LỜI NÓI ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát môn học
Lý luận nhà nước và pháp luật là một trong hai học phần là môn học quan trọng
trong hệ thống khoa học pháp lý. Dựa tr ên cơ sở học thuyết Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, những quan điểm của Đảng v à Nhà nước ta cũng như tri thức chung của nhân
loại về nhà nước và pháp luật. Môn học này là một trong hai học phần lý luận nh à nước
và pháp luật được viết để phục vụ cho sinh vi ên đang theo học chuyên ngành luật; Ở phần
một này sẽ giúp cho người học có những kiến thức cơ bản về sự hình thành của nhà nước
và pháp luật, bản chất của nhà nước và pháp luật qua các giai đoạn lịch sử nhất định của
xã hội. Đây là môn cơ sở, là nền tản giúp cho sinh viên nghiên cứu tốt các môn học khác
(môn Luật hiến pháp, luật hình sự, luật hành chính, luật dân sự …)
2. Mục tiêu môn học
Môn học này sẽ giúp cho người học có một cách nhìn tổng thể về nhà nước và
pháp luật. Giúp người học nắm vững được bản chất của từng kiểu nh à nước, từng kiểu
pháp luật.
3. Yêu cầu môn học:
Người học cần nắm vững những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nh à nước và
pháp luật, chức năng, vai trò, nhiệm vụ của nhà nước và pháp luật để từ đó nắm bắt các
nội dung các môn học sau n ày.
4. Cấu trúc môn học:
Môn học này được cấu trúc lại để phù hợp với nhu cầu học tập của sinh viên hệ
đào tạo từ xa, nên môn học này được chia làm 8 chương như sau:
Chương 1: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của lý luận về nhà nước và pháp luật
Chương 2: Nguồn gốc của nhà nước và pháp luật
Chương 3: Bản chất, các kiểu và hình thức nhà nước
Chương 4: Bản chất, đặc trưng, vai trò, các kiểu và hình thức pháp luật.
Chương 5: Nhà nước và pháp luật chủ nô
Chương 6: Nhà nước và pháp luật phong kiến.
Triết học Mác - Lênin nghiên cứu nhà nước và PL cùng với việc nghiên cứu các
hiện tượng xã hội khác để rút ra những quy luật vận động v à phát triển chung của XH
Lịch sử nhà nước và pháp luật lại nghiên cứu nhà nước và pháp luật trong từng giai
đoạn lịch sử cụ thể để tìm ra những đặc thù trong sự phát triển của nhà nước và pháp luật
trong từng hoàn cảnh cụ thể
2
Lý luận nhà nước và pháp luật có quan hệ với nhiều bộ môn khoa học khác nh ư:
Triết học (chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử), kinh tế chính trị và
chủ nghĩa xã hội khoa học
Trong mối liên hệ với triết học duy vật biện chứng, triết học duy vật biện chứng đ ã trang
bị cho lý luận về nhà nước và pháp luật phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu.
Đối với triết học duy vật lịch sử, lý l uận về nhà nước và pháp luật là sự tiếp tục
trực tiếp các nguyên lý triết học chung của chủ nghĩa duy vật lịch sử về bản chất của nh à
nước và pháp luật, sự tác động qua lại của nh à nước và pháp luật với cơ sở kinh tế và sự
biến đổi của chúng theo sự phát t riển của đời sống xã hội.
Kinh tế chính trị học là khoa học về những quy luật quan hệ sản xuất - cơ sở kinh
tế của xã hội. Những khái niệm của kinh tế chính trị học nh ư: lực lượng sản xuất, quan hệ
sản xuất, sở hữu... có ý nghĩa to lớn đối với lý luận về nhà nước và pháp luật.
Chính trị học nghiên cứu các quy luật và tính quy luật trong sự hình thành, phát triển
của chính trị, của quyền lực chính trị, quyền lực nh à nước cùng những cơ chế, phương thức,
cách thức sử dụng các quy luật đó trong xã hội được tổ chức thành nhà nước.
Đối với chủ nghĩa xã hội khoa học, trong quá tr ình nghiên cứu, lý luận nhà nước và
pháp luật vận dụng các quan điểm v à kết luận của chủ nghĩa xã hội khoa học để giải thích
các vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu của mình
Trong hệ thống các khoa học pháp lý, lý luận về nh à nước và pháp luật giữ vai trò
là môn khoa học pháp lý cơ sở có tính chất phương pháp luận để nhận thức đúng đắn các
vấn đề có tính bản chất, các quy luật của nh à nước và pháp luật
3. Phương pháp nghiên c ứu của lý luận về nhà nước và pháp luật
* Phương pháp diễn dịch là phương pháp đi từ những tri thức chung đến tri thức
về cái riêng.
* Phương pháp phân tích thu ần tuý quy phạm: nghiên cứu các hiện tượng pháp
lý, phân loại, xử lý làm sáng tỏ cấu trúc pháp lý của chúng, l àm rõ mối quan hệ lô gích
của các quy phạm pháp luật, qua đó khắc phục các mâu thuẫn.
* Phương pháp so sánh pháp lu ật: trên cơ sở của phương pháp này, các hiện
tượng pháp lý, sự kiện pháp lý được nghiên cứu trong mối quan hệ so sánh với nhau. Việc
so sánh có thể được tiến hành ở các mức độ khác nhau, từ việc so sánh hệ thống pháp luật
với hệ thống pháp luật, ng ành luật với ngành luật... trên cơ sở đó rút ra những nét giố ng
nhau, khác nhau, đặc thù của các hiện tượng được nghiên cứu.
* Phương pháp xã hội học: (theo dõi, phỏng vấn, thăm dò dư luận …) để nắm
được những thông tin, tư liệu thực tiễn, thể hiện những quan niệm, quan điểm trong x ã
hội về các vấn đề khác nhau của nhà nước và pháp luật từ đó, hình thành hoặc kiểm
4
nghiệm lại những luận điểm, quan điểm, khái niệm,kết luận của lý luận về nh à nước và
pháp luật.
* Tóm lại, khi nghiên cứu nhà nước và pháp luật, lý luận về nhà nước và pháp luật
phải dựa trên cơ sở của phương pháp luận Mác - Lênin và cần sử dụng tổng thể các
phương pháp nghiên c ứu.
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Tại sao Khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp luật lại là một ngành khoa
học xã hội?
2. Phân tích đối tượng nghiên cứu của khoa học lý luận chung về nhà nước và pháp
luật?
3. Phân tích phương pháp lu ận và phương pháp so sánh c ủa khoa học lý luận chung
về nhà nước và pháp luật?
khế ước xã hội được ký kết trước hết giữa những con ng ười sống trong trạng thái tự nhiên
không có nhà nước. Chủ quyền nhà nước thuộc về nhân dân, trong tr ường hợp nhà nước
không giữ được vai trò của mình , các quyền tự nhiên bị vi phạm thì khế ước sẽ mất hiệu
lực và nhân dân có quyền lật đổ nhà nước và ký kết khế ước mới.
1.2. Quá trình hình thành của Nhà nước theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác –
Lênin
Chủ nghĩa Mác-LêNin cho rằng:
- Nhà nước xuất hiện một cách khách quan, nh ưng không phải là hiện tượng xã
hội vĩnh cửu và bất biến. Nhà nước luôn vận động, phát triển v à tiêu vong khi những điều
kiện khách quan cho sự tồn tại v à phát triển của chúng không còn nữa.
- Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người đã phát triển đến một giai đoạn
nhất định. Nhà nước xuất hiện trực tiếp từ sự tan r ã của chế độ cộng sản nguyên thủy.
6
Nhà nước chỉ xuất hiện ở nơi nào và thời gian nào khi đã xuất hiện sự phân chia xã hội
thành các giai cấp đối kháng.
* Quá trình hình thành Nhà n ước:
Chế độ Cộng sản nguyên thuỷ, tổ chức thị tộc bộ lạc v à quyền lực xã hội:
- Cơ sở kinh tế: chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động.
Mọi người đều bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, không ai có tài sản riêng, không
có người giàu kẻ nghèo, không có sự chiếm đoạt tài sản của người khác.
- Cơ sở xã hội: trên cơ sở thị tộc, thị tộc là một tổ chức lao động và sản xuất, một
đơn vị kinh tế - xã hội. Thị tộc được tổ chức theo huyết thống. X ã hội chưa phân chia giai
cấp và không có đấu tranh giai cấp.
- Quyền lực xã hội: quyền lực chưa tách ra khỏi xã hội mà vẫn gắn liền với xã
hội, hòa nhập với xã hội. Quyền lực đó do to àn xã hội tổ chức ra và phục vụ lợi ích của
cả cộng đồng.
- Tổ chức quản lý: Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc, bao
gồm tất cả những người lớn tuổi không phân biệt nam hay nữ trong thị tộc. Quyết định
tự”.
* Điểm qua sự ra đời của một số nh à nước điển hình:
- Nhà nước Aten: là hình thức thuần túy nhất, nhà nước nảy sinh chủ yếu và trực
tiếp từ sự đối lập giai cấp v à phát triển ngay trong nội bộ xã hội thị tộc. Từ cuộc cách
mạng Xô-lông (594TCN) và Klix-phe (509TCN) dẫn đến sự tan rã toàn bộ chế độ thị tộc,
hình thành Nhà nước vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên.
- Nhà nước Rôma: hình thành vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên, từ cuộc
đấu tranh bởi những người thường dân (Ple-bêi) chống lại giới quý tộc thị tộc La M ã (Pátri-sép).
- Nhà nước Giéc-manh: hình thành khoảng giữa thế kỷ V trước công nguyên, từ
việc người Giéc-manh xâm chiếm vùng lãnh thổ rộng lớn của đế chế La M ã cổ đại. Do
Nhà nước hình thành không do sự đấu tranh giai cấp, xã hội Giéc-manh vẫn tồn tại chế
độ thị tộc, sự phân hóa giai cấp chỉ mới bắt đầu v à còn mờ nhạt.
- Sự xuất hiện Nhà nước ở các quốc gia phương Đông:
+ Nhà nước Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập cổ đại,… được hình thành từ rất sớm, hơn
3000 năm trước công nguyên.
+ Nhu cầu trị thủy và chống giặc ngoại xâm đã trở thành yếu tố thúc đẩy và mang
tính đặc thù trong sự ra đời nhà nước của các quốc gia phương Đông.
8
+ Ở Việt Nam, từ sự hình thành phôi thai của Nhà nước cuối thời Hùng Vương –
Văn Lang đến Nhà nước sơ khai thời An Dương Vương – Âu Lạc năm 208 trước công
nguyên.
So với tổ chức thị tộc trước kia, thì nhà nước có hai đặc trưng cơ bản là phân chia dân cư
theo lãnh thổ và thiết lập quyền lực công cộng (không còn hòa nhập với dân cư nữa).
2. Nguồn gốc của pháp luật
Những nguyên nhân làm phát sinh nhà nư ớc cũng là những nguyên nhân dẫn đến
sự ra đời của pháp luật.
Pháp luật được hình thành từ hai con đường:
Nền chính trị của giai cấp cầm quyền quy định bản chất, nội dung của pháp luật.
9
5.
6.
Pháp luật là phương tiện mô hình hóa cách thức xử sự của con người.
Lợi ích giai cấp thống trị luôn là sự ưu tiên và luôn là được lựa chọn có tính
quyết định khi hình thành các quy định pháp luật.
7.
Pháp luật sẽ quyết định toàn bộ nội dung, hình thức, cơ cấu và sự phát triển
của kinh tế.
8.
Pháp luật luôn tác động tích cực đối với kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển.
9.
Pháp luật là tiêu chuẩn (chuẩn mực) duy nhất đánh giá hành vi của con người.
10. Ngôn ngữ pháp lý rõ ràng, chính xác thể hiện tính quy phạm phổ biến của pháp
luật.
11. Việc pháp luật đưa ra khuôn mẫu, chuẩn mực cho hành vi xử sự của con
người thể hiện tính xác định chặt chẽ về hình thức của pháp luật.
12. Tính được bảo đảm bởi nhà nước của pháp luật đòi hỏi các quan hệ xã hội đã
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu bản chất Nhà nước: cơ sở lý giải về các hiện tượng
của nhà nước; hiểu và nắm bắt được quy luật vận động của Nh à nước; từ việc hiểu đúng
bản chất của Nhà nước, để có được định nghĩa đầy đủ và bao quát nhất về Nhà nước.
1.1. Tính giai cấp
Nhà nước thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Sự thống trị thể
hiện dưới 3 mặt:
- Thống trị (quyền lực) kinh tế: có vai trò quyết định, tạo ra sự lệ thuộc về mặt
kinh tế của người bị bóc lột đối với giai cấp thống trị.
- Thống trị (quyền lực) chính trị : có vai trò duy trì quan h ệ bóc lột, là bạo lực có
tổ chức của giai cấp nhằm đ àn áp sự phản kháng của giai cấp bị trị trong x ã hội.
- Thống trị (quyền lực) tư tưởng: là sự thống trị về mặt tinh thần, hệ tư tưởng của
giai cấp thống trị được xây dựng và thông qua con đường nhà nước trở thành hệ tư tưởng
thống trị trong toàn xã hội
1.2. Tính xã hội
Nhà nước còn thực hiện chức năng xã hội, phải giải quyết các vấn đề khác trong x ã
hội. Bên cạnh tính giai cấp, Nhà nước còn phải phản ánh lợi ích của các tầng lớp, giai cấp
khác trong xã hội.
2. Các dấu hiệu đặc trưng của Nhà nước
- Nhà nước là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt .
- Nhà nước có lãnh thổ và quản lý dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ.
11
- Nhà nước có chủ quyền quốc gia
- Chỉ Nhà nước được quyền ban hành pháp luật và bảo đảm sự thực hiện pháp luật
- Nhà nước qui định và tổ chức thu thuế dưới hình thức bắt buộc
Định nghĩa nhà nước: Nhà nước là hình thức (phương thức) tổ chức xã hội có giai
cấp, là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, có chức năng quản lý x ã hội để
phục vụ lợi ích trước hết cho giai cấp thống trị v à thực hiện những hoạt động chung nảy
sinh từ bản chất của xã hội.
Tuy nhiên trong số các cách phân loại ở tr ên thì thông dụng nhất vẫn là cách phân
chức năng nhà nước thành chức năng đối nội và chức năng đối ngoại căn cứ tr ên cơ sở
đối tượng tác động của chức năng
Chức năng đối nội của nhà nước là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà
nước trong nội bộ của đất n ước.
Chức năng đối ngoại của nh à nước là những hoạt động cơ bản của đất nước với các
quốc gia khác, dân tộc khác.
Các chức năng của nhà nước được thực hiện bằng những h ình thức và phương
pháp nhất định.
Các hình thức pháp lý cơ bản để thực hiện chức năng của nh à nước bao gồm: hoạt
động lập pháp, hoạt động chấp h ành pháp luật và hoạt động xây dựng pháp luật.
Các phương pháp cơ bản để thực hiện chức năng của nh à nước là phương pháp
giáo dục, thuyết phục và phương pháp cưỡng chế.
3.2. Bộ máy nhà nước
Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống đến địa
phương, tổ chức và hoạt động trên những nguyên tắc chung thống nhất, tạo th ành một cơ
chế đồng bộ để thực hiện các chức năng v à nhiệm vụ của nhà nước.
Các yếu tố hợp thành bộ máy nhà nước là cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà
nước rất đa dạng. Tuy nhiên, thông thường cơ quan nhà nước bao gồm 3 loại: cơ quan lập
pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp
Tất cả các cơ quan nhà nước tạo thành bộ máy nhà nước, nhưng bộ máy nhà nước
không phải là tập hợp đơn giản các cơ quan nhà nước, mà là hệ thống thống nhất các c ơ
quan nhà nước. Yếu tố tạo nên sự thống nhất trong bộ máy nh à nước là hệ thống các
nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước
Cơ quan nhà nước là một tổ chức có tính độc lập t ương đối về mặt tổ chức - cơ
cấu, bao gồm những cán bộ, công chức đ ược giao những quyền hạn nh ất định để thực
hiện chức năng và nhiệm vụ của cơ quan đó trong phạm vi do pháp luật quy định.
13
14
Chính thể quân chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nh à nước tập trung
toàn bộ (hay một phần) vào trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắc thừa kế.
Hình thức chính thể quân chủ được chia thành quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế.
Ở các quốc gia có hình thức chính thể quân chủ tuyệt đối, vua (ho àng đế...) có
quyền lực vô hạn, các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp t ối cao đều nằm trong tay
người đứng đầu nhà nước.
Hình thức này chủ yếu tồn tại trong hai kiểu nh à nước đầu tiên là nhà nước chủ nô
và nhà nước phong kiến, ví dụ như Nhà nước phong kiến Việt Nam
Trong nhà nước có chính thể quân chủ hạn chế, người đứng đầu nhà nước hình
thành bằng con đường truyền ngôi chỉ nắm một phần quyền lực nh à nước tối cao, bên
cạnh họ có các cơ quan nhà nước hình thành bằng con đường bầu cử chia sẻ quyền lực
nhà nước với họ;
Chính thể cộng hoà là hình thức chính thể trong đó quyền lực tối cao của nh à nước
thuộc về những cơ quan đại diện được bầu ra trong một thời hạn nhất định.
Chính thể cộng hoà cũng có hai biến dạng là cộng hoà dân chủ và cộng hoà quý tộc.
Chính thể cộng hoà dân chủ: quyền tham gia bầu cử để thành lập các cơ quan đại
diện được quy định dành cho mọi công dân.
Chính thể cộng hoà quý tộc: quyền bầu cử hình thành các cơ quan đại diện chỉ
dành cho giai cấp quý tộc.
5.2. Hình thức cấu trúc
Hình thức cấu trúc nhà nước là sự tổ chức nhà nước thành các đơn vị hành chính
lãnh thổ, đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu th ành của nó, giữa cơ
quan nhà nước trung ương với cơ quan nhà nước địa phương.
Có hai hình thức cấu trúc nhà nước cơ bản là cấu trúc nhà nước đơn nhất và cấu
trúc nhà nước liên bang.
Hình thức cấu trúc nhà nước đơn nhất là hình thức trong đó lãnh thổ của nhà nước
3. Phân tích mối quan hệ giữa chức năng nhà nước với bộ máy nhà nước.
4. Trình bày những hiểu biết về hình thức nhà nước.
B. Câu hỏi nhận định
Hãy trình bày quan điểm riêng của anh (chị) về các nhận định sau đây theo hướng
đúng hay sai? Giải thích tại sao?
1.
Nhà nước là một hiện tượng có tính giai cấp có nghĩa là Nhà nước chỉ thuộc về
một giai cấp hoặc một liên minh giai cấp nhất định trong xã hội.
2.
Nhà nước mang tính giai cấp vì xét về nguồn gốc Nhà nước, Nhà nước ra đời
16
khi mâu thuẫn giai cấp gay gắt đến mức độ không thể điều hòa được.
3.
Quyền lực kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất so với quyền lực chính trị
và tư tưởng bởi nó tạo nên sự lệ thuộc cơ bản nhất giữa giai cấp bị trị đối
với giai cấp thống trị.
4.
Quyền lực chính trị là cơ bản và quan trọng nhất so với quyền lực kinh tế
và tư tưởng vì đó là sự bảo đảm cai trị bằng cưỡng chế của giai cấp thống trị
đối với giai cấp bị trị, là phương thức để giành chính quyền về tay giai cấp
thống trị.
CHƯƠNG IV
BẢN CHẤT, ĐẶC TRƯNG, VAI TRÒ, CÁC KIỂU
VÀ HÌNH THỨC PHÁP LUẬT
1. Bản chất và những đặc trưng cơ bản của pháp luật
1.1 Bản chất của pháp luật
Pháp luật có 2 bản chất: tính giai cấp v à tính xã hội.
* Tính giai cấp:
- Pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị.
- Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh của pháp luật
* Tính xã hội
- Thực tiễn pháp luật là kết quả của sự “chọn lọc tự nhi ên” trong xã hội.
- Quy phạm pháp luật vừa là thước đo của hành vi con người, vừa là công cụ kiểm
nghiệm các quá trình, các hiện tượng xã hội, là công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các
QHXH, hướng chúng vận động, phát triển phù hợp với các quy luật khách quan
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử s ự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực
hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong x ã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ
xã hội
1.2. Mối quan hệ của pháp luật với các hiện t ượng xã hội khác.
1.2.1. Pháp luật với kinh tế
- Pháp luật phụ thuộc vào kinh tế: các điều kiện kinh tế, quan hệ kinh tế không
chỉ là nguyên nhân trực tiếp quyết định sự ra đời của pháp luật, m à còn quyết định toàn
bộ nội dung, hình thức, cơ cấu và sự phát triển của pháp luật, trong đó:
+ Cơ cấu kinh tế, hệ thống kinh tế qu yết định cơ cấu hệ thống pháp luật;
+ Tính chất, nội dung của các quan hệ kinh tế, c ơ chế quản lý kinh tế quyết định
tính chất nội dung của các quan hệ pháp luật, phạm vi điều chỉnh của pháp luật.
+ Chế độ kinh tế quyết định việc tổ chức bộ máy v à phương thức hoạt động của
các thiết chế pháp lý.
- Sự tác động trở lại của pháp luật đối với kinh tế theo 2 h ướng:
18
- Pháp luật và các quy phạm xã hội khác có thể trùng hợp với nhau về phạm vi
điều chỉnh và mục đích điều chỉnh.
- Các loại quy phạm xã hội khác đóng vai trò hỗ trợ hoặc cản trở pháp luật phát
huy hiệu lực, hiệu quả trong việc điều chỉnh các quan hệ x ã hội.
19
1.3. Những đặc trưng cơ bản của pháp luật
1.3.1 Tính quy phạm phổ biến
* Tính quy phạm:
- Pháp luật là khuôn mẫu, chuẩn mực cho hành vi xử sự của con người được xác
định cụ thể.
- Pháp luật đưa ra giới hạn cần thiết mà Nhà nước quy định để các chủ thể có thể
xử sự một cách tự do trong khuôn khổ pháp luật.
* Tính phổ biến:
- Pháp luật điều chỉnh những quan hệ x ã hội cơ bản, phổ biến và điển hình.
- Pháp luật tác động đến tất cả các cá nhân, tổ chức trong những điều kiện, ho àn
cảnh pháp luật đã quy định.
1.3.2. Tính quyền lực (cưỡng chế)
Pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện. Nhờ có tính c ưỡng chế mà
pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh.
1.3.3. Tính ý chí:
Pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền. Ý chí đó thể hiện r õ ở mục đích
xây dựng pháp luật, nội dung pháp luật v à dự kiến hiệu ứng của pháp luật k hi triển khai
vào đời sống thực tế.
1.3.4. Tính xã hội (tính khách quan):
Pháp luật phải phù hợp với thực tế khách quan, nhu cầu của x ã hội.
2. Vai trò của pháp luật
4.2. Hình thức bên ngoài của pháp luật
Hình thức bên ngoài của pháp luật là sự biểu hiện ra bên ngoài của pháp luật.
Dựa vào phương thức thể hiện ý chí của nhà nước thành pháp luật, ta có: Tập quán
pháp, văn bản quy phạm pháp luật, tiền lệ pháp .
- Tập quán pháp là những tập quán hình thành và lưu truyền trong xã hội, phù hợp
với lợi ích của giai cấp thống trị v à được nhà nước thừa nhận, nâng chúng l ên thành
những quy tắc xử sự chung v à được nhà nước bảo đảm thực hiện.
- Tiền lệ pháp là các quyết định của cơ quan hành chính hoặc xét xử được nhà
nước thừa nhận là khuôn mẫu để giải quyết các vụ việc tương tự.
- Văn bản quy phạm pháp luật là những văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành, trong đó có chứa đựng các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung đ ược
áp dụng nhiều lần trong thực tế cuộc sống.
Các văn bản quy phạm pháp luật chia làm 2 loại: văn bản luật và văn bản dưới luật
21
4.3. Hình thức bên trong của pháp luật
Hình thức bên trong của pháp luật là hình thức cấu trúc của pháp luật. Pháp luật có
các bộ phận cơ cấu, bao gồm: quy phạm pháp luật, chế định pháp luật, ngành luật.
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nh à nước đặt
ra hoặc thừa nhận. Quy phạm pháp luật l à tế bào của hệ thống pháp luật.
Chế định pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một nhóm các
quan hệ xã hội cùng loại, đồng tính chất trong c ùng một ngành luật.
Ngành luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh một lĩnh vực quan hệ x ã
hội bằng những phương pháp điều chỉnh đặc thù riêng.
Câu hỏi ôn tập
So sánh về các ưu và khuyết điểm của các hình thức pháp luật: tiền lệ pháp, tập
quán pháp và văn bản pháp luật.
các tầng lớp nhân dân lao động khác.
* Tính xã hội
Các nhà nước chủ nô ở các mức độ khác nhau đã tiến hành những hoạt động mang
tính xã hội như: hoạt động làm thuỷ lợi ở các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương đông, xây
23
dựng và bảo vệ các công trình công cộng, hay hoạt động phát triển kinh tế, thương mại ở
Hy lạp...
1.2. Chức năng của nhà nước chủ nô
1.2.1. Chức năng đối nội
- Chức năng củng cố và bảo vệ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và nô lệ
- Chức năng đàn áp bằng quân sự đối với sự phản kháng của nô lệ và các tầng
lớp nhân dân lao động khác
- Chức năng đàn áp về mặt tư tưởng
- Chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước chủ nô
1.2.2 Chức năng đối ngoại
- Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược
- Chức năng phòng thủ chống xâm lược
1.3 Hình thức nhà nước chiếm hữu nô lệ
1.3.1 Hình thức chính thể
Lịch sử phát triển của nhà nước chủ nô gắn với các hình thức chính thể: quân chủ,
cộng hoà dân chủ, cộng hoà quý tộc
1.3.2. Về hình thức cấu trúc nhà nước
Tất cả các nhà nước chủ nô đều có cấu trúc nhà nước đơn nhất.
1.3.3. Về chế độ chính trị
Ở các nước phương Đông chủ yếu tồn tại chế độ độc tài chuyên chế. Ở các nước
phương Tây, chế độ chính trị đã mang tính dân chủ, tuy nhiên về bản chất đó chỉ là chế
độ dân chủ chủ nô
- Pháp luật chủ nô quy định những hình phạt dã man, tàn bạo
- Pháp luật chủ nô có quan hệ mật thiết tới tôn giáo, đạo đức, luân lý và những quy
tắc ứng xử trong gia đình cũng như trong xã hội.
2.3 Hình thức (nguồn) của pháp luật chủ nô
Hình thức phổ biến của pháp luật chủ nô là tập quán pháp. Nhà nước chủ nô thừa
nhận những tập quán xã hội cộng sản nguyên thuỷ thành pháp luật và bảo đảm cho chúng
được thực hiện bằng pháp luật.
- Ngoài tập quán pháp, các quyết định của cơ quan nhà nước chủ nô và cá nhân chủ
nô khi giải quyết một trường hợp cụ thể cũng được thừa nhận là khuôn mẫu để giải quyết
các trường hợp tương tự.
25