mọi giống lợn. Lợn chăn nuôi
theo hướng công nghiệp nhiễm thấp hơn so với lợn chăn nuôi gia đình, tỷ lệ
nhiễm giun đũa lợn ở các vùng khác nhau như sau:
Miền Bắc tỷ lệ nhiễm bệnh này dao động 13 – 14 % (Phạm Văn Khuê,

+ 3 – 4 tháng tuổi nhiễm

67,1%

+ 5 – 7 tháng tuổi nhiễm

62,6%

+ > 7 tháng tuổi nhiễm

40,6%

Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [6]; Phan Địch Lân và cs
(2005) [14], tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm giun đũa qua mổ khám như sau:


7

Địa Phương

Tỷ lệ nhiễm

Cường độ nhiễm trung bình

43%

5,4 con

26,65%


5,9 con

+ Nghĩa Lộ
+ Quảng Ninh

2.1.5. Cơ chế phát sinh bệnh của bệnh giun đũa lợn
Trứng giun đũa lợn sau khi xâm nhập vào cơ thể ở thời kỳ ấu trùng hay
trưởng thành đều gây bệnh. Do ấu trùng di hành gây tổn thương nhiều khí
quan và mở đường cho nhiều vi khuẩn xâm nhập gây bệnh kế phát như xuất
huyết và thoái hóa gan, gây viêm phổi, nhiều khí quan khác cũng bị tổn
thương.
Theo Anderdahl (1997) [1], nếu cho lợn khỏe nuốt trứng giun đũa, sau
5 ngày cho nhiễm bệnh suyễn thì bệnh tích ở phổi rộng gấp 10 lần so với lợn
chỉ bị suyễn. Khi ấu trùng theo máu vào gan và dừng lại ở mạch máu gây lấm
tấm xuất huyết, đồng thời gây hoại tử tế bào gan.
Khi ấu trùng từ mạch máu phổi di chuyển đến tế bào gây vỡ mạch máu,
ở phổi có nhiều điểm xuất huyết, phổi bị viêm, triệu chứng viêm phổi có thể
kéo dai 5 – 14 ngày có khi làm con vật chết. Khi giun trưởng thành thì gây
loét niêm mạc ruột non, lợn có triệu chứng đau bụng, khi số lượng giun nhiều
sẽ gây tắc và thủng ruột, có khi giun chui vào ống mật làm tắc ống dẫn mật
gây hiện tượng hoàng đản.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [7], giun đũa tiết độc tố gây
nhiễm độc thần kinh trung ương và mạch máu, con vật có triệu chứng thần


8

kinh (tê liệt hoặc hưng phấn). Giun lấy dinh dưỡng của ký chủ, thải cặn bã
gây độc cho ký chủ. Kết quả làm cho ký chủ gầy còm, chậm lớn.
2.1.6. Tác hại của bệnh giun đũa lợn

thể và trong điều kiện nuôi dưỡng kém. Biểu hiện con vật suy nhược, kém ăn,
ỉa chảy, chướng bụng, miệng hôi, sốt, gan sưng và đau, thiếu máu, vàng da và
niêm mạc, đôi khi có triệu chứng thần kinh: đi xiêu vẹo, quay cuồng kiệt sức.
Lợn nhiễm trứng giun đũa nặng có các biến chứng: co giật do độc tố tác
động đến hệ thần kinh trung ương, tắc ống dẫn mật do quá nhiều giun đũa.
Đôi khi giun đũa chọc thủng ruột chui vào xoang bụng, con vật chết đột ngột
hoặc viêm phúc mạc cấp.
* Bệnh tích
Khi viêm phổi trên mặt phổi có đám xuất huyết màu hồng thẫm, có
nhiều ấu trùng giun đũa ở phổi. Gan có những điểm hoại tử màu trắng.
Khi giun trưởng thành thấy ruột non viêm cata, có nhiều giun ký sinh ở
ruột non. Trường hợp có quá nhiều giun làm tắc, vỡ ruột gây viêm phúc mạc.
Mổ khám lợn bị nhiễm giun đũa nặng thấy ruột có nhiều giun, niêm mạc ruột
có tổn thương và tăng sinh. Nếu viêm cata thứ phát sẽ thấy niêm mạc dạ dày,
ruột có tụ huyết từng đám, đôi khi có vết loét.
2.1.8. Chẩn đoán bệnh giun đũa lợn
+ Lợn dưới 2 tháng tuổi: Lợn con theo mẹ nếu có giun, thì giun chưa có
trứng (54 – 62 ngày giun mới đẻ trứng). Bởi vậy nếu muốn chẩn đoán bệnh,
có thể mổ khám rồi tìm ấu trùng ở phổi và gan.
+ Đối với lợn trên 2 tháng tuổi: kiểm tra phân bằng phương pháp phù
nổi để tìm trứng, mổ khám để tìm trứng, mổ khám để tìm giun tròn ở ruột
non. Có thể dùng phản ứng biến thái nội bì (dùng kháng nguyên pha loãng với
tỷ lệ 1/200 tiêm nội bì vành ngoài tai hoặc nhỏ vào xoang kết mạc mắt).
+ Đối với lợn chết: Mổ khám để tìm giun trưởng thành, ấu trùng, và
kiểm tra bệnh tích.


10

2.1.9. Biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa lợn


- Piperazin hydrat: 250mg/kgTT. Trộn thuốc vào thức ăn ngon cho lợn
hoặc pha nước uống. nếu lợn trúng độc thì dùng Atropin để giải độc.
- Piperrazin citrat: 150mg/kgTT. Trộn vào thức ăn.
- Mebenvet: 0,2g/kgTT. Trộn vào thức ăn.
- Levanmisol: 6- 6,5 mg/kgTT. Tiêm bắp.
- Những thuốc nam thường dùng để chữa bệnh giun sán là:
+ Hạt cau 5 – 10g tùy theo lợn lớn nhỏ.
+ Sử quân tử (bột) 20g.
+ Vỏ rễ xoan: 20g, cạo sạch vỏ ngoài, thái mỏng ngâm vào nước
trong, để cách đêm, sang hôm sau gạn lấy nước, hòa thêm bột diêm sinh
10g cho lợn uống lúc đói. Cho uống 3 sáng liền. Liều này dùng cho lợn
nặng trên 20kg.
+ Lá đu đủ tươi 200g, thái nhỏ, trộn với 15 – 20 kg cám, ăn vào buổi
sáng, sau khi ăn cho lợn nhịn ăn 1 bữa.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2006), có thể tẩy giun đũa cho lợn bằng
một trong các hóa dược sau:
- Febetel: 20mg/kgTT. Cho uống.
- Mebendazol: 5mg/kgTT. Cho uống.
- Ivermectin: 0,3mg/kgTT. Tiêm bắp.
Theo kinh nghiệm của nhân dân thì nuôi lợn bằng bỗng rượu cũng hạn
chế được sự phát triển của giun đũa.
Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [26] thì có nhiều loại thuốc tẩy giun
sán cho lợn: Piperazine, Levamisol, Mebendazol, Ivermectin, Niclosamid…
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [7], bệnh giun đũa lợn là một
bệnh phổ biến ở nước ta, lợn mắc bệnh chủ yếu 2 – 7 tháng tuổi, sau đó giảm
dần. Ở lợn dưới 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm thấp, bệnh do loài giun đũa Ascaris
suum gây nên, giun ký sinh ở lợn rừng và lợn nhà.

giun đũa lợn tăng dần từ miền núi đến trung du rồi đến đồng bằng. Vùng núi
tỷ lệ nhiễm là 21,44%, trung du 40,1%, đồng bằng là 50,7%.
Theo Đoàn Văn Phúc (2005) [18], người ta đã thí nghiệm 7 con lợn
nuốt trứng giun đũa người, qua 66 ngày theo dõi tác giả cho thấy: Với liều


13

10.000 trứng có ấu trùng, lợn không có triệu chứng dấu hiệu khác thường. Kết
quả mổ khám 2 lợn và xét nghiệm phân của 7 lợn thì không thấy giun đũa và
trứng giun đũa người. Điều này cho thấy lợn không bị nhiễm giun đũa người.
Lê Thị Tài và cs. (2002) [19] đã đưa ra phương pháp điều trị giun đũa
bằng thuốc nam: Vỏ xoan cho vào nước đun sôi, cô đặc thành cao mềm, sau
đó triết cao bằng cồn Etylic, thu hồi cồn được nhựa màu vàng nâu, vị đắng,
mùi hăng, thuốc có tác dụng làm chết giun trong vòng 30 phút.
Trịnh Văn Thịnh và Dương Công Thuận (1987) [23] điều tra bằng cách
xét nghiệm phân lợn ở 10 địa điểm khác nhau trong những điều kiện nuôi
khác nhau trên 2.200 lợn cho biết, tỷ lệ nhiễm giun đũa là 56%, tuổi của lợn
bị nhiễm nặng nhất ở 2 – 6 tháng tuổi, trên một tỷ lệ nhiễm 49,0 – 65,9%
riêng tỷ lệ nhiễm ở tuổi này là 38,3 – 54,9%.
Lương Văn Huấn, Lê Hữu Khương (1997) [3], bệnh giun đũa lợn phân
bố rộng rãi khắp mọi nơi, ở mọi vùng và mọi giống lợn. Lợn chăn nuôi theo
hướng công nghiệp nhiễm thấp hơn so với lợn chăn nuôi gia đình, tỷ lệ nhiễm
giun đũa lợn ở các vùng khác nhau.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Theo Anderdahl (1997) [1] nếu cho lợn nhiễm trứng giun đũa, sau 5
ngày cho nhiễm bệnh suyễn thì bệnh tích gây ra ở phổi rộng gấp 10 lần so với
lợn chỉ nhiễm bệnh suyễn.
E.A.Miaxunikova (1997) [17] đã chứng minh hiệu quả thụt formalin
0,5 với liều 200ml cho lợn nặng 120 – 140 kg. Chữa bằng formalin nên tiến

huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn tại các địa phương.
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo độ tuổi.
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo tính biệt.
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo giống lợn.
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo các tháng trong năm.
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo phương thức chăn nuôi.
- Tình hình nhiễm giun đũa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y.
- Các biểu hiện lâm sàng khi lợn bị nhiễm giun đũa.
3.3.2. Áp dụng biện pháp phòng, trị bệnh giun đũa lợn
- Hiệu lực của 2 loại thuốc Ivermectin và Levamisol (10%).
3.4. Phƣơng pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi
 Động vật nghiên cứu:
- Lợn ở các địa phương (lấy mẫu và thu thập trứng và giun đũa ở lợn)


16

 Dụng cụ, thiết bị, hóa chất:
- Panh, kéo, dao mổ.
- Túi nilong đựng bệnh phẩm.
- Hộp xốp
- Lọ đựng mẫu trứng và giun đũa ở lợn.
- Lọ đựng dung dịch bảo quản.
- Nước muối bão hòa
- Kính hiển vi, cốc thủy tinh, đũa thủy tinh, lưới thép, phiến kính….
 Phương pháp nghiên cứu
 Phương pháp lấy mẫu
Tiến hành điều tra ngẫu nhiên trên các đàn lợn nuôi tại một số xã thuộc
huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên, trực tiếp điều tra lấy mẫu, chẩn đoán lâm

Khuấy cho phân tan kỹ, sau đó lọc qua lưới thép để lọc bỏ cặn thô. Lấy dung
dịch đó cho vào các lọ penicillin, đổ đến khi gần đầy miệng lọ, tránh làm tràn
ra ngoài, rồi đặt phiến kính sạch lên lọ sao cho tiếp xúc với mặt dung dịch, để
khoảng 30 phút thì lấy phiến kính ra soi dưới kính hiển vi quang học để tìm
trứng giun đũa.
 Phương pháp đánh giá cường độ cảm nhiễm.
Để đánh giá cường độ cảm nhiễm giun đũa chúng tôi tiến hành đếm số
trứng trên một vi trường và được quy định như sau.
+ Nếu không có trứng giun đũa trong vi trường là âm tính (-)
+ 1 – 2 trứng: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ nhẹ (+)
+ 3 – 4 trứng: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ trung bình (++)
+5 – 6 trứng: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ nặng (+++)
+

7 trứng: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ rất nặng (+++)

 Phương pháp đánh giá tình trạng vệ sinh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status