VẤN ĐỀ 1:
Kiểu Nhà nước Chủ nô
Về cơ sở kinh tế: Hình thức sở hữu trong kiểu nhà nước chủ nô là tư
hữu. Tư hữu ở đây chính là sự tư hữu của chủ nô đối với tư liệu sản
xuất và đối với người nô lệ.
Về cơ sở xã hội : Trong xã hội chiếm hữu nô lệ tồn tại nhiều giai cấp như
chủ nô, nông dân, nô lệ và ngoài ra còn có tầng lớp thợ thủ công. Trong
đó hai giai cấp đối kháng chính là chủ nô và nô lệ. Chủ nô là giai cấp
thống trị xã hội còn nô lệ là giai cấp bị trị.
Về cơ sở tư tưởng : Cơ sở tư tưởng của nhà nước trong thời kỳ này là
đa thần giáo. Giai cấp thống trị đã sử dụng tôn giáo làm sức mạnh tinh
thần và trấn áp giai cấp bị trị.
Kiểu Nhà nước Phong kiến
Về cơ sở kinh tế: Cơ sở kinh tế của kiểu nhà nước phong kiến vẫn là
chế độ tư hữu nhưng đối tượng sở hữu của địa chủ phong kiến là đất
đai. Tính chất bóc lột giờ đây đã có sự thay đổi, tức là từ bóc lột kinh tế
trực tiếp của chủ nô với nô lệ chuyển sang bóc lột của quý tộc phong
kiến với nông dân thông qua địa tô phong kiến..
Về cơ sở xã hội : Thành phần giai cấp được mở rộng, ngoài hai giai cấp
chính là địa chủ và nông dân còn có các tầng lớp thị dân, thương gia…
Mâu thuẫn giai cấp chủ yếu diễn ra giữa chủ nô và nô lệ.
Về cơ sở tư tưởng : Trong thời gian này với việc hình thành các tôn giáo
lớn và chúng trở thành cơ sở tư tư tưởng cho các nhà nước phong kiến.
Kiểu Nhà nước Tư sản
Về cơ sở kinh tế : Cơ sở kinh tế trong kiểu Nhà nước tư sản vẫn là tư
hữu nhưng sự tư hữu ở đây khác với tư hữu phong kiến. Đối tượng tư
hữu không chỉ là đất đai mà là tư bản vốn (tiền). Chính sự thay đổi đối
tượng này dẫn đến sự thay đối về phương thức bóc lột - bóc lột thông
qua giá trị thặng dư.
Về cơ sở xã hội : Trong Nhà nước tư sản, kết cấu dân cư phức tạp vì
tồn tại nhiều giai cấp. Trong thời kỳ đầu của Nhà nước tư sản, xã hội tồn
xã hội hoặc một nhóm người nào. Quyền lực nhà nước phải hoàn toàn
thuộc về nhân dân lao động bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông
dân, tầng lớp trí thức và những người lao động khác mà nòng cốt là liên
minh công nhân- nông dân- trí thức. Nông dân là người chủ sở hữu duy
nhất toàn bộ tài sản vật chất và tinh thần của nhà nước, có quyền quản
lý toàn bộ công việc của nhà nước và xã hội, giải quyết tất cả công việc
có liên quan đến vận mệnh đất nước, đến đời sống chính trị, kinh tế, văn
hóa, tư tưởng của toàn thể dân tộc.
Bản chất nhà nước CHXHCN Việt Nam được thể hiện rõ thông qua đặc
điểm của nó.
Đặc điểm của nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước.
Nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước thực
hiện quyền lực nhà nước dưới nhiều hình thức khác nhau. Hình thức
cơ bản nhất là thông qua bầu cử, lập ra các cơ quan đại diện quyền lực
của mình. Ngoài ra, nhân dân còn thực hiện quyền lực của mình dưới
hình thức trực tiếp tham gia vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã
hội, tham gia thảo luận Hiến pháp và pháp luật, trực tiếp thể hiện ý chí
của mình khi có trưng cầu dân ý. Nhân dân trực tiếp bầu ra các đại biểu
của mình vào các cơ quan quyền lực nhà nước Trung ương và địa
phương và có quyền bãi nhiệm các đại biểu đó khi họ tỏ ra không xứng
đáng, không làm tròn trách nhiệm. Các đại biểu Quốc hội và Hội đồng
nhân dân phải báo cáo công việc của mình trước cử tri.
Nhà nước CHXHCN VN là nhà nước của tất cả các dân tộc trên lãnh thổ
Việt Nam, là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết các dân tộc anh
em.
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng dân tộc, đoàn kết tương trợ
giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị chia rẽ dân tộc, thực
nhau một cách lành mạnh.
Nền kinh tế thị trường trong các điều kiện của CNXH không thể không
làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, đòi hỏi sự quan tâm giải quyết của
nhà nước và toàn xã hội.
Nhà nước CHXHCN VN một mặt tạo mọi điều kiện thuận lợi về mặt
chính trị, pháp lý, kinh tế để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế, mặt khác
quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh trong điều kiện kinh tế thị
trường chính trên lĩnh vực này bản chất nhân đạo của nhà nước được
thể hiện rõ nét nhất.
Sức mạnh bạo lực của nhà nước XHCN không nhằm bảo vệ sự thống
trị chính trị của một cá nhân nào, một nhóm người nào mà nhằm bảo vệ
quyền lực của nhân dân, bảo vệ chế độ chính trị, chế độ kinh tế đã được
quy định trong Hiến pháp 1992.
Chính sách đối ngoại của nhà nước CHXHCN VN thể hiện tính cởi mở,
hòa bình, hợp tác hữu nghị với tất cả các quốc gia, không phân biệt chế
độ chính trị.
Điều 14 Hiến pháp 1992 khẳng định "Nước CHXHCN VN thực hiện
chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả
các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác
nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của
nhau, bình đẳng, các bên cùng có lợi, tăng cường đoàn kết hữu nghị và
quan hệ hợp tác với các nước XHCN và các nước láng giềng, tích cực
ủng hộ và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
-
CHỨC NĂNG CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY:
nâng cao dân trí, pt nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Nhà nước coi
trọng chất lượng và hiệu quả, mở rộng quy mô, đa dạng hóa các loại
hình đào tạo phù hợp với nhu cầu xã hội.
+ Về khoa học, công nghệ: thực hiện chính sách pt khoa học và công
nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp pt ktxh, chủ trương xd nền khoa học tiên tiến , pt đồng bộ các ngành khoa
học và có những chính sách phù hợp để pt và quản lý cả khoa học xã
hội và khoa học tự nhiên và công nghệ. Gắn nghiên cứu khoa học với
thực tiễn, đầu tư cơ sở vật chất, khuyến khích đầu tư, tạo lập thị trường
cho các hoạt động khoa học công nghệ…
+ Về bảo vệ môi trường: Nhà nước Vn quan tâm đến việc xd chính sách
bv môi trường; thực hiện quản lý sử dụng hiệu quả, bền vững các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học,
phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, nhà
nước còn xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường,
làm suy kiệt tài nguyên và suy giảm đa dạng nh học, yêu cầu chủ thể có
trách nghiệm bồi thường, khắc phục thiệt hại.
+ Về các vấn đề xã hội khác: Nhà nước luôn quan tâm đến việc quản lý
sự nghiệp bao vệ sức khỏe của nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn
dân, chính sách ưu tiên chăm sóc cho đồng bào dân tộc thiểu số, miền
núi, hải đảo, thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Ngoài ra nhà nước còn
khuyến khích, tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho
người lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động tạo điều
kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa, ổn định.
Đối với chức năng bảo vệ trật tự pháp luật, bảo về quyền, lợi ích
con người, công dân: Hoạt động bảo về trật tự pháp luật trên các lĩnh
vực khác nhau luôn được nhà nước VN quan tâm, nhà nước k chỉ ban
hành hệ thống pháp luật mà còn sử dụng để đảm bảo cho nó được thực
hiện nghiêm minh. Các quyền con người, quyền công dân trên các lĩnh
+ Cơ cấu tổ chức: đơn giản, gồm rất ít cơ quan.
+ Sự phân định chức năng: Ban đầu, chủ nô là người lãnh đạo quân đội
vừa là người đại diện chính quyền thực hiện quản lý xã hội, vừa là quan
tòa,… Sau này, cùng với sự pt của xã hội đòi hỏi bộ máy nhà nước chủ
nô pt, phức tạp và hoàn thiện hơn.
Bộ máy Nhà nước phong kiến: so với nhà nước chủ nô, bộ máy nhà
nước phong kiến có sự kế thừa và hoàn thiện dần.
+ Nguyên tắc tổ chức và hoạt động: khá tùy tiện và rất đa dạng, tùy
thuộc vào ý chí chủ quan của vua ở mỗi thời nhất định.
+ Cơ cấu tổ chức: ở trung ương có triều đình đứng đầu là vua – người
thâu tóm toàn bộ quyền lực nhà nước trên tất cả các lĩnh vực lập pháp,
hành pháp, tư pháp.
+ Sự phân định chức năng: Các cơ quan lại trên triều đình do vua bổ
nhiệm, cắt cử, các cơ quan nhà nước đều phải báo cáo và chịu trách
nhiệm trước vua.
Bộ máy Nhà nước tư sản: bộ máy nhà nước tư sản phổ biến được tổ
chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước.
+ Cách thức thành lập: sau khi lập đổ chế độ phong kiến, gc tư sản kế
thừa bộ máy nhà nước cũ, hoàn thiện , pt nó ở trình độ khá cao phù hợp
với xã hội tư sản.
+ Cơ cấu tổ chức: có bộ máy khá hoàn thiện và phức tạp…
+ Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động: khá khoa học, dân chủ.
Nguyên tắc hiến định, đề cao hiến pháp. Bộ máy nhà nước phải được tổ
chức và hoạt động đung Hiến pháp đã quy định.
Nguyên tắc đề cao nghị viện. Nghị viện là cơ quan dân cử được xem là
cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước, đóng vai trò chính trong
hoạt động của nhà nước.
Nguyên tắc phân chia quyền lực. quyền lực nhà nước được chia thành
Quốc hội.
Công bố và chủ trì đại biểu Quốc hội, Điều hành và phối hợp hoạt động
của các Hội đồng và ủy ban. Hướng dẫn và tạo điều kiện đại biểu Quốc
Hội hoạt động.
Thay mặt Quốc hội trong hoạt động đối ngoại. Giám sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động cơ quan nhà nước. Ban hành pháp luật, Nghị
quyết trong phạm vi vấn đề được giao. Thay mặt Quốc hội, thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn Quốc hội trong thời gian giữa 2 kỳ họp.
Hội đồng dân tộc: Do Quốc hội thành lập, chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước Quốc hội, UBTVQH.
Cơ cấu: Chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên.
Nhiệm vụ, quyền hạn: Nghiên cứu, kiến nghị với Quốc hội những vấn đề
dân tộc. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc và chinh
sách phát triển kinh tế- xã hội ở miền núi và vùng có đồng bào dân tộc
thiểu số.
Các Uỷ ban (7 ủy ban).
Do Quốc hội thành lập, chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội.
Nhiệm vụ, quyền hạn: Thẩm tra dự án luật, báo cáo được Quốc hội,
UBTVQH giao. Trình dự án luật, pháp lệnh. Thực hiện quyền giám sát
trong phạm vi luật định. Kiến nghị những vấn đề thuộc thẩm quyền của
UB.
Chủ tịch nước.
Chủ tịch nước là nguyên thủ Quốc gia, được bầu ra trong số đại biểu
Quốc hội theo giới thiệu của UBTVQH, chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước Quốc hội.
Nhiệm vụ, quyền hạn: Nhóm quyền hạn liên quan đến hoạt động đối nội,
đối ngoại. Nhóm quyền hạn liên quan đến sự phối hợp các thiết chế nhà
nước trong việc thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp. Bổ
nhiệm thẩm phán, đề nghị Quốc hội bầu Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tham gia thành lập
Hình thức nhà nước gồm 2 yếu tố: Hình thức chính thể và hình thức cấu
trúc.
Hình thức chính thể nhà nước CHXHCN VN:
Hình thức chính thể là hình thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao,
cơ cấu, trình tự thành lập và mối liên hệ của chúng với nhau cũng như
mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này.
Chính thể nhà nước CHXHCN VN, thông qua nguyên tắc bầu cử bình
đẳng, phổ thông, trực tiếp và bỏ phiếu kín nhân dân đã bỏ phiếu bầu ra
cơ quan đại diện của mình (Quốc hội, HĐND các cấp).
Quyền lực nhà nước tối cao thuộc về Quốc hội. Quốc hội được bầu theo
nhiệm kỳ 5 năm, có quyền lập pháp, quyền giám sát tối cao đối với hoạt
động của các cơ quan nhà nước, quyết định những vấn đề quan trọng
của đất nước.Chính thể cộng hòa dân chủ của nhà nước CHXHCN VN
có nhiều đặc điểm riêng khác với cộng hòa dân chủ tư sản.
Chính thể CHXHCN VN qua Hiến pháp khẳng định việc tổ chức quyền
lực nhà nước phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Đảng cộng sản Việt Nam trong hệ thống chính trị có vai trò lãnh đạo nhà
nước và xã hội. Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, định
hướng cho sự phát triển của nhà nước trên tất cả các lĩnh vực trong
từng thời kỳ. Đảng vạch ra phương hướng và nguyên tắc nhằm xây
dựng nhà nước Việt Nam thực sự của dân, do dân, vì dân. Đảng phát
hiện bồi dưỡng đảng viên ưu tú và người ngoài đảng, giới thiệu giữ
chức vụ quan trọng trong cơ quan nhà nước thông qua bầu cử, bổ
nhiệm. Đảng kiểm tra tổ chức của đảng trong tổ chức và thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết Đảng. Đảng kiểm tra cơ
quan nhà nước phát hiện sai lầm, hạn chế từ đó có biện pháp khắc
phục, tổng kết, rút kinh nghiệm để không ngừng bổ sung đường lối của
mình.
chức xã hội có vai trò quan trọng.
Mặt trận tổ quốc đóng vai trò quan trọng trong thiết lập cơ quan nhà
nước, quản lý nhà nước, xây dựng pháp luật. Trong phạm vi quyền hạn
của mình có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ
chức theo quy định của pháp luật, có quyền đề nghị bãi miễn đại biểu
không xứng đáng và tham gia vào tổ chức thực hiện quyền bãi miễn đó.
Các tổ chức xã hội là phương tiện để nhân dân tham gia quản lý nhà
nước, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội tạo ra sức mạnh tổng
hợp để xây dựng cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc, nhà nước của dân ,
do dân và vì dân.
Hình thức cấu trúc nhà nước:
Nhà nước CHXHCN VN là nhà nước đơn nhất, có độc lập, chủ quyền,
có một hệ thống pháp luật thống nhất, có hiệu lực trên phạm vi toàn
quốc.
Nhà nước Việt Nam có lãnh thổ thống nhất, không phân chia thành các
tiểu bang hoặc cộng hòa tự trị mà chia thành các đơn vị hành chính trực
thuộc. Tương ứng mỗi đơn vị hành chính là cơ quan hành chính nhà
nước. Các đơn vị hành chính không có chủ quyền quốc gia và đặc điểm
như nhà nước.
Nhà nước Việt Nam là tổ chức duy nhất trong hệ thống chính trị có chủ
quyền quốc gia, là chủ thể quan hệ quốc tế toàn quyền đối nội, đối
ngoại, quyết định mọi vấn đề của đất nước.
Một hệ thống pháp luật thống nhất với một Hiến pháp, hiệu lực Hiến
pháp và pháp luật trải rộng trên phạm vi toàn quốc. Các cơ quan nhà
nước trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình có quyền ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật trên cơ sở cụ thể hóa Hiến pháp,
pháp luật, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật.
Nhà nước Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc trên lãnh
Pháp luật XHCN tuy mang tính cưỡng chế nhưng tính cưỡng chế
đó đã chứa đựng những nội dung mới, khác với các kiểu pháp luật
bóc lột.
- Trong pháp luật XHCN cũng có những quy định bắt buộc, cấm đoán,
dự liệu những biện pháp cưỡng chế song do nội dung của pháp luật
XHCN phù hợp với lợi ích, nhu cầu của đại đa số nhân dân nên nhìn
chung nó được thực hiện một cách tự giác.
- Về căn bản cưỡng chế được đặt ra đối với người vi phạm pháp luật và
nó được tiến hành trong sự kết hợp chặt chẽ với giáo dục, thuyết phục,
trên cơ sở giáo dục thuyết phục.
Pháp luật XHCN có phạm vi điều chỉnh rộng. Không những nó quy
định những vấn đề như tổ chức quyền lực nhà nước, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân... mà còn điều chỉnh cả lĩnh vực trực
tiếp tổ chức, quản lý lao động như: định mức lao động, thống kê,
kiểm tra...
Pháp luật XHCN liên hệ mật thiết với các quy phạm xã hội khác,
đặc biệt là các quy tắc đạo đức, tập quán và các quy phạm của các
tổ chức xã hội.
- Các tư tưởng và các quy tắc đạo đức tiến bộ luôn là cơ sở cho pháp
luật XHCN . Đến lượt mình, pháp luật lại củng cố và truyền bá các giá trị
đạo đức đó. Giữa pháp luật XHCN và các tư tưởng, quy tắc đạo đức có
điều gì mâu thuẫn thì điều đó phải được giải quyết trên cơ sở đạo đức.
- Pháp luật XHCN bảo vệ những tập quán truyền thống tiến bộ. Mặt
khác, nó cũng ngăn cản, hạn chế và loại trừ những tập tục lạc hậu ( như
tảo hôn, đa thê...)
- Pháp luật có quan hệ mật thiết với các quy phạm của các tổ chức xã
hội nhất là Nghị quyết, điều lệ của Đảng cộng sản. Đường lối chính sách
của Đảng là một trong những cơ sở của pháp luật. Mặt khác, pháp luật
trong nông nghiệp ở một số địa phương trước đây. Nói chung, việc áp
dụng thẳng đường lối, chính sách của Đảng vào các lĩnh vực của xã hội
là một hạn chế cần khắc phục, vì về mặt nguyên tắc, đường lối, chính
sách của Đảng chỉ có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện
nghiêm chỉnh đối với các đảng viên và các tổ chức đảng. Và dĩ nhiên,
đường lối, chính sách đó chỉ có thể có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và
thực hiện đối với toàn xã hội khi nó được Nhà nước thể chế hoá thành
pháp luật.
Nhu cầu quản lý kinh tế – xã hội của đất nước
Đây cũng là một trong những nguồn nội dung quan trọng của pháp luật,
một trong những cơ sở để xây dựng, ban hành pháp luật. Để tổ chức,
quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, Nhà nước phải ban hành các quy định pháp luật cụ thể nhằm xây
dựng đồng bộ các loại thị trường (thị trường lao động, thị trường hàng
hoá, thị trường bất động sản, thị trường tài chính…); cụ thể hoá các
chính sách tài chính, thuế, tiền tệ, giá cả, đầu tư, thu nhập…; sắp xếp,
cơ cấu lại các ngành kinh tế, điều chỉnh các quan hệ kinh tế theo chiều
hướng mà Nhà nước mong muốn, chiều hướng vừa thúc đẩy sự tăng
trưởng, vừa bảo đảm sự cân đối và ổn định của nền kinh tế – xã hội.
Các tư tưởng, học thuyết pháp lý
Các tư tưởng, học thuyết pháp lý cũng có thể trở thành nguồn nội dung
của pháp luật. Chẳng hạn, theo Điều 2 của Hiến pháp hiện hành của
nước ta thì, “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
hại, có trường hợp chỉ yêu cầu bồi thường những thiệt hại trực tiếp;
song, có trường hợp lại phải yêu cầu bồi thường cả những thiệt hại trực
tiếp lẫn những thiệt hại gián tiếp.
Văn bản quy phạm pháp luật
Đây là loại nguồn hình thức chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất của
pháp luật, bởi lẽ, các cơ quan nhà nước ở Việt Nam khi giải quyết các
vụ việc pháp lý thực tế thuộc thẩm quyền của mình đều chủ yếu dựa
vào các VBQPPL. VBQPPL là văn bản do các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc
xử sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
VBQPPL ở nước ta bao gồm nhiều loại với giá trị pháp lý cao, thấp khác
nhau. Đứng đầu thang bậc giá trị pháp lý trong hệ thống VBQPPL là
Hiến pháp, đạo luật gốc, luật cơ bản của Nhà nước. Tiếp đó là các đạo
luật và các nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội,…
VBQPPL được hình thành do kết quả của hoạt động xây dựng pháp
luật, thể hiện trí tuệ của tập thể nên tính khoa học tương đối cao. Các
quy định của nó được trình bày thành văn nên thường rõ ràng, cụ thể,
bảo đảm có thể được hiểu và được thực hiện thống nhất ở phạm vi
rộng; nhờ vậy, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc đáp ứng các yêu cầu
cơ bản của nguyên tắc pháp chế. Hơn nữa, VBQPPL cũng có thể đáp
ứng được kịp thời các yêu của cuộc sống nên nó được coi là loại nguồn
hình thức cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất của pháp luật nước ta
hiện nay. Tuy nhiên, VBQPPL không phải là loại nguồn hình thức duy
nhất của pháp luật bởi VBQPPL vẫn có những điểm hạn chế nhất định
cần được khắc phục như: các quy định của nó thường mang tính khái
quát cao nên nhiều khi không dự kiến được hết các tình huống, điều
đối xử với phụ nữ (CEDAW) đã dẫn đến việc ban hành Luật Bình đẳng
giới trong đó có nhiều nội dung là sự cụ thể hóa các quy định của Công
ước này. Nhiều quy định của các điều ước quốc tế khác đã được
chuyển hóa thành các quy định trong các đạo luật của Việt Nam, nhất là
khi chúng ta đã gia nhập WTO.
Điều ước quốc tế trở thành nguồn hình thức của pháp luật trong trường
hợp nó được áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần vào việc giải
quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế. Việc áp dụng này đã được thừa
nhận trong Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm
2005 của nước ta.
Nói chung, trong lĩnh vực luật quốc tế thì điều ước quốc tế là nguồn cơ
bản, chủ yếu và quan trọng nhất. Còn đối với pháp luật quốc gia, vai trò
của điều ước quốc tế ngày càng quan trọng và có vị thế ngày càng cao
hơn, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Điều đó được thể hiện
rõ trong các quy định được nêu trong nhiều VBQPPL hiện hành của
nước ta là: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam
ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của văn bản này thì
tuân theo các quy định của điều ước quốc tế đó”.
Phong tục tập quán
Có nhiều quan niệm khác nhau về phong tục tập quán, song dưới góc
độ coi nó là một dạng quy phạm xã hội thì có thể hiểu phong tục tập
quán là những cách ứng xử hay những thói quen ứng xử hoặc những
quy tắc xử sự chung được hình thành một cách tự phát trong một cộng
đồng dân cư nhất định, được bảo đảm thực hiện bằng thói quen, bằng
sức thuyết phục của chúng, bằng dư luận xã hội và có thể bằng cả một
số biện pháp cưỡng chế phi nhà nước.
Theo Từ điển Black’s Law thì tập quán (custom) là “thực tế mà bằng sự
thừa nhận chung và lâu dài đối với nó, thói quen không thay đổi đã trở
Ngoài ra, trong một số lĩnh vực, các quy tắc và quan niệm đạo đức
chính thống, các truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng có thể trở thành
nguồn nội dung của pháp luật. Các quy định về quyền, nghĩa vụ của cha
mẹ và con cái, của ông bà và các cháu, của vợ và chồng, của các thành
viên khác trong gia đình với nhau trong pháp luật hôn nhân và gia đình
là sự thể chế hóa các quan niệm đạo đức truyền thống, là sự thừa nhận
các quy tắc đạo đức thịnh hành trong xã hội;…
Ngược lại, có những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu, phản tiến bộ
khiến Nhà nước ban hành VBQPPL nhằm xóa bỏ, loại trừ dần chúng
khỏi đời sống xã hội. Ví dụ, sự tồn tại của phong tục đốt pháo gây lãng
phí tiền bạc, tai nạn thương tâm dẫn đến việc Nhà nước ban hành quy
định cấm sản xuất và đốt pháo để loại trừ phong tục này.
Phong tục tập quán là nguồn hình thức của pháp luật trong những
trường hợp nó được áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc xảy ra
trong thực tế. Việc thừa nhận phong tục tập quán là nguồn hình thức
của pháp luật đã được thể hiện cụ thể trong một số đạo luật của nước
ta. Ví dụ, Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp
pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp
dụng tập quán;… Tập quán… không được trái với những nguyên tắc
quy định trong Bộ luật này”; hoặc theo Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 thì, “trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục,
tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những
nguyên tắc quy định tại Luật này thì được tôn trọng và phát huy”.
Trong loại nguồn này còn bao gồm cả các tập quán quốc tế đã được
thừa nhận và áp dụng tại Việt Nam như các tập quán thương mại quốc
tế.
Nói chung, phong tục tập quán chỉ được coi là nguồn thứ yếu của pháp
luật Việt Nam bởi các quy định của nó chủ yếu tồn tại dưới dạng bất
nhau thì nguyên tắc chi phối vụ việc đầu tiên có thể áp dụng được cho
các sự kiện khác nhau chút ít.
Một án lệ là một quyết định của toà án chứa đựng trong nó một nguyên
tắc. Nguyên lý cơ bản giống như mẫu mà phần có căn cứ đích xác của
nó thường được gọi là nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một
trường hợp cụ thể. Một quyết định cụ thể là bắt buộc đối với các bên,
nhưng nó là bản tóm tắt của nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết
trong một trường hợp cụ thể mà chỉ có nó có hiệu lực pháp luật.
Cũng có thể nói một cách khái quát là, một vụ việc trở thành án lệ vì quy
định chung như vậy là cần thiết đối với quyết định thực tế có thể được
đưa ra là sự biến dạng trong những trường hợp phụ.
Thường cũng có thể chấp nhận, tôn trọng một án lệ không phải bởi nó
bao quát một logic ổn định mà bởi từ các phần của nó có thể nảy sinh ra
ý tưởng về mẫu mới của quyết định”[6].
Từ điển này còn giải thích: án lệ bắt buộc là án lệ mà toà án bắt buộc
phải tuân theo, ví dụ, toà án cấp thấp hơn bị giới hạn bởi một cách áp
dụng của một toà án cấp cao hơn trong một vụ xét xử tương tự. Án lệ
để giải thích là án lệ chỉ có thể được áp dụng cho một quy định pháp
luật hiện đã có rồi. Án lệ gốc là án lệ tạo ra và áp dụng một quy định mới
của pháp luật. Án lệ có sức thuyết phục là một án lệ mà toà án có thể
hoặc là tuân theo hoặc là từ chối, nhưng điều khoản của nó phải được
tôn trọng và cân nhắc cẩn thận.
Từ quan niệm trên, có thể hiểu án lệ là quyết định hoặc lập luận, nguyên
tắc hoặc sự giải thích pháp luật do toà án đưa ra khi giải quyết một vụ
việc cụ thể được nhà nước thừa nhận làm mẫu hoặc làm cơ sở để toà
án dựa vào đó đưa ra quyết định hoặc lập luận để giải quyết vụ việc
khác xảy ra về sau có nội dung hoặc tình tiết tương tự. Án lệ được coi là
nguồn của pháp luật cũng bao gồm nhiều loại như: án lệ bắt buộc, án lệ
chức. Theo đó, những cán bộ, công chức thuộc loại này nếu vi phạm kỷ
luật của các tổ chức đó thì khi xử lý họ, quy định của các tổ chức đó
cũng sẽ được viện dẫn và áp dụng.
Đối với các quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp thì vấn đề cần làm
sáng tỏ cả về mặt lý luận và thực tiễn là quy tắc của các hiệp hội nghề
nghiệp nào có thể được thừa nhận là một trong các loại nguồn của pháp
luật? Đó là những quy tắc điều chỉnh những quan hệ xã hội nào, về
những vấn đề gì? Nói chung, đây là vấn đề khá mới mẻ, cần phải được
cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định thừa nhận nó là một trong các
loại nguồn của pháp luật nước ta.