Ảnh hưởng của tư tưởng phật giáo đối với lối sống của người huế hiện nay - Pdf 40

Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với lối sống của người Huế hiện nay

“ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI
LỐI SỐNG CỦA NGƯỜI HUẾ HIỆN NAY”
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Tôn giáo là một lĩnh vực phức tạp và tế nhị. Đã từ rất lâu, con người tìm đến
tôn giáo để nương nhờ, gửi gắm tình cảm và đức tin của mình vào các loại hình tôn
giáo khác nhau. Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng không nằm ngoài
vấn đề có tính quy luật đó.
Trong những năm qua, trên phạm vi cả nước, đặc biệt là Thừa Thiên Huế,
các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đang trở nên “nhộn nhịp” và phức tạp hơn.
Trong các loại hình tôn giáo đã và đang tồn tại ở Thừa Thiên Huế thì Phật giáo là
tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc hơn đối với lối sống của người Huế.
Thừa Thiên Huế là một trong ba trung tâm Phật lớn của cả nước trước kia
cũng như hiện nay. Số lượng tín đồ đông đảo và sự tồn tại của nhiều ngôi chùa trên
mảnh đất này đã chứng minh điều đó. Ở Thừa Thiên Huế có khoảng 200.000 tín đồ
(có quy y) Phật giáo, chiếm khoảng 20% dân số toàn tỉnh (nếu tính số người có cảm
tình với Phật giáo - đi chùa, niệm Phật,.. thì tỉ lệ đó có thể lên đến 60%); có 454
ngôi chùa, tịnh xá, tịnh thất; 296 Niệm Phật Đường với 53150 đoàn sinh sinh hoạt
trong 225 Gia Đình Phật Tử.
Một câu hỏi được đặt ra: tại sao Phật giáo ở Huế lại có thể thu hút một số
lượng đông đảo tín đồ như vậy và vì sao những tư tưởng Phật giáo lại ngự trị một
cách sâu đậm trong lòng nhiều người dân Huế? Việc trả lời những câu hỏi đó sẽ
phần nào giúp chúng ta tìm ra được những nét đặc trưng riêng của Phật giáo xứ Huế
- một loại hình tôn giáo đã tồn tại và có những ảnh hưởng lâu dài trên mảnh đất
miền Trung nhỏ bé này.
Nhận ra được tầm quan trọng về sự hiện diện của Phật giáo không chỉ trong
lối sống mà cả trên lĩnh vực chính trị, xã hội, và thực tiễn đa dạng, phức tạp của
hoạt động tôn giáo hiện nay trên địa bàn Thừa Thiên Huế, nên em chọn đề tài “Ảnh
hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo đối với lối sống của người Huế hện nay”
làm luận văn tốt nghiệp của mình.

với “Phật giáo Huế và ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến sự hình thành nhân
cách con người Huế hiện nay”...
Nhìn một cách tổng thể, những nghiên cứu trên đều thống nhất ở một điểm:
Phật giáo đã có những ảnh hưởng nhất định trong đới sống văn hoá tinh thần của
người Việt Nam và Huế; Những triết lý nhà Phật đã dung hoà với văn hoá truyền
thống tạo nên sự phong phú của đời sống văn hoá tinh thần. Tuy nhiên, do tính phức
tạp của vấn đề nên những nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở bứơc ban đầu. Dù sao
những công trình nghiên cứu đó vẫn là những đóng góp to lớn trên con đường tiếp
cận Phật giáo dưới góc độ khoa học và đó là những tài liệu vô cùng quý báu để tác
giả luận văn này học tập và kế thừa.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích của luận văn là: làm rõ ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo
đối với lối sống của người Huế hiện nay, nêu ra một số giải pháp nhằm phát huy

2


Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với lối sống của người Huế hiện nay

những ảnh hưởng tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức Phật giáo trong tiến
trình xây dựng lối sống mới ở Huế hiện nay.
Luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
+ Khái quát quá trình du nhập của Phật giáo vào Việt Nam và Huế, từ đó rút
ra những đặc điểm của Phật giáo ở Huế.
+ Nghiên cứu những tư tưởng triết học chủ yếu của Phật giáo.
+ Phân tích những tư tưởng triết học chủ yếu của Phật giáo đối với lối sống
của người Huế hiện nay.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị văn hoá, hạn chế
những ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo trong tiến trình xây dựng lối sống mới ở
Huế hiện nay.

Chương 1: Phật giáo ở Huế và những tư tưởng chủ yếu của triết học
Phật giáo ảnh hưởng đối với lối sống con người.
1.1.Vị trí điạ lý và tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế.
1.2. Phật giáo ở Huế - quá trình du nhập và những đặc điểm.
1.3. Những tư tưởng chủ yếu của triết học Phật giáo ảnh hưởng đến lối sống
của con người.
Chương 2: Những ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo đối với lối
sống của người Huế.
2.1. Quan niệm về lối sống
2.2. Lối sống của người Huế dưới sự tác động của những tư tưởng triết học
Phật giáo.
2.3. Một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế
những điểm tiêu cực của đạo đức Phật giáo trong xây dựng lối sống mới ở Huế hiện
nay.

NỘI DUNG
Chương 1:
PHẬT GIÁO Ở HUẾ VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG CHỦ YẾU
CỦA TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO
ĐỐI VỚI LỐI SỐNG CON NGƯỜI NÓI CHUNG.
1.1. Vị trí địa lý và tình hình kinh tế xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế.
Thừa Thiên Huế nằm ở Bắc trung Bộ, với tỉnh lỵ là thành phố Huế và 8
huyện trực thuộc gồm: Quảng Điền, Phong Điền, Hương Trà, Hương Thuỷ, Phú
Vang, Phú Lộc, Nam Đông, A Lưới. Toàn tỉnh nằm trãi dài từ 16 đến 16.45 độ vĩ
Bắc, rộng từ 10.3 đến 108.8 độ kinh đông; Phía bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía nam
giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam qua ranh giới đèo Hải Vân; Phía tây
giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với ranh giới là dãy Trường Sơn; Phía
đông giáp biển Đông [8; 53].
Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 5.053,9 km 2, trãi dài trên một dãi đất hẹp,
chiều rộng trung bình 60 km, chiều dài 127 km theo hướng Tây Bắc- Đông Nam,

thế và lực mới góp phần tác động sản xuất, phát triển và hội nhập; các vùng, địa bàn
trọng điểm, đặc biệt là khu vực nông thôn đã tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng phục vụ sản xuất và đời sống, từng bước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu; công
tác xoá đói giảm nghèo được ưu tiên hàng đầu, không còn hộ đói, tỷ lệ hộ nghèo
còn 7%; GDP bình quân đầu người đạt 580 USD, tăng 54% so với năm 2000 [11;
23-32].
Thừa Thiên Huế, con người Huế, văn hoá Huế là nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn
trai trẻ, một người con vĩ đại của dân tộc - Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trường Quốc
Học - Huế, ngôi nhà ở Dương nổ và 112 Mai Thúc Loan là những di tích mang dấu

5


Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với lối sống của người Huế hiện nay

ấn về Người. Nhờ vậy, lòng yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc càng trở thành nét
đẹp trong truyền thống xứ Huế.
Huế đã đứng lên trong các phong trào chống thuế, phong trào Duy Tân,
phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh, hoạt động
của các tổ chức tiền thân của Đảng và các tổ chức cộng sản ở Huế, đặc biệt trong sự
ra đời của Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tại Huế.
Hình ảnh Thái Phiên, Trần Cao Vân hiên ngang ra pháp trường; hình ảnh
đồng chí Trần Phú trong cuộc bãi khoá trường Quốc Học; hay trong phong trào đấu
tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ chống phát xít tại Huế gắn liền với những tên tuổi
nổi tiếng như Lê Duẩn, Nguyễn Chí Diễu, Phan Đăng Lưu; cuộc bút chiến giữa phái
duy vật và phái duy tâm với những đại biểu xuất sắc như: Lâm Mộng Quang, Hải
Thành, Hải Triều có tác động đến nhận thức tư tưởng trong cuộc đời giải phóng của
mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là sinh viên, học sinh và giới văn nghệ sỹ.
Hình ảnh các tầng lớp nhân dân Huế với băng cờ, gươm giáo, gậy gộc xuống
đường trong cuộc vận động giải phóng dân tộc và cách mạng tháng 8/1945 càng

Với tất cả những giá trị nổi bật ấy, ngày nay di sản văn hoá Huế kiêu hãnh
đứng sánh vai cùng bạn bè khắp năm châu, bốn biển trong danh mục di sản văn hoá
thế giới. Nhã nhạc cung đình Huế cũng được UNESCO công nhận là “Di sản phi
vật thể và truyền khẩu cho nhân loại”. Không chỉ vậy, Huế còn lưu giữ một phong
thái ung dung thuỳ mị, diụ dàng, đoan trang; sự hoà quyện gắn kết đất trời thiên
nhiên và con người; sự tổng hợp chung sống hoà bình giữa đạo và đời, giữa cổ xưa
và hiện đại. Vì thế, Thừa Thiên Huế vinh dự được chọn để xây dựng thành phố
Festival đặc trưng của Việt Nam [8; 5].
Nhìn lại chặng đường 20 năm đổi mới, những thành tựu mà Thừa Thiên Huế
đã đạt được là rất quan trọng, có tính toàn diện, lịch sử trên các lĩnh vực. Nổi bật là
nền kinh tế đã chuyển biến mạnh sản xuất hàng hoá nhiều thành phần; văn hoá xã
hội phát triển toàn diện; đời sống nhân dân được cải thiện rõ, niềm tin của nhân dân
được củng cố, ngày càng phấn khởi, tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Đảng; quốc
phòng an ninh được tăng cường, giữ vững, hệ thống chính trị được trưởng thành,
lớn mạnh. Thế và lực của tỉnh mạnh gấp nhiều lần so với trước, đã và đang mở ra
những tiền đề vững chắc để tiếp tục thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới theo
hướng CNH–HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế.
Thành tựu đạt được của nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm qua
là kết quả của quá trình đổi mới và sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết Đại
hội IX của Đảng vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương. Những kết quả đó là bước
khởi đầu tốt đẹp có ý nghĩa rất quan trọng, là tiền đề để đẩy mạnh quá trình CNH –
HĐH, xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế “phát triển nhanh và bền vững về kinh tế, đẹp
về văn hoá, vững về chính trị, mạnh về an ninh quốc phòng[10; 9].
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được: nền kinh tế Thừa Thiên
Huế đã phát triển nhưng quy mô còn nhỏ, thiếu bền vững, bảo tồn gắn với phát triển
chưa sâu, một số mặt thiếu đồng bộ. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các
nhiệm vụ cấp bách về văn hoá xã hội còn một số tồn tại, khuyết điểm, hạn chế; nhận

7


tâm hồn trí tuệ.
Sau khi giác ngộ được chân lý, tìm thấy được căn nguyên sinh thành biến
hoá của sự vật, tìm ra được cội nguồn của nỗi khổ và phương pháp diệt trừ nỗi khổ
cho sinh linh, Ngài thực hiện sự nghiệp giải thoát chúng sinh của mình trong 45
năm nữa rồi viên tịch. Từ đó, người đời gọi Ngài là Phật Thích Ca Mâu Ni.
Suốt 45 năm, Thích Ca Mâu Ni vừa đem triết lý giải thoát của mình tuyên
truyền, phổ biến trong dân gian, vừa củng cố, bổ sung nâng dần lên thành một triết
8


Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với lối sống của người Huế hiện nay

lý vững chắc. Trong 45 năm thuyết pháp của Người, thực chất đó là cuộc đấu tranh
không khoan nhượng với giáo thuyết của Bà La Môn giáo, một tôn giáo đã ngự trị
và tha hoá xã hội Ấn Độ hàng ngàn năm.
Sinh thời, Phật Thích Ca không viết sách, người chỉ luận bàn với học trò
bằng phương pháp thuyết giảng. Với trên 82 ngàn cuộc thuyết pháp, Phật Thích Ca
đã căn cứ vào căn cơ mà vận dụng những phương pháp thuyết giảng cao thấp, dễ
khó khác nhau, thậm chí có những đối tượng Phật Thích Ca chỉ lấy những ví dụ và
hướng dẫn thực hành, không nêu lý luận. Vì vậy, sau khi Phật Thích Ca viên tịch
(thọ 80 tuổi), các đệ tử của Ngài đã tiến hành 4 lần đại hội kết tập kinh điển để xây
dựng thành một học thuyết tôn giáo tiện cho việc truyền giáo. Sau 4 lần kết tập,
kinh điển Phật giáo - toàn bộ giáo lý của Phật Thích Ca - được biên tập ghi chép
thành “Tam Tạng kinh”: Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng.
- Kinh tạng, ghi chép lời dạy của Phật (những thuyết pháp của một số đại đệ
tử Phật cũng được ghi lại trong Kinh tạng).
- Luật tạng, ghi chép những “Giới luật” do Phật Thích Ca chế ra (những quy
định của Phật Thích Ca trong hành đạo)
- Luận tạng, là những luận giải của Phật về Tạng kinh và Tạng luật. Đồng
thời còn phần nhiều là những luận giải của các đệ tử cao tăng của Phật.

sinh tử luân hồi, chỉ lo tự giác mà thôi. Đại thừa thì ngoài những vấn đề trên còn lo
phổ độ chúng sinh, làm cho chúng sinh cũng giác ngộ như mình, tức là: “Tự độ Độ tha; Tự giác - Giác tha”.
Tiểu thừa nhận thức đời sống là vô thường, có Sinh – Lão - Bệnh - Tử. Đời
sống là khổ não, nên mong cầu sự giải thoát ra khỏi luân hồi, sinh tử; đạt tới cảnh
giới “Niết bàn”. Tiểu thừa tách rời sinh tử với Niết bàn, cho đó là hai cảnh giới khác
nhau.
Đại thừa cũng nhận thức đời sống là vô thường, có Sinh – Lão – Bệnh - Tử;
nhưng phiền não không trụ nơi “sinh tử”, giải thoát không trụ nơi “Niết bàn”. Đại
thừa quan niệm “phiền não tức Bồ Đề”, sinh - tử và Niết bàn là một, chính trong
sinh tử mà tu dưỡng chứng đựơc Niết bàn.
Tiểu thừa chủ trương chấp vào văn tự, vào từng câu chữ trong kinh điển. Đại
thừa không cố chấp vào văn tự, chữ nghĩa mà hiểu kinh sách một cách rộng rãi, chú
trọng vào tinh thần hơn vào lời văn trong kinh điển.
Tuy công năng của Tiểu thừa và Đại thừa ít nhiều khác nhau; Tam Tạng của
Tiểu thừa và Đại thừa cũng thể hiện ít nhiều khác nhau, nhưng cả 2 phái trên đều
tôn trọng những tư tưởng cơ bản của Phật Thích Ca, nhất là những tư tưởng về thế
giới quan và nhân sinh quan. Với những tư tưởng triết lý nhân ái giàu tình người,
đạo Phật đã nhanh chóng vượt biên giới Ấn Độ lan rộng và truyền bá vào các quốc
gia, dân tộc klhác nhau.
Mục tiêu giải quyết vấn đề thì nhất quán, nhưng để chuyển tải được cho mọi
đối tượng, thành phần khác nhau nghe hiểu để thực hành, Phật Thích Ca và Phật
giáo đã có nhiều phương pháp khác nhau, nên cũng dần hình thành nhiều hệ phái,
tông phái có tính chất biệt truyền. Ngày nay, Phật giáo có tới 200 hệ phái.

10


Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với lối sống của người Huế hiện nay

Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin đã từng chỉ ra rằng: Sự du nhập của một

thoát. Vào Việt Nam, Mật tông không còn tồn tại độc lập như một tông phái riêng
mà nhanh chóng hoà vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu
đồng, dùng pháp thuật, yểm bùa trị tà ma và chữa bệnh...
11


Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với lối sống của người Huế hiện nay

Cả 3 tông phái trên, mặc dù có những điểm khác biệt nhau, nhưng nhìn
chung, chúng đều dựa trên những giáo lý cơ bản của nhà Phật, giữa chúng có sự ảnh
hưởng đến nhau và đều mang tinh thần hoà mình vào đời sống thường nhật.
Thời Lý - Trần, Phật giáo Việt Nam phát triển đến cực thịnh.
Đời Lê, nhà nước lấy Nho giáo làm chủ đạo tinh thần, Phật giáo dần suy
giảm. Đến thế kỷ XVIII, vua Quang Trung có quan tâm chấn hưng đạo Phật, xuống
chiếu chỉnh đốn việc cất chùa, chọn các tăng nhân có học thức và đạo đức cho coi chùa,
song vì vua mất sớm nên việc này ít thu được kết quả.
Đầu thế kỷ XX, đứng trước những biến động do sự giao lưu với phương Tây
mang lại, phong trào chấn hưng Phật giáo được dấy lên, khởi đầu từ các đô thị miền
Nam. Những năm 30, các trung tâm Phật học ở Nam Kì, Trung Kì và Bắc Kì lần
lượt ra đời với những cơ quan ngôn luận riêng. Cho đến nay, Phật giáo vẫn là tôn
giáo có số lượng tín đồng đông nhất ở Việt Nam. Đạo Phật thân thiết với người Việt
Nam đến nỗi nếu một người nào đó không theo một tôn giáo nào thì chí ít là có tình
cảm với đạo Phật. Trong sự phát triển của Phật giáo Việt Nam thì Hà Nội, Huế, Sài
Gòn được xem là 3 trung tâm Phật giáo lớn của cả nước.
Về lịch sử Phật giáo ở Huế, theo tác giả Thích Hải Ấn và Hà Xuân Liêm:
“Từ buổi đầu cõi Tiên Bình, Thuận Hoá có Phật giáo, có chùa chiền, có Phật giáo
dân gian, có chùa làng nhưng chưa thấy chùa Tổ có truyền thừa theo một dòng kệ
nào”[12; 14]. Hai tác giả cũng nhận xét rằng, trong số nhiều dòng Phật giáo truyền
vào Việt Nam thì đã có 2 thiền phái truyền vào Huế rất sớm, khoảng thế kỷ VIII đến
thế kỷ XIV.

đã là người bảo hộ cho những người dân đó khi đến với vùng đất mới.
* Phật giáo Thuận Hoá từ thời Hồ Quý Ly đến thời Lê (1400–1558):
Từ triều Trần về sau cho đến Lê Thánh Tông (1467–1497) đất Thuận Hoá
vào Nam còn được kể là vùng biên địa, dân ít, người thưa; triều đình Thăng Long ít
để ý đến cuộc sống dân dã.
Phật giáo là đạo thực hiện, là đạo giáo đi thẳng vào lòng người, để cứu vớt
chúng sinh ra khỏi nẻo khổ, nên luôn được nhiều người nghe theo và hỗ trợ. Vào
cuối đời nhà Trần năm 1374, Nho thần Lê Quát muốn “tịch tà hưng chánh” theo
nghĩa nhà Nho của ông, mà rốt cục vẫn không làm được. Ông nói: “Thuyết hoạ
phúc của nhà Phật tác động tới con người, sao mà được người ta tin theo sâu sắc và
bền vững như thế? Trên từ vương cung, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc
nhà Phật, thì dẫu đến hết tiền cũng không sẻn tiếc. Nếu ngày nay gửi gắm vào tháp
chùa thì mừng rỡ như nắm được khoán ước để lấy quả báo ngày sau. Cho nên trong
kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho tới thôn cùng ngõ hẻm không mệnh lệnh mà
người ta vẫn theo, không thề thốt mà người ta vẫn tin. Chỗ nào có người ở, tất có
chùa Phật, bỏ rồi lại xây, hỏng rồi lại sửa, chuông trống lâu đài chiếm đến nửa phần
so với dân cư. Phật giáo rất dễ hưng thịnh mà được rất mực tôn sùng”[12; 69-70].
Vào năm 1448, Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi: “Vua xuống chiếu cho quan
văn võ phải trai giới đến chùa Báo Ân ở cung Cảnh Linh làm lễ cầu mưa. Vua đích
thân tới vái xin”[12; 69-70].

13


Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với lối sống của người Huế hiện nay

Chùa Thiên Mụ đã được xây dựng vào thời kỳ này, ghi nhận đầu tiên về sinh
hoạt Phật giáo tại vùng Thuận Hoá.
Qua những dữ liệu trên có thể nhận định rằng, Phật giáo Thuận Hoá ở thời
kỳ này đã phát triển và thịnh vượng.

14


Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với lối sống của người Huế hiện nay

Đến thế kỷ thứ XVIII, ở Huế xuất hiện phái Liễu Quán. Người sáng lập ra
phái này là thiền sư Liễu Quán người Việt Nam. Quan điểm truyền đạo của Liễu
Quán là phải kiên trì, lâm vô ứng biến và phải hoà ly nước với sữa, phù hợp với mọi
hoàn cảnh. Liễu Quán đã chắt lọc những tinh hoa của hai dòng thiền Lâm Tế - Tào
Động dung hợp với tâm lý và truyền thống của dân tộc Việt Nam.
* Phật giáo ở Huế dưới thời Tây Sơn(1788–1802):
Vua Quang Trung chủ trương mỗi phủ, huyện chỉ để một chùa lớn, tuyển
chọn tăng, ni, người hiếu đạo, chân chính trông coi chùa và truyền đạo, còn ai núp
bóng cửa thiền, sống ký sinh thì vua bắt hoàn tục. Giai đoạn này, khó có thể nói là
Phật giáo phát triển vì triều Tây Sơn quá ngắn.
* Phật giáo ở Huế dưới triều đại nhà Nguyễn (1802-1945):
Khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Gia Long, dù đề cao Nho
giáo thành địa vị độc tôn, ông cũng tạo điều kiện cho Phật giáo ở Huế chấn hưng:
Sửa sang chùa chiền (dù là một ngôi nhà tre nhỏ, lợp tranh), tập hợp giáo đoàn tăng
sĩ (dù mỗi chùa chỉ có vài ba người), lo chỉnh đốn cách thờ tự cho trang nghiêm để
tín đồ có chỗ làm lễ và nghe giảng Pháp, tụng Kinh. Đây thực chất là chính sách thu
phục lòng dân của vua Gia Long.
Vua Minh Mạng, vua Thiệu Trị cũng đề cao Nho giáo lên địa vị độc tôn
trong đời sống tinh thần dân tộc, đồng thời sử dụng Phật giáo như chiến lược thu
phục nhân tâm. Nhờ thế mà Phật giáo có nhiều điều kiện phát triển.
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng đã tạo điều kiện cho
Thiên Chúa giáo phát triển, Phật giáo và các tôn giáo khác bị chèn ép. Trong tình
hình ấy, Phật giáo bị suy yếu, mãi đến những năm 20 của thế kỷ XX mới chấn
hưng, thức tỉnh phật tín đồ vì Phật pháp và chống kẻ xâm lược và tay sai cứu dân,
cứu nước.

thực hiện nhu cầu tín ngưỡng của mình. Quan hệ giữa chính quyền nhà nước, nhân
dân và tín đồ Phật giáo ngày càng trỏ nên thân thiết. Hầu hết các tín đồ đều nhận
thức được trách nhiệm và nhiệm vụ của mình trong trong tiến trình xây dựng và bảo
vệ Tổ Quốc với đường hướng “Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Ngày 23/11/1990 đã diễn ra Đại hội Phật giáo tỉnh lần thứ nhất. Đại hội đã
bầu ra Ban Trị Sự Phật giáo tỉnh do hoà thượng Thích Mật Hiển làm trưởng ban.
Phật giáo ở Huế từ ngày du nhập cho đến nay, là một quá trình gắn bó chặt
chẽ cùng lịch sử dân tộc. Phật giáo ở Huế là nơi tụ điểm và phát sinh của một dòng
thiền rất mạnh: Thiền Liễu Quán, để một mặt tiếp nối sự hoằng hoá giáo pháp của
đức Phật, một mặt làm cho đạo mạch Phật giáo Việt Nam lưu trường. Đồng thời,
Huế cũng là điểm hội tụ thống nhất của Phật giáo ba miền Bắc – Trung - Nam.
Từ sự phát triển của Phật giáo ở Huế từ ngày du nhập cho đến nay, có
thể tìm ra một số đặc điểm tiêu biểu, những nét riêng của Phật giáo ở Huế như
sau:
Thứ nhất, Huế là một trong nhưng trung tâm Phật giáo của cả nước, là “cái
nôi” của giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ở Thừa Thiên Huế có khoảng 200.000 ngàn
tín đồ (có quy y) Phật giáo, chiếm khoảng 20% dân số toàn tỉnh (nếu tính số người
có cảm tình với Phật giáo – đi chùa, niệm Phật,.. thì tỉ lệ đó có thể lên đến 60%).
16


Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với lối sống của người Huế hiện nay

Trong đó, riêng thành phố Huế có 130.000 tín đồ, chiếm khoảng 31% dân số thành
phố (toàn quốc có khoảng 10 triệu tín đồ, chiếm tỉ lệ 14% dân số). Toàn tỉnh có
khoảng hơn 400 tăng ni, 454 ngôi chùa, tịnh xá, tịnh thất; 296 Niệm Phật Đường
với 53.150 đoàn sinh sinh hoạt trong 225 GĐPT; một trụ sở văn phòng Ban Trị Sự;
Một trường cao cấp Phật học, nay là học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố
Huế...
Đã có một thời, Huế được xem là thủ đô của Phật giáo Việt Nam. Trong Phật


Bảng điều tra sau đây về công trình nghiên cứu khoa học của Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1997-1999) sẽ cho ta thấy được tỷ lệ so sánh về
số lượng chùa của 3 trung tâm Phật giáo Hà Nội, Huế và Sài Gòn.
Thành phố

Số lượng So với số dân
chùa
phố 100
1/2700

Số lượng tăng So với số dân
ni
487
1/570

Thành
Huế
TP Hồ Chí 940
1/4500
1379
1/1379
Minh
TP Hà Nội
404
1/5930
367
1/6500
Những con số trên đã chứng minh cho mức độ dày đặc về sự tồn tại của các
ngôi chùa ở Huế. Có thể nói rằng, tại Huế, không có con đường nào, không có xóm

mặt tư tưởng thì Thiền Tông đóng vai trò quan trọng, còn cách thức tu hành thì Tịnh
Độ Tông là chủ yếu. Vì vậy, ở Huế ngày nay các tu sĩ một mặt rất chú trọng đến
trình độ uyên thâm kinh sách, nhưng mặt khác cũng coi giáo lý như đò đưa khách
sang sông, không chấp giáo lý, văn tự để chống nhau mà điều quan trọng nhất là
sống tốt đời đẹp đạo.
Đặc điểm thứ tư, Phật giáo ở Huế mang đậm sắc thái yêu thiên nhiên, quê
hương và đất nước.
Tình yêu quê hương, đất nước của Phật giáo ở Huế được thể hiện ngay từ
buổi đầu mới du nhập, nhưng tiêu biểu nhất là giai đoạn chống Pháp và chống Mỹ
cứu nước. Giảm sát sinh là lời khuyên của đạo Phật đối với mọi tín đồ và cả đối với
dân chúng. Nhưng tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, giáo lý được tín đồ thực hiện một cách
linh động và hợp lý. Khuynh hướng nhập thế, đặt sự tồn tại của Phật giáo trong lòng
sự tồn tại của dân tộc được Phật tin đồ thể hiện rất rõ trong hai cuộc kháng chiến.
Họ sẵn sàng đổ máu, sẵn sàng tự thiêu, sẵn sàng đấu tranh vì đạo pháp,vì độc lập
dân tộc. Cái chết tự thiêu lẫm liệt của các đại đức: Nguyên Hương, Thanh Tuệ, Tiêu
Diêu,.. và phong trào đấu tranh của đồng bào Phật tử sát cánh cùng nhân dân Huế
trong những lúc gian khó, nguy hiểm nhất của dân tộc đã chứng minh cho tình yêu
quê hương, yêu đất nước của tín đồ Phật giáo Thừa Thiên Huế.
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới của đất nước, nhìn chung Phật giáo ở
Huế vẫn giữ vững truyền thống yêu nước, gắn bó với dân tộc, tham gia sinh hoạt
trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam theo tinh thần “Đạo pháp- dân tộc – xã hội chủ
nghĩa”.
Không chỉ thể hiện tình yêu với quê hương, đất nước, Phật giáo ở Huế luôn
thể hiện một tình yêu đối với thiên nhiên. Nơi mà các ngôi chùa Huế toạ lạc thường
là những điểm cao và thanh tịnh, với cách xây dựng theo luật “phong thuỷ”. Vì vậy,
đến chùa Huế, người ta không chỉ để lễ Phật, nghe thuyết pháp,.. mà còn đến để vãn
cảnh, để tìm sự thư thái cho tâm hồn mình. Nhìn vào khuôn viên các ngôi chùa ở
Huế, ta thấy đó như là một bức tranh toàn cảnh của núi non, sông nước, cây cối,
hoa lá, chim muông... Tất cả điều đó được thực hiện với sự công phu tỉ mỉ của con
người và với tấm lòng rất đỗi yêu thiên nhiên của người Huế.

sức mạnh thiên nhiên vậy; Lúc đầu cũng không thể hiểu được và cũng không thể chi
phối người ta với một cái vẻ thiết yếu bề ngoài thật hệt như những sức mạnh tự
nhiên vậy. Những nhân vật ảo tưởng lúc đầu chỉ phản ánh những sức mạnh huyền
bí của thiên nhiên thì nay lại vì lý do nói trên mà có thể có cả những thuộc tính xã
hội và trở thành những nhân vật đại biểu cho sức mạnh lịch sử”[4; 537-538].
Những luận điểm nổi tiếng trên đây của Mác, Ănghen đã nói lên đầy đủ, trọn
vẹn nguồn gốc, bản chất, chức năng ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống xã hội
của con người từ thế giới quan đến nhân sinh quan đến lối sống, phong tục tập quán
trong đời sống cộng đồng dân cư. Phật giáo một dòng đạo lớn của nhân loại cũng có
những ảnh hưởng như thế.

20


Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với lối sống của người Huế hiện nay

Sở dĩ đạo Phật có được sức sống mãnh liệt, lâu dài với lịch sử là vì mục đích
tối thượng của nó là cứu nạn cứu khổ, đem lại sự an lạc, hạnh phúc cho con người.
Giáo lý của đạo Phật chủ yếu tập trung vào cuộc sống hiện thực mà ít bàn đến
những hiện tượng tự nhiên, điều đó hoàn toàn phù hợp với quần chúng, khi mà trình
độ nhận thức của họ còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy, đạo Phật thực sự trở thành
chỗ dựa tinh thần cho một bộ phận đông đảo quần chúng trong xã hội. Dần dần, nó
càng bám sâu vào lối sống, cách suy nghĩ, đời sống tâm linh của con người.
Vậy, những tư tưởng, những triết lý nào của Phật giáo đã có những tác động
đến lối sống của con người? Quả thật, để trả lời cho vấn đề này là không giản đơn.
Dựa vào kiến thức còn hạn chế, tác giả luận văn chỉ xin đề cập một số nội
dung chủ yếu trong thế giới quan và nhân sinh quan của triết học Phật giáo có ảnh
hưởng đến lối sống con người.
* Thế giới quan Phật giáo:
Trong khi Ấn Độ giáo và nhiều tôn giáo khác cho rằng vũ trụ có tạo vật chủ,

sống. Phật dạy: “Hãy đến với ta và thực hành Pháp như ta vậy. Sau đó chắc chắn
các vị sẽ hiểu được các giá trị của Pháp”.
Trong vũ trụ, vạn sự, vạn vật mà Phật giáo gọi là vạn Pháp. Vạn Pháp không
có tự tính (không có bản tính riêng của mình) mà chỉ là sự hoà hợp của nhân duyên.
Trong thuyết nhân duyên giải thích căn nguyên biến hoá vô thường của vạn Pháp,
có 3 khái niệm chủ yếu: Nhân, quả và duyên. Tất cả các sự vật, hiện tượng trong vũ
trụ đều không thoát ra được sự chi phối của luật nhân quả. “Nhân” là nguyên nhân
đầu tiên, là mầm tạo “quả”. Nhân nhờ duyên (điều kiện) để sinh ra quả. Quả nhờ
duyên để thành ra nhân khác, nhân nhờ duyên thành ra quả mới... Chuỗi các mối
liên hệ Nhân- duyên- quả như vậy gọi là tính “trùng trùng duyên khởi”, “Pháp giới
tính”. Phật giáo cho rằng, nhân duyên hoà hợp thì sự vật sinh, nhân duyên tan rã là
sự vật diệt.
Với quan niệm này nên đạo Phật cho rằng: không phải sự vật hiện tượng sinh
ra mới gọi là sinh, mất đi mới gọi là diệt, mà trong cái sinh đã có mầm móng của cái
diệt, và trong cái diệt đã có mầm móng của cái sinh. Sinh diệt là hai quá trình xảy ra
đồng thời trong một sự vật, hiện tượng cũng như trong toàn thể vũ trụ rộng lớn. Vạn
vật trong thế giới là một hệ thống nhân duyên cứ sinh sinh diệt diệt mãi tiếp nối
nhau đến vô cùng vô tận. Vì thế, thế giới vạn vật là vô thuỷ, vô chung, là dòng biến
hoá vô thường không có gì là cố định duy nhất.
Vạn Pháp vô thường. Vô thường tức là thường xuyên biến đổi.
Không có Pháp nào là tồn tại vĩnh cữu mà tất cả tuân theo luật sinh, trụ, dị,
diệt (thành, trụ, hoại, không). Con người và sự vật trong đời này luôn thay đổi, biến
dịch từng giờ, từng phút, từng sát na. Sự thay đổi này phải tuân theo những quy luật
nhất định. Những quy luật này tồn tại khách quan. Mọi Pháp đều bị luật vô thường
chi phối. Tất cả Pháp hữu vi là vô thường.
Mọi Pháp là vô thường nhưng không có vật gì là hoại diệt. Chỉ có hình thái
thay đổi, không có gì tiêu tan, mất hẳn. Trạng thái chất cứng biến thành chất lỏng,
trạng thái chất lỏng biến thành chất hơi,.. tất cả biến đổi, nhưng không bao giờ mất
đi hoàn toàn.
22

phạm trù của Phật giáo. Xét về phương diện bản thể luận đã thể hiện quan điểm tính
“Duy vật” và “biện chứng”, nó đối lập với định mệnh luận và thần linh luận. Đó là
những tư tưởng cốt lỏi trong việc giải quyết mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết
học. Những tử tưởng trên đóng vai trò quyết định đối với việc hình thành quan điểm
về con người và quan điểm về nhân sinh của tôn giáo này.
* Nhân sinh quan Phật giáo.
Những quan điểm về bản thể luận ở trên chỉ mang tính chất là cơ sở giải
thích cho triết lý nhân sinh và con đường giải thoát của đạo Phật. Quan trọng hơn cả
23


Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đối với lối sống của người Huế hiện nay

và có ảnh hưởng lớn hơn cả đến việc hình thành lối sống của con người vẫn là
những quan niệm được thể hiện trong nhân sinh quan.
Học thuyết về nhân sinh quan của Phật giáo gắn bó chặt chẽ và là hệ quả trực
tiếp của quan niệm muôn vật sinh ra, tồn tại rồi mất đi theo quy luật sinh - diệt và
sự tiếp thu tư tưởng luân hồi nghiệp báo của Upanishad. Điều đó được thể hiện ở
chỗ, Phật giáo quan niệm: cũng như các sự vật, con người mất đi ở chỗ này nhưng
lại sinh thành ở chỗ khác. Quá trình sinh thác luân hồi đó đều do “Nghiệp” chi phối
theo luật nhân duyên. Mục đích cuối cùng của Phật là tìm ra con đường giải thoát,
đưa chúng sinh ra khỏi vòng luân hồi bất tận đó.
Với thuyết “luân hồi”, “nghiệp báo”, Phật cho rằng: con người trong quá
trình tồn tại do duyên hợp, ngủ uẩn đã làm những việc thiện, ác, tạo ra “nghiệp”.
Theo luật nhân quả, những việc làm thiện, ác hay “nghiệp” sẽ là động lực, là nhân
tố để tạo ra sự kết hợp ngủ uẩn tiếp theo... Cứ như vậy kéo con người vào vòng luân
hồi sinh tử không ngừng từ đời này sang đời khác.
Với thuyết “luân hồi”, “nghiệp báo” của đạo Phật thì bất kỳ một hành vi
thiện, ác nào của con người dù là nhỏ bé, dù được bưng bít che đậy như thế nào
cũng không tránh khỏi quả báo.

khứ mà còn hưóng con người đến một thế giới mới với những hành vi tốt đẹp ở trên
đời.
Tuy nhiên, nội dung cơ bản của giáo lý đạo Phật khi lý giải về cuộc đời con
người là học thuyết về “khổ” và con đường “cứu khổ”. Phật giáo cho rằng: đời
người là “bể khổ”, bốn phương đều là bể khổ, nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước
biển và vị mặn của máu và nước mắt chúng sinh mặn hơn nước biển.
Từ quan niệm như vậy nên mục đích cuối cùng và cũng là tư tưởng chủ đạo
có tính xuyên suốt toàn bộ học thuyết nhân sinh Phật giáo là tư tưởng “giải thoát”
chúng sinh khỏi trầm luân đau khổ. Để đạt được sự giải thoát, Phật giáo nêu ra bốn
chân lý mà mọi người phải thực hiện. Đó là “Tứ diệu đế”. Đây là quan điểm cốt lỏi
nhất về nhân sinh và cũng là những định hướng cơ bản nhất của tưởng triết học Phật
giáo. Tứ diệu đế bao gồm: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế.
* Một là, khổ đế (Dukkha).
Dukkha là: “chân lý màu nhiệm về đau khổ” và nó được lý giải thành ra cuộc
đời, theo Phật, chỉ là đau khổ và khổ não.
Khái niệm Dukkha có thể xem xét từ 3 quan điểm:
1. Dukkha như là sự đau khổ thông thường.
2. Dukkha như là sự đau khổ do sự thay đổi gây nên.
3. Dukkha như là trạng thái bị quy định.
Mọi thứ đau khổ như sinh lão, bệnh, tử liên kết với người khó chịu hay lệ
thuộc vào những điều kiện khó chịu, chia ly với những người yêu thương hay mất
đi những điều kiện thích thú, không đạt được cái mình muốn, đau khổ than khóc,
tuyệt vọng. Tất cả những hình thức đau khổ tương tự về thể chất và tinh thần được
mọi người nhìn nhận là sự đau khổ, điều nằm trong Dukkha theo nghĩa sự đau khổ
thông thường.

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status