Vấn đề 1. Nguồn gốc, kiểu nhà nước
1. Khái niệm nhà nước (định nghĩa, đặc trưng của nhà nước); phân biệt nhà nước với tổ chức
xã hội khác.
2. Nguồn gốc nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin
3. Kiểu nhà nước theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin: định nghĩa kiểu nhà nước, căn cứ
phân chia kiểu nhà nước, sự thay thế kiểu nhà nước; các kiểu nhà nước trong lịch sử.
---------------------------------------------------------------1. Khái niệm Nhà nước
1.1. Định nghĩa: NN là tổ chức quyền lực công cộng đặc biệt, tập hợp và quản lí dân cư
theo lãnh thổ, nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia, ban hành PL và thực hiện việc
quản lí XH bằng PL, phục vụ lợi ích các giai tầng, lợi ích cả XH, vì sự tồn tại và phát triển
của đất nước.
1.2. Đặc điểm:
NN, sản phẩm của sự phát triển XH, một hình thức tổ chức của con người trong XH
có giai cấp, từ định nghĩa về NN nói trên cho thấy NN có các đặc điểm sau:
- NN là tổ chức quyền lực công của quốc gia bởi vì quyền lực của nó tồn tại một cách
công khai, mọi tổ chức và cá nhân trong phạm vi lãnh thổ đều biết, và đều phải phục tùng.
Quyền lực của NNN cũng là quyền lực công cộng, chung cho cả cộng đồng vì quyền lực đó
thường được tạo nên và được thực hiện bởi một cộng đồng người nhất định, thường đại diện
và bảo vệ lợi ích của một giai cấp, một liên minh giai cấp, một cộng đồng dân cư trong một
địa phương hoặc toàn quốc gia, dân tộc.
Quyền lực NN được thực hiện bởi các cơ quan, tổ chức NN từ trung ương tới địa
phương, cơ sở, trong đó có các cơ quan bạo lực trấn áp như quân đội, cảnh sát, tòa án, viện
công tố,… Các cơ quan, tổ chức đó bao gồm một lớp người tựa hồ như tách khỏi XH để
chuyên thực thi quyền lực NN, chuyên làm nhiệm vụ quản lí, cưỡng chế hoặc cung cấp dịch
vụ công cho XH. Nhờ vậy, NN có thể tổ chức, quản lí, điều hành XH, có thể thiết lập, củng
cố và giữ gìn trật tự XH.
- NN tổ chức và quản lí dân cư sống trong lãnh thổ của nó theo địa bàn cư trú của
họ hay theo các đơn vị hành chính-lãnh thổ mà không tập hợp và quản lí dân cư theo mục
đích, chính khiến, nghề nghiệp, độ tuổi hoặc giới tính… như các tổ chức khác. Do đó, NN là
tổ chức có cơ sở XH và phạm vi tác động rộng lớn nhất trong quốc gia.
- Nhà nước nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia.
+ Tổ chức XH khác: Là các tổ chức tự nguyện của những người có cùng mục đích, chính
kiến, lí tưởng nghề nghiệp, độ tuổi, giới tính… được thành lập và hoạt động nhằm đại diện
và bảo vệ lợi ích cho các hội viên. (VD:…)
2.2. Phân biệt:
Nhà nước
NN là tổ chức công của quốc gia vì quyền lực NN tồn tại
công khai, mọi tổ chức và cá nhân trong phạm vi lãnh thổ
quốc gia đều biết, đều phải phục tùng. Quyền lực của nó
cũng là quyền lực công cộng vì nó được tạo nên và được
thực hiện bởi một cộng đồng người nhất định, đại diện và
bảo vệ lợi ích của một giai cấp, một cộng đồng dân cư hoặc
toàn quốc gia dân tộc. Quyền lực NN được thực hiện bởi
các cơ quan, tổ chức NN, chúng làm nhiệm vụ quản lí,
cưỡng chế hoặc cung cấp dịch vụ công cho XH. Nhờ vậy
NN có thể tổ chức, quản lí, điều hành XH, có thể thiết lập,
củng cố và giữ gìn trật tự XH.
NN tổ chức và quản lí dân cư sống trong lãnh thổ của nó
theo địa bàn cư trú của họ hay theo các đơn vị hành chínhlãnh thổ mà không tập hợp và quản lí dân cư theo mục đích,
chính khiến, nghề nghiệp, độ tuổi hoặc giới tính… như các
tổ chức khác. Do đó, NN là tổ chức có cơ sở XH và phạm
vi tác động rộng lớn nhất trong quốc gia.
NN đại diện chính thức cho toàn XH thực hiện chủ quyền
quốc gia. Chủ quyền quốc gia gồm quyền quyết định tối
cao trong quan hệ đối nội, quyền độc lập tự quyết của quốc
2
Tổ chức XH khác
Các tổ chức này cũng có
quyền lực và đó cũng là
quyền lực công cộng nhưng
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục, tổ chức thực
hiện, động viên, khen thưởng, áp dụng các biện pháp cưỡng
chế NN. PL được triển khai và lực lượng một cách rộng rãi
trong toàn XH, trở thành một trong những phương tiện
quản lí có hiệu quả của NN.
NN có quyền phát hành tiền, công trái, có quyền quy định
và thực hiện việc thu các loại thuế theo số lượng và thời
hạn được ấn định trước, đồng thời, NN là chủ sở hữu lớn
nhất trong XH nên nó có lực lượng vật chất to lớn, không
chỉ có thể trang trải cho các hoạt động của nó và những
hoạt động cơ bản của XH mà còn có thể hỗ trợ một phần
kinh phí hoạt động cho một số tổ chức khác.
cho phép hoặc công nhận cho
nên chỉ có thể nhân danh
chính tổ chức đó khi tham gia
vào các quan hệ đối nội và
đối ngoại.
Các tổ chức này có quyền ban
hành ra các quy định dưới
dạng điều lệ, chỉ thị, nghị
quyết có giá trị bắt buộc phải
tôn trọng và thực hiện đối với
các hội viên trong tổ chức;
các quy định đó được bảo
đảm thực hiện bằng sự tự giác
của các hội viên và bằng các
hình thức kỉ luật của tổ chức.
Các tổ chức này hoạt động
+ Có sự tích tụ của cải và tập trung quyền lực vào tay một nhóm người, một lực
lượng XH.
4. Định nghĩa kiểu nhà nước
Định nghĩa: Kiểu NN là một dạng thức hay một loại nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển
trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và chịu sự lãnh đạo (chi phối) của một lực
lượng xã hội (giai cấp) nào đó.
5. Căn cứ phân chia kiểu nhà nước
5.1. Dựa vào học thuyết về hình thái kinh tế – xã hội của Mác (quan điểm phổ biến).
- Căn cứ để xác định (phân chia) kiểu NN là hình thái kinh tế – xã hội mà NN đã ra đời, tồn
tại, phát triển và tính chất giai cấp của NN.
- Theo hai căn cứ này thì có thể chia NN thành các NN thuộc kiểu cơ bản và các NN thuộc
kiểu không cơ bản.
Các NN thuộc kiểu cơ bản là các NN ra đời, tồn tại và phát triển trong một hình thái kinh
tế - XH nhất định và tính chất giai cấp đã thể hiện rõ, như: NN CHNL, phong kiến, TBCN
và XHCN.
Các NN thuộc kiểu không cơ bản là các NN mà tính chất giai cấp của nó chưa thể hiện rõ.
Đó là NN ở giai đoạn quá độ từ hình thái kinh tế - XH này sang hình thái kinh tế - XH khác
và ở thời kỳ mà các giai cấp đang đấu tranh với nhau đã đạt tới một thế cân bằng lực lượng
hoặc các lực lượng XH khác nhau có thể tạm thời hoà hoãn với nhau vì một mục đích chung
nào đó khiến cho chính quyền NN tạm thời có sự độc lập nhất định đối với các giai cấp, các
lực lượng XH, tựa hồ như một bên trung gian đứng giữa các giai cấp, lực lượng đó.
Ví dụ: Chế độ quân chủ chuyên chế ở thế kỷ XVII và XVIII, chế độ Bô-na-pac của Đế chế
thứ nhất và thứ hai ở Pháp, chế độ Bi-xmac ở Đức, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
từ năm 1945-1959, Nhà nước Căm- pu- chia hiện tại…, là như thế.
- Sự thay thế kiểu NN này bằng kiểu NN khác tiến bộ hơn là một quy luật tất yếu, phù
hợp với quy luật thay thế các hình thái kinh tế - XH. Con đường đưa đến sự thay thế ấy
thông thường là cách mạng hoặc biến động XH để lật đổ quyền thống trị của lực lượng cầm
quyền cũ và thiết lập chính quyền của lực lượng cầm
quyên mới.
6. Sự thay thế kiểu nhà nước?
+ Về tư tưởng: để bảo vệ và củng cố quyền thống trị của mình, lực lượng cầm quyền còn
phải thực hiện sự thống trị về tư tưởng. Thông qua NN, lực lượng cầm quyền có thể nắm,
quản lí và sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ sở văn hóa, giáo dục, dùng
các cơ sở và phương tiện ấy tác động đến đời sống tinh thần của toàn XH, làm cho hệ tư
tưởng của mình giữ vị trí thống trị trong XH và nhằm tạo ra sự phục tùng tự giác của các
giai cấp khác đối với quyền thống trị của mình. Do đó NN trở thành công cụ xác lập và bảo
vệ hệ tư tưởng thống trị trong XH.
Tóm lại, dưới góc độ tính giai cấp, NN là công cụ, là bộ máy đặc biệt nằm trong tay lực
lượng cầm quyền để bảo vệ lợi ích kinh tế, để thực hiện sự thống trị về chính trị và thực
hiện sự tác động về tư tưởng của lực lượng này đối với toàn XH.
3. Tính XH của NN
NN không chỉ có tính GC mà còn có tính XH. Tính XH của NN thể hiện ở chỗ, nó là bộ
máy để tổ chức, điều hành và quản lí XH nhằm thiết lập, củng cố và giữ gìn trật tự và sự ổn
định của XH, để bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng, vì sự phát triển chung của XH
Với tư cách là một tổ chức quyền lực công, là đại diện chính thức cho toàn quốc gia dân tộc
trong tất cả các mối quan hệ đối nội và đối ngoại, NN phải giải quyết nhiều vấn đề nảy sinh
trong XH vì lợi ích chung và sự phát triển của toàn XH.
Trong một chừng mực nhất định, NN phải đóng vai trò trọng tài nhằm dung hòa lợi ích giữa
các giai cấp, tầng lớp, lực lượng XH, nhằm bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng. Tuy do
các lực lượng XH tổ chức ra song khi tồn tại như một lực lượng chính trị mới, NN lại có
tính độc lập tương đối với các lực lượng XH đã giao phó trách nhiệm cho nó, nó tựa hồ như
đứng trên các giai câp, các lực lượng XH để điều hành và quản lí XH.
NN có nhiều hoạt động vì lợi ích của cả cộng đồng như: xây dựng và phát triển giáo dục, y
tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi XH: đường xá, cầu cống, trường học,
bệnh viện,…: tổ chức, điều hành và quản lí các dịch vụ công…
NN ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách kinh tế để điều tiết nền kinh tế, đầu tư và
khuyến khích phát triển khoa học, kĩ thuật, công nghệ, tạo lập sự ổn định và thúc đẩy sự
tăng trưởng của nền kinh tế, tạo tiền đề thiết yếu cho sự ổn định và phát triển XH. NN ban
hành và tổ chức thực hiện các chính sách XH để tạo ra và bảo vệ công bằng XH.
NN là bộ máy cưỡng chế để bảo vệ công lí, công bằng XH, bảo vệ trật tự chung trong các
nghĩa đế quốc (có thể tính từ năm 1871 đến những năm 1950).
- Ở giai đoạn này, mâu thuẫn trong lòng mỗi nước TB giữa G/C TS độc quyền với các tầng
lớp khác, đặc biệt là với những người lao động, mâu thuẫn trên trường quốc tế giữa các nước
đế quốc thực dân với các nước đi theo con đường XHCN, với phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc và phong trào công nhân quốc tế lên tới mức cực kỳ gay gắt => về mặt chính trị - XH
thì đây là giai đoạn mà NN TBCN thể hiện đầy đủ bản chất xấu xa, tàn bạo, ăn bám và thối
nát của nó.
- Ở trong nước, NN TS đàn áp dã man các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và những
người lao động khác, bóp nghẹt, chà đạp hoặc hạn chế đến mức tối đa các quyền tự do dân
chủ của công dân. Nhiều đạo luật vi hiến được ban hành trong thời gian này, nhiều tổ chức
tiến bộ bị cấm tồn tại hoặc hoạt động.
- Trong quan hệ quốc tế, các NNTB đã gây ra hai cuộc chiến tranh thế giới để mở rộng thuộc
địa, tìm kiếm thị trường mới, thực hiện chính sách xâm lược, đô hộ trực tiếp và bóc lột không
thương tiếc các nước thuộc địa.
- Trong lĩnh vực kinh tế, gánh nặng của các cuộc tổng khủng hoảng kinh tế trút lên vai những
người lao động nên họ đã phản kháng mãnh liệt chống lại nhà nước tư bản, đặt nhà nước tư
sản trước nguy cơ bị diệt vong.
- Để thoát khỏi nguy cơ bị tiêu diệt, các NNTB đã điều chỉnh các chính sách của chúng theo
chiều hướng tự đổi mới, tự hoàn thiện mình để thích nghi với điều kiện mới, để kéo dài sự tồn
tại của chúng => Từ sau những năm 1950, các NNTB đã có những thay đổi trong chính sách
của chúng, đưa NN TB bước sang giai đoạn phát triển thứ ba của nó.
•
Giai đoạn của chủ nghĩa tư bản hiện đại (có thể tính từ những năm 1950 mà rõ nhất là
từ những năm 1970 trở đi).
Ở giai đoạn này, do ảnh hưởng của CM khoa học kỹ thuật, của các phong trào đấu tranh trên
thế giới, do cùng song song tồn tại với các nước đi theo con đường XHCN và do sự phát
triển của xu thế dân chủ, => các NN TB đã điều chỉnh chính sách trong nhiều lĩnh vực và
hiện tại, nó đã đóng vai trò không thể thiếu trong đời sống kinh tế - XH ở các nước TB. Sự
dung hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyền với sức mạnh của NN là đặc trưng của
CNTB ngày nay
các thế lực thù địch.
=> Nó là công cụ để xác lập và bảo vệ sự thống trị của hệ tư tưởng của g/c công nhân hay
chủ nghĩa Mác – Lênin.
Tính xã hội của NN XHCN thể hiện một cách hết sức rộng rãi và sâu sắc.
+ NN có sứ mệnh tổ chức và quản lí các mặt hoạt động cơ bản của đời sống XH, nhằm
xây dựng một XH mới, trong đó con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, mọi
người đều hoàn toàn tự do, bình đẳng với nhau, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng
được nâng cao, tức là XH đủ khả năng mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi
người dân.
+ NN tổ chức cho XH thực hiện các hoạt động kinh tế - XH và có thể trực tiếp thực
hiện các hoạt động đó. Tất cả đều nhằm hướng tới các mục tiêu dân giàu, nước mạnh, XH
công bằng, dân chủ, văn minh, hiện đại.
+ NN hướng tới việc đem lại lợi ích cho toàn thể cộng đồng XH, không phân biệt g/c,
tầng lớp, dân tộc, tôn giáo…, mọi thành viên trong XH đều được NN chăm sóc, bảo đảm,
bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của họ.
9
+ NN tích cực xây dựng và phát triển nền giáo dục, y tế hiện đại, xây dựng cơ sở hạ
tầng vật chất kỹ thuật, các công trình phúc lợi XH, cung cấp dịch vụ công cho XH, bảo vệ
môi trường sống…
+ NN cố gắng thiết lập trật tự an ninh, an toàn XH, trấn áp những phần tử phản tiến bộ,
thiếu ý thức và không hướng thiện.
Tính XH của NN XHCN còn được thể hiện ở những nội dung sau:
+ NN XHCN là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
- Trong XH, gốc của quyền lực NN là của toàn thể ND, do ND uỷ quyền cho NN thực
hiện nên NN chỉ là công cụ để đại diện và thực hiện quyền lực của ND mà không phải là bộ
máy để áp bức và cai trị ND.
- NN là của toàn thể ND, ND là chủ đất nước, có quyền quyết định tối cao và cuối
cùng các vấn đề trọng đại của đất nước, các vấn đề liên quan đến vận mệnh quốc gia, bảo vệ
NN dùng PL để thừa nhận các quyền tự do dân chủ rộng rãi cho công dân, quy định
quyền và nghĩa vụ tham gia quản lý NN, quản lý XH của các tổ chức XH, đoàn thể quần
chúng; quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện và bảo vệ các quyền trên; thông qua cả
BMNN để tổ chức thực hiện và bảo vệ các quyền đó.
Giải phóng con người, phục vụ con người, bảo vệ các giá trị của con người, tạo điều
kiện để mọi người có thể phát huy tài năng, phát triển toàn diện là mục tiêu, tôn chỉ của NN
XHCN. Vì thế, mọi đường lối, chính sách, chiến lược của NN đều phải nhằm phục vụ con
người, vì con người và cho con người, vì sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân.
NN đề ra và phấn đấu thực hiện nguyên tắc mọi người đều phải tham gia lao động,
làm theo năng lực, hưởng theo lao động, theo mức độ đóng góp của mình để tiến tới xây
dựng được một XH mà mọi người đều tự do và bình đẳng thực sự với nhau, bình đẳng trong
lao động, trong hưởng thụ, trong cơ hội tham gia nắm giữ các chức vụ công cộng, tham gia
quản lý NN, quản lý XH, trong điều kiện phát triển toàn diện cá nhân và công bằng XH
được bảo đảm trong tất cả các lĩnh vực.
=> Tóm lại, NN XHCN vừa phải là BM trấn áp, vừa phải là một BM để tổ chức và quản lý
XH nhằm xây dựng thành công CNXH.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong quá trình xây dựng CNXH, tính g/c
của NN XHCN thể hiện ngày càng mờ nhạt dần đi, tính XH của nó sẽ thể hiện ngày càng
sâu sắc, rộng rãi hơn và lấn át dần tính g/c cho đến khi tính g/c bị lấn át hoàn toàn thì NN sẽ
tiêu vong.
3. Bản chất, đặc điểm của nhà nước Việt Nam hiên nay?
Theo khoản 1,2 Điều 2 Hiến pháp 2013:
“1. NN CHXHCN VN là NN pháp quyền XHCN của ND, do ND, vì ND.
2. Nước CHXHCN VN do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực NN thuộc về ND mà nền
tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”
Theo quy định trên thì NN ta thuộc kiểu NN XHCN và đang là NN của thời kì quá độ lên
CNXH. Bản chất NN ta được thể hiện ở những đặc điểm sau:
1. Dưới góc độ tính giai cấp, NN ta mang tính chất giai cấp công nhân
Tính giai cấp của NN ta được thể hiện ở những nội dung sau:
Phấn đấu trở thành NN thực sự là của dân, do dân, vì dân là mục tiêu lí tưởng cần hướng tới
và nhằm bảo đảm tính định hướng XHCN của NN ta. Trong quá trình xây dựng CNXH ở
nước ta, chắc chắn NN ta sẽ từng bước đáp ứng được tiêu chuẩn của một NN của dân, do
dân và vì dân đã nêu trên, khi đó,nó sẽ là NN có tính XH rất rộng rãi và rõ rệt.
4. NN ta vừa là bộ máy cưỡng chế, trấn áp, vừa là bộ máy để tổ chức và xây dựng XH
mới, điều hành và quản lí các lĩnh vực hoạt động cơ bản của đời sống
Từ khi ra đời đến nay, NN ta luôn gặp phải sự phản kháng, sự chống đối của các lực lượng
và phần tử thù địch, phản CM, phản tiến bộ, thiếu ý thức và không hướng thiện. Do vậy, để
bảo vệ chính quyền của ND, bảo vệ chế độ, thiết lập và giữ gìn trật tự XH, NN ta phải là bộ
máy cưỡng chế, một cơ quan trấn áp.
Sond, mục đích cao nhất của NN ta là xây dựng thành công CNXH ở VN, một XH đủ khả
năng mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi người dân. XH đó không thể
hình thành được bằng con đường bạo lực, trấn áp mà phải bằng con đường tổ chức vfa xây
dựng, trong đó trước tiên và quan trọng nhất là tổ chức và quản lí kinh tế.
5. NN ta xây dựng theo hướng trở thành NN pháp quyền tức là NN khẳng định và bảo
đảm sự thống trị của PL trong đời sống NN, đời sống XH, một NN luôn luôn bị ràng buộc
bởi PL của chính mình, tuyệt đối tôn trọng và thực hiện PL trong cả tổ chức lẫn hoạt động
của nó.
4. Chức năng của nhà nước: khái niệm, phân loại chức năng của nhà nước?
ĐN: Chức năng của NN là những mặt (phương diện) hoạt động chủ yếu của NN thể hiện bản
chất, vai trò của nó và nhằm thực hiện những nhiệm vụ cơ bản của NN
Phân loại chức năng của NN
CN của NN có thể phân loại theo nhiều cách:
a. Căn cứ vào phạm vi hoạt động của NN gồm:
- Các CN đối nội là những mặt hoạt động chủ yếu của NN trong nội bộ đất nước: tổ chức
và quản lý kinh tế, trấn áp những lực lượng và phần tử chống đối chính quyền, chống đối chế
độ…
12
+ CN tiến hành chiến tranh xâm lược
+ CN phòng thủ để bảo vệ đất nước
+ CN thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước khác
Chức năng của NN FK
•
Chức năng bảo vệ QHSX FK, duy trì các hình thức bóc lột của địa chủ FK đối với
nông dân và các tầng lớp lao động khác
•
Chức năng trấn áp những người lao động bằng quân sự và về tư tưởng
•
Chức năng kinh tế - xã hội
•
Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược để mở rộng lãnh thổ và thực hiện mưu đồ
bành trướng thế lực
13
Chức năng phòng thủ để bảo vệ đất nước
•
Chức năng thiết lập các mối quan hệ ngoại giao và hữu nghị quốc tế
CHỨC NĂNG NN TS
•
+ Củng cố và bảo vệ chế độ tư hữu TS
•
+ Trấn áp
•
+ Kinh tế - xã hội
•
+ Tiến hành chiến tranh xâm lược khi có điều kiện
•
phát triển như nước ta, việc tập trung ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất phải được coi là
nhiệm vụ trung tâm.
Để giải quyết vấn đề này, cần thực hiện nhất quán và ổn định lâu dài nền kinh tế TT
định hướng XHCN với nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sở hữu và sự phát triển
đồng bộ các loại thị trường: hàng hoá và dịch vụ, lao động, KHCN…
•
14
Cụ thể, CN tổ chức và quản lí KT của NN cần tập trung vào các công việc chủ yếu
sau:
- Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động KT. Đó là sự ổn định về chính trị;
kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; hệ thống PL hoàn thiện; sự giao lưu, hợp tác quốc tế dễ
dàng, thuận lợi.
- Hướng dẫn các hoạt động KT, định hướng cho nền KT phát triển bằng các cách:
xây dựng, hoạch định chính sách, chiến lược, chương trình, mục tiêu, kế hoạch phát triển
KT - XH, đi kèm là chính sách bảo hộ, khuyến khích, hỗ trợ, ưu tiên… cần thiết.
- Điều tiết các hoạt động KT đảm bảo cho nền KT phát triển ổn định, vững chắc,
đảm bảo công bằng và an sinh XH. Công cụ điều tiết của NN là PL, các chính sách giá cả,
thuế, đầu tư, dự trữ quốc gia, tài chính, tiền tệ…
- Kiểm soát các hoạt động KT, phát huy mặt tích cực, ngăn ngừa và khống chế
những biểu hiện tiêu cực, khắc phục những hạn chế, khiếm khuyết vốn có của nền KT thị
trường nhằm giữ gìn trật tự, kỉ cương trong lĩnh vực KT, bảo vệ các quyền, lợi ích KT hợp
pháp của tất cả các cá nhân, tổ chức trong XH.
2. Chức năng giữ vững an ninh chính trị, trấn áp sự phản kháng của các lực lượng
chống đối
a. Tầm quan trọng của CN:
Đây là chức năng rất quan trọng của NN XHCN, đặc biệt trong giai đoạn cách mạng
mới thành công, NN XHCN mới ra đời. Bởi vì, NN XHCN luôn gặp phải sự phản kháng, sự
+ Xây dựng một hệ thống PL hoàn chỉnh, thống nhất, đồng bộ, phù hợp với điều kiện
KT, XH trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, thể hiện kĩ thuật pháp lí ở trình độ
cao, trong đó xác định rõ các quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của công dân để bảo
đảm cho NN là của dân và vì dân.
+ NN phải tổ chức tốt việc thực hiện PL, trong đó đặc biệt chú trọng công tác phổ
biến, giáo dục PL, nâng cao ý thức PL cho ND để tạo điều kiện hình thành trong ND thói
quen xử sự theo PL, tự giác thực hiện nghiêm chỉnh PL.
+ NN phải thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện PL, phát hiện kịp thời và
xử lý nghiêm minh mọi vi phạm PL.
c. Thực tế thực hiện
4. Chức năng tổ chức và quản lí các mặt khác của đời sống XH: văn hoá, giáo dục,
KH, KT…
a. Tầm quan trọng:
+ Chức năng này có nội dung rất rộng và rất quan trọng của NN XHCN, thể hiện tập
trung tính chất XH của nó.
+ Thực hiện CN này giúp cho NN XHCN có đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu văn
hoá tinh thần ngày càng cao của toàn XH, nâng cao trình độ phát triển của khoa học công
nghệ, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho ND, tạo điều kiện cho công dân phát triển
toàn diện cá nhân.
+ Thực hiện tốt chức năng này sẽ khẳng định được sự ưu việt và tất thắng của
CNXH, uy tín và vị thế của NN XHCN được nâng cao, sức sống và thắng lợi của CNXH
được thể hiện rõ.
b. Nội dung của chức năng:
+ Về văn hoá: Nhiệm vụ trung tâm là xây dựng nền văn hoá mới, tiên tiến, dân tộc, đại
chúng, xây dựng lối sống mới, con người mới, đấu tranh chống tư tưởng, văn hoá lạc hậu,
phản cách mạng.
Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi các NN XHCN phải chọn lọc, giữ gìn, kế thừa và
phát huy những tinh hoa văn hoá dân tộc; chọn lọc, tiếp thu những giá trị văn hoá nhân loại;
khuyến khích sáng tạo văn hoá, phát triển các loại hình thông tin, báo chí; giáo dục ý thức
công dân; phòng, chống những tư tưởng, văn hoá lạc hậu, phản động; ngăn chặn sự thoái
tuệ…
Về y tế, môi trường: NN phải mở rộng mạng lưới y tế, chú trọng đào tạo đội ngũ
thầy thuốc; hiện đại hoá các cơ sở khám chữa bệnh, kết hợp y học hiện đại với y học
cổ truyền; bảo vệ môi trường sống, đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm…
Về dân số, lao động, việc làm, thu nhập: NN cần có chính sách dân số phù hợp với
khả năng của đất nước; bảo đảm việc làm đầy đủ, phù hợp đồng thời cải thiện điều
kiện làm việc cho người lao động; giải quyết đúng đắn vấn đề tiền lương và thu nhập
của người lao động; điều tiết thu nhập nhằm làm giảm sự chênh lệch về mức sống,
thu nhập và tài sản giữa các tầng lớp dân cư, góp phần ổn định XH…
Về giai cấp, dân tộc, tôn giáo: NN từng bước khắc phục sự khác nhau về lợi ích giữa
các giai cấp, tầng lớp trong XH, giảm dần sự khác biệt giữa công nhân với nông dân,
giữa lao động trí óc với lao động chân tay, giữa thành thị với nông thôn. Đảm bảo sự
bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm sự kì thị dân tộc, tôn
trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân;
NN phải tổ chức và quản lí nhiều mặt khác của đời sống XH như thể thao, du lịch,
vấn đề xoá đói giảm nghèo, chăm lo, giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn
trong cuộc sống, việc phòng và chống các tệ nạn XH, phòng chống và khắc phục hậu
quả thiên tai, thực hiện chính sách ưu đãi XH, chính sách đền ơn, đáp nghĩa…
5. Chức năng bảo vệ Tổ quốc
a. Tầm quan trọng:
17
Bảo vệ Tổ quốc là chức năng của bất kì NN nào trên thế giới. NN XHCN cũng không phải
là ngoại lệ. Chức năng này có vai trò quan trọng trong suốt quá trình xây dựng CNXH vì
các thế lực thù địch vẫn nuôi dưỡng âm mưu chống đối CNXH hết sức quyết liệt, chủ nghĩa
đế quốc vẫn tìm mọi cách chống phá các NN XHCN, mong muốn loại bỏ CNXH.
b. Nội dung CN
Thực hiện chức năng này, NN XHCN cần phải:
cơ quan trong bộ máy nhà nước.
2. Sự phát triển của bộ máy nhà nước qua các kiểu nhà nước: cơ cấu tổ chức, cách thức thành
18
lập, sự phân định chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức và hoạt động...
3. Bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay: đặc điểm, cơ cấu tổ chức, nguyên tắc cơ bản trong tổ
chức và hoạt động.
---------------------------------------------------------------------1. Khái niệm BMNN?
BMNN là hệ thống các cơ quan NN từ TW tới địa phương, cơ sở, được tổ chức và hoạt
động theo những nguyên tắc chung nhất định tạo thành một cơ chế để thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ của NN.
BMNN được hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của NN. Phù hợp
với quy luật phát triển trung của XH, các CQ trong BMNN càng phong phú, đa dạng và
phức tạp hơn. Sự phân định chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan NN ngày càng rõ
ràng ,cụ thể hơn và các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chúng cũng ngày càng tiến bộ
hơn.
BMNN bao gồm nhiều cơ quan nên có thể phân loại chúng theo nhiều cách khác nhau. Nếu
căn cứ vào thẩm quyền theophajm vi lãnh thổ thì có thể chia các CQNN thành các cơ quan
NN ở TW và các CQNN ở ĐP. Nếu căn cứ vào trình tự thành lập có thể chia các CQNN
thành các CQ do truyền ngôi, các CQ do bầu cử, các CQ do bổ nhiệm, các CQ vừa do bầu
cử, vừa do bổ nhiệm. Nếu căn cứ vào chức năng chủ yếu của các CQNN có thể chia chúng
thành CQ lập pháp, CQ hành pháp vqaf CQ tư pháp.
Riêng đối với BMNN XHCN thì nếu căn cứ vào chức năng, thẩm quyền của các CQNN có
thể chia chúng thanh các CQ quyền lực NN, nguyên thủ quốc gia, các cơ quan quản lí NN,
các CQTA và các CQKS.
2. Mối liên hệ giữa BMNN với CNNN
+ Có mối liên hệ chi phối, ràng buộc nhau
+ BMNN được thành lập ra để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của NN. Các chức năng,
nhiệm vụ này quy định BMNN (có việc cần giải quyết thì mới cần CQ để giải quyết; việc
---------------------------------------------------------1. Khái niệm hình thức nhà nước: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc, chế độ chính
trị?
1. Định nghĩa
Là cách thức và phương pháp tổ chức và thực hiện quyền lực NN, trong đó cách thức là “Hình
thức diện ra của một hành động”, còn phương pháp là “Hệ thống các cách sử dụng để tiến
hành một hoạt động nào đó.
2.
Các yếu tố cấu thành khái niệm hình thức nhà nước
Khái niệm hình thức nhà nước được cấu thành bởi các yếu tố: hình thức chính thể, hình thức
cấu trúc NN và chế độ chính trị.
a)
Hình thức chính thể
- Định nghĩa:
Hình thức chính thể nhà nước là cách thức và trình tự thành lập các cơ quan cao nhất của
quyền lực nhà nước, xác lập mối quan hệ giữa các cơ quan với nhau và với nhân dân.
- Các dạng chính thể:
Hình thức chính thể NN bao gồm 2 dạng cơ bản là quân chủ và cộng hòa.
Quân chủ là hình thức mà quyền lực cao nhất của NN tập trung toàn bộ hoặc một phần
trong tay người đứng đầu NN là nhà vua hoặc hoàng đế, quốc vương,... lên ngồi theo
nguyên tắc thế tập. Trong chính thể quân chủ, người đứng đầu NN và về mặt pháp lý được
coi là người có quyền cao nhất của NN là nhà vua hoặc những người có danh hiệu tương
tự. Phần lớn các nhà vua lên ngôi hay nắm được quyền lực bằng con đường thừa kế hay
cha truyền con nối nên đó là nguyên tắc của chính thể này. Sonh cũng có những nhà vua
lên ngôi bằng các con đường khác như chỉ định, suy tôn, bầu cử, tự xưng, được phong vua
hoặc tiếm quyền..., đó là những ngoại lệ của nguyên tắc thế tập; nhưng ngay trong những
trường hợp trên thì thường là sau đó, nguyên tắc thừa kế ngôi vua lại được xác lập cho
những đời sau.
Chính thể quân chủ bao gồm nhiều dạng, căn cứ vào phạm vi quyền lực của nhà vua có thể
20
luật định. Chính thể CH quý tộc chủ yếu tồn tại trong các NN chủ nô. Còn chính thể cộng
hòa DC lại có nhiều dạng tùy theo từng kiểu NN như CH chủ nô, CH PK, CH TS và CH
XHCN.
b) Hình thức cấu trúc NN.
- Định nghĩa: Hình thức cấu trúc NN là cách cấu tạo NN thành các CQ theo các đon vị
hành chính – lãnh thổ, xác lập mối quan hệ giữa các CQ đó với nhau và với các CQ cao
nhất của quyền lực NN.
- Các dạng: Hình thức cấu trúc NN bao gồm hai dạng cơ bản là: NN đơn nhất và NN liên
bang.
NN đơn nhât là 1 NN duy nhất và có chủ quyền hoàn toàn trong phạm vi lãnh thổ quốc
gia. Thông thường, ở NN đơn nhất chỉ có 1 NN có và thực hiện toàn bộ quyền lực NN trên
toàn lãnh thổ. NN đơn nhất có các đặc trưng sau:
+ Nó có một hệ thống CQNN và 1 hệ thống PL duy nhất từ TW tới ĐP. Các CQ NN ở TW
có thẩm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên toàn lãnh thổ, các CQNN ở địa phương
phải phụ thuộc vào các CQTW; có một bản HP và một hệ thống PL duy nhất có hiệu lực
21
trên toàn lãnh thổ. Các CQNN và tự quản ở ĐP có trách nhiệm tổ chức thực hiện các
VBPL do các CQTW ban hành, chúng có quyền ban hành ra các VBPL nhất định nhưng
phải phù hợp với VB của TW, không một lãnh thổ trực thuộc nào có quyền đặt ra quốc tịch
riêng cho công dân.
+ Lãnh thổ củ NN đơn nhất được phân chia thành các đơn vị hành chính – lãnh thổ không
có chủ quyền NN và gồm các cấp khác nhau. Do đó, NN này có hai hệ thống chính quyền
là TW và ĐP.
NN liên bang là một NN do nhiều NN hợp thành trong đó có một NN chung cho toàn liên
bang và mỗi bang thành viên có một NN riêng.Tuy có nhiều NN song chỉ có NN liên bang
mới có chủ quyền hoàn toàn, mới được đại diện cho toàn quốc gia, dân tộc để thực hiện
chủ quyền quốc gia và mới là chủ thể độc lập của luật QT. Các NN thành viên không có
chủ quyền hoàn toàn và phải phụ thuộc vào NN liên bang. NN này có các đặt trưng sau:
NN. Các phương pháp đó bao gồm: phương pháp lực chọn người cầm quyền, cai trị hay
những người trực tiếp thực hiện quyền lực NN, phương pháp thực hiện quyền lực NN của
các CQNN và phương pháp xây dựng nên các quyết định quan trọng của NN
22
- Các dạng: Các phương pháp trên có thể là tự do, có thể là độc đoán nên chế độ chính trị
bao gồm hai dâng cơ bản là dân chủ và phản dân chu. Dân chủ là chế độ mà ND có quyền
tham gia vào việc tổ chức, hoạt động của các CQNN, bàn bạc, thảo luận và quyết định
những vấn đề quan trọng của NN.
Tùy theo đối tượng được hưởng quyền tham gia vào việc tổ chức và hoạt động của NN mà
chế độ dân chủ có thể rộng rãi hoặc hạn chế. Dân chủ rộng rãi là hình thức mà mọi công
dân đều có thể tham gia bầu cử và ứng cử vào các CQ đại diện của NN khi có đủ những
điều kiện luật định, có thể trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình thực hiện các
hoạt động của NN, thảo luận, bàn bạc để xây dựng nên các quyết định quan trọng của NN,
giám sát hoạt động của các nhân viên và CQNN. Dân chủ hạn chế là hình thức mà chỉ có
một bộ phận của dân chúng hoặc những tầng lớp đặc biệt trong XH mới có quyền bầu cử
và ứng cử vào CQ quyền lực cao nhất của NN, có quyền bàn bạc, thảo luận và quyết định
các vấn đề quan trọng của NN. Ngoài ra dân chủ có thể là thực chất hoặc hình thức, giả
hiệu, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp....
Phản dân chủ là chế độ mà ND không có quyền tham gia vào việc tổ chức BMNN (đặc
biệt là CQ tối cao của quyền lực NN) hoặc vào việc bàn bạc, thảo luận và quyết định
những vấn đề quan trọng của NN. Trong chế độ này, CQ cao nhất của NN được lập ra
theo phương thức đọc đoán, có thể bằng các con đường như: thông qua một cuộc chinh
phục hoặc đảo chính để chiếm đoạt quyền hành, cha truyền con nối, chính phủ đương
quyền đề cử một chính phủ kế nhiệm, rút thăm hoặc chỉ định. Tức là những con đường
mà ND không được tham gia. Vì thế, ND hoặc đại diện của họ cũng không được tham gia
thảo luận, bàn bạc để quyết định những vấn đề quan trọng của NN. Cũng có trường hợp
các CQNN được hình thành bằng con đường bầu cử nhưng sau đó các quyết định quan
trọng của NN lại chỉ do một người hoặc một nhóm nhỏ người bàn bạc và quyết định,
Hình thức NN VN là cách thức và phương pháp tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ở
VN. Hình thức của NN VN là một khái niệm chung được hình thành từ ba yếu tố: hình thức
chính thể, hình thức cấu trúc NN và chế độ chính trị.
- Hình thức chính thể của NN CHXHCNVN là CHDC vì ở VN quyền lực cao nhất của nhà
nước thuộc về QH – cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân được thành lập bằng con đường
bầu cử. Theo quy định của pháp luật, công dân VN từ đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu
cử và từ dủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu QH.
- Hình thức cấu trúc của nhà nước VN CHXHCNVN là nhà nước đơn nhất vì trong phạm vi
lãnh thổ VN chỉ có một nhà nước duy nhất và nắm gữi toàn bộ chủ quyền NN.
+ NN VN có một hệ thống cơ quan NN và một hệ thống pháp luật duy nhất từ trung ương tới
địa phương.
+ Lãnh thổ được phân chia thành các đơn vị hành chính – lãnh thổ không có chủ quyền nhà
nước và gồm các cấp như tỉnh, huyện, xã.
- Chế độ chính trị của NN CHXHCNVN là chế độ dân chủ vì nhân dân có quyền tham gia vào
việc tổ chức, hoạt động của các cơ quan NN, bàn bạc, thảo luận và quyết định những vấn dề
quan trọng của NN.
ở nước ta, cơ quan cao nhất của quyền lực NN là quốc hội được hình thành bằng con đường
bầu cử, do cử tri cả nước trực tiếp bầu ra. Các quyết định quan trọng của NN được xây dựng
nên thông qua các cuộc thảo luận, bàn bạc của quốc hội và quyết định theo đa số.
Nhân dân được hưởng một số quyền lực do chính trị: quyền bầu cử và ứng cử vào các cơ quan
đại diện của NN, quyền giám sát hoạt động của các cơ quan và nhân viên NN...
Về mặt pháp lý thì chế độ dân chủ nước VN là rộng rãi vì mọi công dân đều có thể tham gia
bầu cử và ứng cử vào các cơ quan đại diện của nhà nước khi có đủ những điều kiện luật định,
có thể trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu của mình thực hiện các hoạt động của NN, thảo
luận, bàn bạc để xây dựng nên các quyết điịnh quan trọng của nhà nước, giám sát hoạt động
của các nhân viên và cơ quan NN.
---------------------------------------------------------Vấn đề 5. Nhà nước trong hệ thống chính trị - Nhà nước pháp quyền
1. Nhà nước trong hệ thống chính trị: khái niệm hệ thống chính trị; vị trí, vai trò của nhà nước
trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, mối quan hệ giữa nhà nước với các tổ chức khác
trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay.